Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 7- HÀ NỘI

Bản án số: 129/2025/HSST

Ngày: 27-10-2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do - Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7- HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà:

Ông Thịnh Quang Thắng

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Hồng

Bà Nguyễn Thị Hương

- Thư ký phiên toà: Ông Tô Ngọc Lâm – Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 7 - Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7- Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Tạ Quốc Tuấn- Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 10 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 7 - Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 316/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

1. Họ và tên: Đặng Đình C, Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 14 tháng 02 năm 1992, tại Hà Nội. Nơi cư trú: thôn L, xã N, huyện Đ, Hà Nội cũ (Nay là thôn L, xã P, thành phố Hà Nội). Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Không. Trình độ học vấn: 12/12. Họ và tên cha: ông Đặng Đình C1 và bà bà Nguyễn Thị H. Vợ: Nguyễn Thị L. Con: Có 02 con, (con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2018).

Tiền án:

  • - Ngày 20/7/2022, Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình xử phạt 12 năm tù về tội Giết người, quy định tại khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự và 01 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng, quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự. (Bản án số 26/HSST).
  • - Ngày 22/12/2022, Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, Hà Nội xử phạt 09 năm 06 tháng tù về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, quy định tại khoản 3 Điều 175 Bộ luật Hình sự. (Bản án số 248/HSST).
  • - Ngày 27/2/2025, Toà án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt bị cáo 09 năm 06 tháng tù về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Tổng hợp hình phạt của bản án này với hình phạt theo Quyết định số 01/2023/QĐ-TH ngày 28/2/2023 của Chánh án Toà án nhân dân tỉnh Hoà Bình. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 30 năm tù.

Tiền sự: Không. Hiện đang chấp hành án tại Trại giam V, Bộ C4. Có mặt tại phiên toà.

2. Người bị hại: Anh Nguyễn Văn L1, sinh năm 1990, trú tại thôn T, xã M, huyện S, Hà Nội (Nay là thôn T, xã K, Hà Nội); Vắng mặt.

3. Người có quyền, nghĩa vụ liên quan:

  • 3.1. Anh Nguyễn Mạnh C2, sinh năm 1990, cư trú: Số G, thôn T, xã N Hà Nội; chỗ ở: Khu đô thị L, thị trấn Q, huyện M, Hà Nội; Vắng mặt.
  • 3.2. Công ty cổ phần T; trụ sở: Số G, thôn T, xã N Hà Nội do chị Lê Thị Trang N là giám đốc làm đại diện. Đại diện theo uỷ quyền: Anh Nguyễn Mạnh C2, sinh năm 1990, cư trú: Khu đô thị L, thị trấn Q, huyện M, Hà Nội; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần tiền để tiêu sài cá nhân nên ngày 20/11/2020, Đặng Đình C, sinh năm 1992, trú tại thôn L, xã N, huyện Đ, Hà Nội nhờ Nguyễn Văn C3, sinh năm 1990, trú tại thôn B, xã T, huyện S, Hà Nội đặt vấn đề với anh Nguyễn Văn L1, sinh năm 1990, trú tại thôn T, xã M, huyện S, Hà Nội để C vay tiền, anh L1 đồng ý.

Sáng ngày 21/11/2020, Đặng Đình C đến nhà anh Nguyễn Mạnh C2, sinh năm 1990, ở Khu đô thị L, thị trấn Q, huyện M, Hà Nội mượn 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu Hyundai Kona, BKS 30F - 866.86 (đăng ký xe mang tên Công ty cổ phần T do vợ anh C2 là chị Lê Thị Trang N, sinh năm 1991 làm Giám đốc), anh C2 đồng ý và giao xe cùng chìa khóa điện xe ô tô cho C. Sau khi mượn xe, C điều khiển xe ô tô đi đến cửa hàng cầm đồ của anh L1 tại thôn T, xã M vay tiền. Tại cửa hàng nhà anh L1, C ký vào 01 giấy vay tiền 220.000.000đ và thế chấp chiếc xe ô tô Kona BKS: 30F - 866.86 đồng thời đưa 01 giấy tờ xe (bản phô tô) và chìa khóa xe ô tô cho anh L1. Anh L1 chuyển khoản vào tài khoản ngân hàng cho C 140.000.000 đồng và 20.000.000 đồng C nhờ anh L1 chuyển trả nợ C3 20.000.000đ, còn lại anh L1 đưa tiền mặt cho C. Sau khi giao tiền cho C, anh L1 dùng xe ô tô Kona chở C sang phường X, TP P, tỉnh Vĩnh Phúc rồi quay về cất xe ô tô tại cửa hàng của mình, anh L1 kéo cửa cuốn xuống nhưng không khóa cửa do khóa bị hỏng, còn chìa khóa xe ô tô anh L1 cất giữ.

Cùng ngày 21/11/2020, anh Nguyễn Mạnh C2 điện thoại cho Đặng Đình C để đòi xe thì C nói đã bị mất chìa khoá, C hỏi mượn anh C2 chìa khoá sơ cua (chìa khoá thứ 2), anh C2 đồng ý. Đến khoảng 18 giờ ngày 21/11/2020, C đến nhà anh C2 mượn chiếc chìa khoá sơ cua rồi quay lại nhà anh L1 điều khiển xe ô tô Kona về trả lại cho anh C2.

Sáng ngày 22/11/2020, anh L1 ra cửa hàng thì phát hiện không thấy chiếc xe ô tô trên đâu nên đã gọi điện hỏi C3. Biết tin C3 nhắn tin hỏi C, C thông báo đã đến lấy chiếc xe ô tô trên trả cho anh C2 nên anh L1 đã đến Công an huyện S trình báo sự việc.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 04 ngày 25/01/2021 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện S, kết luận: 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu Hyundai Kona, BKS 30F - 866.86 tại thời điểm bị chiếm đoạt có trị giá 492.000.000₫.

Vật chứng thu giữ: Anh Nguyễn Văn L1 giao nộp: 01 vỏ móc khoá bao da đựng khoá điện xe ô tô, trên bao da có ký tự “HYUNDAI”, có tổng chiều dài 15 cm. 01 khoá điện điều khiển ô tô, khoá điện có chiều dài 07 cm, trên thân khoá điện có biểu tượng hãng xe “HYUNDAI”.

Về bồi thường dân sự: Anh Nguyễn Văn L1 yêu cầu C bồi thường 220.000.000 đồng; anh Nguyễn Mạnh C2, chị Lê Thị Trang N không yêu cầu bồi thường dân sự và từ chối nhận lại khoá điện xe ô tô.

Đối với hành vi mượn xe ô tô đem đi cầm cố của Đặng Đình C: Trên cơ sở lời khai của anh Nguyễn Văn L1, 01 giấy vay tiền có nội dung thế chấp tài sản xe ô tô thì hành vi của C có dấu hiệu Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Quá trình điều tra, C không thừa nhận việc cầm cố xe ô tô cho anh L1, C vay tiền anh L1 và nội dung giấy vay tiền có thế chấp xe ô tô chỉ là hình thức để đảm bảo cho khoản vay. Ngoài ra, ngay trong ngày sau khi mượn xe của anh C2 thì C đã mang xe trả lại cho anh C2 nên không đủ cơ sở xác định C có hành vi chiếm đoạt chiếc xe ô tô của anh C2. Giao dịch giữa anh C2 với L1 là thỏa thuận dân sự nên Cơ quan CSĐT - Công an huyện S (nay là Cơ quan CSĐT - Công an T1) không đề cập xử lý trong vụ án này.

Tại cáo trạng số 302/VKS-HS ngày 29 tháng 11 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7- Hà Nội đã truy tố Đặng Đình C về tội “Trộm cắp tài sản” theo Điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 – Hà Nội giữ quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích nội dung, tính chất của vụ án, một lần nữa khẳng định việc truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật như cáo trạng đã nêu là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm a khoản 3 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 56 Bộ luật hình sự; xử phạt: Đặng Đình C với mức án từ 9 năm 6 tháng tù đến 10 năm tù. Tổng hợp hình phạt của bản án này với hình phạt tại Bản án án hình sự sơ thẩm số 32/2025/HSST ngày 27/02/2025 của Toà án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 30 (Ba mươi) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/11/2021.

- Về phần dân sự: Buộc bị cáo phải trả lại anh Nguyễn Văn L1 số tiền 160.000.000₫.

- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 01 vỏ móc khoá bao da đựng khoá điện xe ô tô, trên bao da có ký tự “HYUNDAI”, có tổng chiều dài 15 cm. 01 khoá điện điều khiển ô tô, khoá điện có chiều dài 07 cm, trên thân khoá điện có biểu tượng hãng xe "HYUNDAI”.

* Tại phiên toà bị cáo Đặng Đình C thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu và đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố T1, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7-Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Vì vậy, các quyết định, hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của người bị hại và người có quyền, nghĩa vụ liên quan: Xét lời khai của người bị hại và người có quyền, nghĩa vụ liên quan đã có đầy đủ trong quá trình điều tra. Việc vắng mặt của người bị hại và người có quyền, nghĩa vụ liên quan không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vắng mặt người bị hại và người có quyền, nghĩa vụ liên quan.

[3] Tại phiên toà bị cáo khai nhận: Chiều tối ngày 21/11/2020, tại thôn T, xã M, huyện S, Hà Nội, bị cáo đã lợi dụng sơ hở, lén lút trộm cắp 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu Hyundai Kona, BKS 30F - 866.86 thuộc quyền quản lý của anh Nguyễn Văn L1, trị giá tài sản là 492.000.000₫

[4] Xét lời khai nhận của bị cáo phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, lời khai của người làm chứng, các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở xác định bị cáo Đặng Đình C phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định Điểm a khoản 3 Điều 173 của Bộ luật hình sự như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7- Hà Nội truy tố bị cáo là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

Điều 173 quy định:

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng [...], thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

...

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[5.1] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

[5.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân, gây mất an ninh trật tự ở địa phương. Bản thân bị cáo nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng xuất phát từ động cơ tư lợi, muốn có tiền tiêu xài một cách dễ dàng nhưng không muốn bỏ công sức lao động nên bị cáo đã cố ý phạm tội. Căn cứ tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhiều tiền án bị Toà án xử về tội xâm phạm sở hữu. Bị cáo không nhận thức được mà vẫn cố tình phạm tội. Do đó, cần phải có mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[6] Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7] Về phần bồi thường dân sự: Quá trình điều tra, Anh Nguyễn Văn L1 yêu cầu C bồi thường 220.000.000 đồng; anh Nguyễn Mạnh C2, chị Lê Thị Trang N không yêu cầu bồi thường dân sự và từ chối nhận lại khoá điện xe ô tô. Hội đồng xét xử nhận thấy, trong quá trình điều tra, tại phiên toà hôm nay bị cáo chỉ thừa nhận vạy của anh L1 160.000.000₫. Anh L1 cũng thừa nhận là có chuyển khoản cho bị cáo 160.000.000đ, còn 60.000.000₫ anh L1 đưa tiền mặt cho bị cáo nhưng không có tài liệu chứng cứ nào chứng minh anh L1 đưa tiền mặt cho bị cáo. Do đó chỉ có cơ sở bị cáo nhận của anh L1 160.000.000đ. Do đó, buộc bị cáo phải trả lại 160.000.000đ cho anh L1.

[8] Về vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 01 vỏ móc khoá bao da đựng khoá điện xe ô tô, trên bao da có ký tự “HYUNDAI”, có tổng chiều dài 15 cm. 01 khoá điện điều khiển ô tô, khoá điện có chiều dài 07 cm, trên thân khoá điện có biểu tượng hãng xe “HYUNDAI”.

[9] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật và án phí DSST.

[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, những người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo bản án theo quy định Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Đặng Đình C phạm tội “ Trộm cắp tài sản ”.

Căn cứ vào:

  • - Điểm a khoản 3 Điều 173; điểm s khoản 1; Điều 38; Điều 55, 56; Bộ luật hình sự.
  • - Điều 160, Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

1. Xử phạt: Đặng Đình C 09 (chín) năm 06 (sáu) tháng tù.

Tổng hợp hình phạt của bản án này với hình phạt tại Bản án án hình sự sơ thẩm số 32/2025/HSST ngày 27/02/2025 của Toà án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 30 (Ba mươi) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/11/2021.

2. Về phần dân sự: Buộc bị cáo phải trả lại anh Nguyễn Văn L1 số tiền 160.000.000đ (một trăm sáu mươi triệu đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án không thi hành các khoản tiền trên thì phải chịu lãi đối với số tiền chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

4. Về vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 01 vỏ móc khoá bao da đựng khoá điện xe ô tô, trên bao da có ký tự “HYUNDAI”, có tổng chiều dài 15 cm. 01 khoá điện điều khiển ô tô, khoá điện có chiều dài 07 cm, trên thân khoá điện có biểu tượng hãng xe “HYUNDAI”.

Tình trạng vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/12/2024 giữa Công an huyện S nay là Công an T1) với Chi cục thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn (nay là Phòng THA dân sự khu vực 7).

4. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 8.000.000đ án phí dân sự sơ thẩm để sung công quỹ nhà nước.

5. Án xử công khai, sơ thẩm. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án. Người bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ. Người có quyền, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản về phần có liên quan trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Nơi nhận:

  • - VKSND Khu vực 7-Hà Nội;
  • - VKSND TP. Hà Nội;
  • - Cơ quan THA TP Hà Nội;
  • - Công an TP Hà Nội.
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Thịnh Quang Thắng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 129/2025/HSST ngày 27/10/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7- HÀ NỘI về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 129/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/10/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7- HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chiều tối ngày 21/11/2020, tại thôn T, xã M, huyện S, Hà Nội, bị cáo đã lợi dụng sơ hở, lén lút trộm cắp 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu Hyundai Kona, BKS 30F - 866.86 thuộc quyền quản lý của anh Nguyễn VănL, trị giá tài sản là 492.000.000đ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger