Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN BẮC TỪ LIÊM

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Bản án số:129/2025/HSST

Ngày 19/06/2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Loan;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Minh Tuấn

Bà Vũ Thị Thanh Hương.

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Vân - Thư ký Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương, Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 06 năm 2025, trụ sở Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 108/2025/TLST-HS, ngày 14/05/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 116/2025/QĐXXST-HS 09/06/2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đặng Trần T, sinh năm 1997 tại B, Hà Nội; Giới tính: Nam; Nơi thường trú và cư trú: Tổ dân phố T, phường T, quận B, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 8/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Họ tên bố: Đặng Trần H, sinh năm 1973; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Họ tên mẹ: Nguyễn Thị T1; Sinh năm 1971; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Họ tên vợ: Phạm Thị L, sinh năm 1997; Có 02 con (Con lớn sinh năm 2018; con nhỏ sinh năm 2020); D chỉ bản số 04 do Công an quận B lập ngày 23/12/2024; Tiền án, tiền sự: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 429/2022/HSST ngày 28/9/2022, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội và Bản án hình sự phúc thẩm số 77/2023/HSPT ngày 17/02/2023, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xử phạt bị cáo 12 tháng tù về tội Cố ý làm hư hỏng tài sản; Bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 03/02/2024 và các quyết định khác của bản án; Bị bắt trong trường hợp quả tang ngày 15/12/2024, tạm giữ, tạm giam đến nay tại Trại tạm giam số 1, Công an thành phố H; Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

2

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 00' ngày 14/12/2024, bị cáo Đặng Trần T đang ở nhà thì có tài khoản Zalo tên “Cẩm L1” nhắn tin hỏi mua 01 chỉ ma túy Ketamine và 03 viên ma túy kẹo. Bị cáo T đồng ý bán với giá 3.200.000 đồng. Hai bên hẹn giao nhận tại sảnh tòa nhà S, khu đô thị G city, phường P, quận B, Hà Nội. Sau đó “Cẩm L1” chuyển khoản số tiền 3.200.000 đồng từ tài khoản số 82888383699 mở tại Ngân hàng TMCP K (T4) mang tên NGUYEN VAN TUAN đến tài khoản số [...] mở tại Ngân hàng TMCP C của bị cáo T. Nhận được tiền, bị cáo T vào mạng xã hội Telegram hỏi mua của một người không biết quen 01 chỉ ma túy Ketamine và 03 viên ma túy kẹo với giá 2.700.000 đồng và hẹn giao hàng tại chợ Đ, thuộc phường M, quận B, Hà Nội để nhận ma túy. Đến 23h30' cùng ngày, bị cáo T đến điểm hẹn gặp một người đàn ông (không xác định được nhân thân) nhận 01 túi nilon màu trắng KT (4x6)cm bên trong chứa 03 viên nén màu cam; 01 túi nilon màu trắng KT (3x3) cm bên trong chứa tinh thể màu trắng. Bị cáo cất số ma túy trên vào túi áo khoác, bắt xe taxi đi đến sảnh tòa S khu đô thị G city để giao hàng. Hồi 00 giờ 10 phút ngày 15/12/2024, khi bị cáo T đang đang chờ người mua để giao hàng tại khu vực sảnh tòa nhà S4, khu đô thị G city, phường P, quận B, thành phố Hà Nội nhưng chưa kịp gặp người mua thì bắt quả tang cùng vật chứng.

Vật chứng thu giữ của bị cáo T: 01 túi nilon màu trắng KT (4x6)cm bên trong chứa 03 viên nén màu cam; 01 túi nilon màu trắng KT (3x3) cm bên trong chứa tinh thể màu trắng; 01 điện thoại di động kiểu dáng Samsung màu xanh vỡ mặt kính phía trước, lắp số thuê bao 0976.615xxx đã qua sử dụng.

* Tại Kết luận giám định số 8799/KL-KTHS ngày 24/12/2024, Phòng K1 - Công an T kết luận: 01 túi nilon bên trong có 03 viên nén màu cam đều là ma túy loại MDMA có tổng khối lượng 1,091 gam; Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon là ma túy loại Ketamine có khối lượng 1,302 gam

Xét nghiệm ma túy trong người Đặng Trần T: kết quả (+) với ma túy MDMA, Metthamphetamine.

Công an quận B rà soát camera, tìm người mua ma túy của bị cáo tại sảnh tòa S4, khu đô thị G nhưng không phát hiện được đối tượng nào.

Số tài khoản 82888383699 tại T4 có chủ tài khoản là: Nguyễn Văn T2, sinh ngày 25/07/1987; Địa chỉ: T, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Anh T3 trình bày: khoảng 22h30' ngày 14/12/2024, khi anh T3 đang ngồi uống nước ở đường V thì có 01 người nam giới đeo khẩu trang (không rõ mặt, không biết tên tuổi, địa chỉ) đi tới nhờ anh T3 chuyển khoản hộ số tiền 3.200.000 đồng và anh ta đưa tiền mặt cho anh T3. Anh T3 không biết việc chuyển khoản trên nhằm mục đích gì nên không có căn cứ xử lý.

3

Tại Cáo trạng số 106/CT-VKS, ngày 12/5/2025, Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm đã truy tố bị cáo Đặng Trần T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 251; Điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo T với mức án từ 40 – 45 tháng tù; Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; Buộc bị cáo nộp 500.000 đồng tiền thu lời bất chính sung công quỹ; Tịch thu tiêu hủy số ma túy đã thu giữ; Tịch thu sung công quỹ 01 điện thoại di động kiểu dáng Samsung màu xanh vỡ mặt kính phía trước, lắp số thuê bao 0976.615xxx đã qua sử dụng, thu giữ của bị cáo.

Căn cứ vào các tài liệu và chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, hành vi, quyết định tố tụng được thực hiện theo đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục, đúng các quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có khiếu nại, tố cáo đối với quyết định, hành vi tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó quyết định, hành vi tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án là hợp pháp.

[2]. Về tội danh, khung hình phạt:

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đủ căn cứ xác định: Hồi 00h10 phút ngày 15/12/2024, tại khu vực sảnh tòa nhà S, khu đô thị G city, phường P, quận B, Hà Nội, bị cáo Đặng Trần T có hành vi bán trái phép 03 viên nén màu cam đều là ma túy loại MDMA có tổng khối lượng 1,091 gam, 01 túi nilon là ma túy loại Ketamine có khối lượng 1,302 gam cho người sử dụng tài khoản Zalo “C” thì bị bắt giữ quả tang cùng vật chứng. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt áp dụng đối với bị cáo được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

[3]. Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm sự độc quyền của Nhà nước trong việc mua bán, kiểm soát, quản lý các chất gây nghiện được luật hình sự bảo vệ. Hành vi bán trái phép chất ma túy cho người khác của bị cáo còn là nguyên nhân gây ra nhiều hành vi vi phạm pháp luật khác, gây mất trật tự trị an địa phương, việc sử

4

dụng ma túy ảnh hưởng xấu đến sức khỏe người sử dụng. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, nhận thức được hành vi phạm tội của mình nhưng vì tư lợi vẫn thực hiện.

[4]. Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

4.1. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, tại phiên tòa, bị cáo có thái độ ăn năn hối lỗi với hành vi của mình gây ra. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

4.2. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 77/2023/HSPT ngày 17/02/2023, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xử phạt bị cáo 12 tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 03/02/2024 và các quyết định khác của bản án nhưng chưa được xóa án theo quy định tại Điều 70 của Bộ luật Hình sự (02 năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt) nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm”quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

4.3. Về nhân thân: Bị cáo là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy.

[5]. Về hình phạt:

5.1. Về hình phạt chính: Xét hành vi phạm tội, tính chất tội phạm, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

5.2. Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có công việc, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6]. Về các vấn đề khác

6.1. Về số tiền thu lời bất chính: Bị cáo đã nhận số tiền 3.200.000 đồng để bán ma túy cho đối tượng mua ma túy và đã sử dụng số tiền 2.700.000 đồng để mua ma túy về bán lại do đó bị cáo hưởng lợi số tiền 500.000 đồng. Cần buộc bị cáo phải nộp lại số tiền thu lời bất chính nay sung công quỹ.

6.2. Về vật chứng: Số ma túy bị cáo mua bán trái phép, không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy. Chiếc điện thoại di động kiều dáng Samsung màu xanh vỡ mặt kính phía trước, lắp số thuê bao 0xxx.615.856 đã qua sử dụng, thu giữ của bị cáo, là phương tiện bị cáo dùng để liên lạc mua bán ma túy, liên quan đến tội phạm, có giá trị sử dụng, cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

6.3. Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và mức án phí phải nộp quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

5

  1. Tuyên bố bị cáo Đặng Trần T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  2. Về Điều luật áp dụng: Khoản 1 Điều 251; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 47 của Bộ luật hình sự; Các điều 136, 168, 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
  3. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đặng Trần T 39 (Ba mươi chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/12/2024.
  4. Các vấn đề khác
    1. Buộc bị cáo phải nộp 500.000 đồng thu lời bất chính sung công quỹ.
    2. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong bên trong có chứa ma túy đã giám định, bên ngoài có chữ ký giáp lai của Đặng Trần T, giám định viên và cán bộ công an; Tịch thu sung quỹ 01 điện thoại di động kiểu dáng Samsung màu xanh, vỡ mặt kính phía trước lắp số thuê bao 0976.615. xxx đã qua sử dụng. Chi tiết các vật chứng nêu trên theo biên bản giao nhận vật chứng số 188/25 ngày 02/6/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra và Chi cục thi hành án dân sự quận Bắc Từ Liêm.
    3. Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;;
  • - Tòa án nhân dân TP Hà Nội;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP Hà Nội;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Q. Bắc Từ Liêm;
  • - Công an quận Bắc Từ Liêm;
  • - Chi cục THADS Q. Bắc Từ Liêm;
  • - Sở Tư pháp TP Hà Nội;
  • - Lưu hồ sơ; Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thanh Loan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 129/2025/HSST ngày 19/06/2025 của Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội về hình sự - mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 129/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngày 15/12/2024, bị cáo Đặng Trần Thái có hành vi bán trái phép chất ma túy tại Tòa nhà S, khu chung cư G, phường P, quận B, TP Hà Nội thì bị bắt quả tang cùng vật chứng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger