Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG NINH

Bản án số: 129/2025/HS-ST

Ngày: 30 - 10 - 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Duy Hải.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Anh Tuấn và ông Lê Phi Long.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thanh Hương- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Hoan- Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 10 năm 2025 tại Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 109/2025/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 115/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Bùi Văn T - sinh ngày 15/11/1985 tại tỉnh Quảng Ninh; nơi thường trú: khu Đ, phường M, tỉnh Quảng Ninh (trước đây là xã V, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh); nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Bùi Văn T1 (đã chết) và bà: Hoàng Thị V; có vợ là: Đặng Thị Hồng H và có 03 con, lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2023; tiền sự: không; tiền án: ngày 16/4/2024, bị Toà án nhân dân thành phố Móng Cái xử phạt 18 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng về tội “Huỷ hoại tài sản”; nhân thân: ngày 22/3/2007 bị Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội xử phạt 18 tháng tù về tội: “Gây rối trật tự công cộng”, đã chấp hành xong bản án.

Bị cáo bị bắt quả tang ngày 19/5/2025, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q, có mặt.

- Người chứng kiến: Bà Hoàng Thị P, sinh năm 1967, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng đầu tháng 5/2025, Bùi Văn T được 01 nam thanh niên tên N (không rõ thông tin, lai lịch) thuê điều khiển xuồng chở xăng dầu từ khu vực cảng M, phường B, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh (nay là phường M, tỉnh Quảng Ninh) về khu vực cồn cát mũi S, phường T, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh (nay là phường M, tỉnh Quảng Ninh) với tiền công 1.000.000₫ /1 chuyến. T đồng ý và được N giao cho 01 xuồng máy cao tốc vỏ Composite màu ghi, dài 9 mét, rộng 2,2 mét, lắp 02 máy nhãn hiệu Suzuki, mỗi máy đều ghi trên vỏ 250 CV để vận chuyển xăng dầu. Sau khi chở thuê cho N được 3 chuyến xăng dầu, N đã thuê T điều khiển xuồng chở người Trung Quốc nhập cảnh trái phép với tiền công 3.000.000₫ (ba triệu đồng)/chuyến, T đồng ý thực hiện theo sự chỉ đạo của N.

Khoảng 12 giờ ngày 19/5/2025, N gọi cho T qua ứng dụng Zalo đặt tên là “A B” thông báo tối cùng ngày đi đón người Trung Quốc nhập cảnh trái phép vào Việt Nam. Khoảng 17 giờ cùng ngày, T đến khu vực cầu C bờ kè T, phường M, tỉnh Quảng Ninh và gọi qua ứng dụng Z (T đặt tên là A Ô) đến Zalo đặt tên “A Bố” của N bảo điều khiển xuồng vào bờ kè đón T. N giao xuồng cho T trực tiếp điều khiển rồi chỉ dẫn đường cho N đi đến khu vực quạt gió thuộc vùng biển Trung Quốc để chờ đón người Trung Quốc nhập cảnh trái phép. Đến khoảng 19 giờ 30 cùng ngày, có 01 chiếc xuồng màu ghi di chuyển từ phía Trung Quốc đến cập vào sát xuồng của N và T, giao 07 người Trung Quốc (gồm 06 nam giới và 01 nữ giới) đi sang xuống của T. Sau khi bàn giao người xong, N bào T điều khiển xuồng chờ số người Trung Quốc này vào khu vực đường mới thuộc khu Đ, phường M, tỉnh Quảng Ninh. Khoảng 20 giờ 10 phút, khi T điều khiển xuồng đến toạ độ 21°19′36″N, 107°53′06″E khu vực vùng biển thuộc xã V, tỉnh Quảng Ninh thì bị lực lượng Biên phòng phát hiện. T tăng tốc độ xuồng bỏ chạy đến khu vực đầu N1, khu dãy Núi Am vẫn trên địa bàn xã V thì lao xuồng lên bãi cát. T, N và tất cả người trên xuồng bỏ chạy, lực lượng Biên phòng truy đuổi và bắt được T cùng 04 người Trung Quốc nhập cảnh trái phép (gồm 03 nam giới và 01 nữ giới) là Ngô Tiểu H1, Dư Trung H2, Đại Thành C và Hùng Thái L còn đối tượng N và 03 người nam giới Trung Quốc còn lại bỏ chạy không bắt giữ được, T chưa được nhận tiền công từ N.

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà, Bùi Văn T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung vụ án đã nêu trên.

Tại Cáo trạng số 8093/CT-VKSQN-P1 ngày 29/9/2025, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã truy tố Bùi Văn T về tội: “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép” theo điểm c khoản 2 Điều 348 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh giữ nguyên Cáo trạng truy tố Bùi Văn T về tội: “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép” và đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng: điểm c khoản 2 Điều 348; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 5 Điều 65; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Văn T từ 06 năm đến 07 năm tù về tội “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép”, tổng hợp với hình phạt 18 tháng tù (cho hưởng án treo) về tội: “Huỷ hoại tài sản” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 32/2024/HS-ST ngày 16/4/2024 của Toà án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh, buộc bị cáo Bùi Văn T phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt 19/5/2025.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị:

- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 xuồng máy vò Composite màu ghi, lắp 02 máy nhãn hiệu Suzuki; 02 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen và màu xanh thu giữ của bị cáo T. Tịch thu tiêu huỷ 02 Sim điện thoại kèm theo điện thoại này.

Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh và bản luận tội của Kiêm sát viên.

Lời nói sau cùng: bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử khoan hồng giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Q, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi của bị cáo thể hiện: tại phiên toà bị cáo Bùi Văn T khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, do đó đủ cơ sở kết luận: Hồi 20 giờ 10 phút ngày 19/5/2025, tại toạ độ 21°19′36″N, 107°53′06″E thuộc vùng biên xã V, tỉnh Quảng Ninh (trước đây là xã V, thành phó M, tỉnh Quảng Ninh), Bùi Văn T đang tổ chức cho 07 người Trung Quốc nhập cảnh trái phép vào Việt Nam thì bị Lực lượng Biên phòng C1.

Hành vi nêu trên của bị cáo Bùi Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội: "Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép" quy định tại điểm c khoản 2 Điều 348 của Bộ luật Hình sự như Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính trong lĩnh vực nhập cảnh, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Do đó cần tuyên cho bị cáo một mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và đồng thời có tác dụng giáo dục răn đe, phòng ngừa chung.

[4] Về nhân thân: bị cáo có nhân thân xấu.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo phạm tội trong thời gian thừ thách của án treo nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

[5] Về mức hình phạt: khi lượng hình, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để thể hiện tính nhân đạo của pháp luật, nhưng dù có xem xét giảm nhẹ hình phạt tới đâu thì việc bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù là cần thiết để giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích.

Bị cáo phạm tội trong thời gian thử thách của bản án cho hưởng án treo trước đó, căn cứ khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử sẽ buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước đó và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào các tài liệu thu thập được trong quá trình điều tra, đủ cơ sở xác định bị cáo T phạm tội với vai trò đồng phạm với đối tượng tên N, tuy nhiên do chưa xác định được đối tượng N thuê bị cáo T nên bị cáo T phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về hành vi phạm tội của mình.

[6] Về hình phạt bổ sung: bị cáo không có công ăn việc làm ổn định, không có tài sản, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng:

- Đối với: 01 xuồng máy vò Composite màu ghi, có chiều dài khoảng 9,15m, chiều rộng khoảng 2,2m, chiều cao 0,90m, lắp 02 máy chính nhãn hiệu Suzuki, hình dáng giống nhau (01 máy trên vỏ có tem dán số 250, 01 máy trên vỏ tem dán bị rách chỉ còn số 50); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen thu giữ của T. Quá trình điều tra xác định xuồng máy là phương tiện phạm tội, điện thoại di động trên bị cáo sử dụng liên lạc việc phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước; 01 sim điện thoại kèm theo điện thoại này không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ.

- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xanh, lắp 01 sim thu giữ của Bùi Văn T, bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội cần trả lại cho bị cáo.

[8] Luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo về tội danh, điều khoản truy tố, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt đề nghị áp dụng là có căn cứ, phù hợp với nội dung của vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[9] Nội dung liên quan:

- Đối với đối tượng tên N và 03 người Trung Quốc bỏ chạy thoát, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ nên không có căn cứ xử lý.

- Đối với 04 người Trung Quốc đều chưa bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực xuất nhập cảnh trước đây nên không có cơ sở để xử lý hình sự. Cơ quan điều tra đã chuyển Đồn Biên phòng cửa khẩu V1 xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.

[10] Về án phí và quyền kháng cáo: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ: điểm c khoản 2 Điều 348; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 2 Điều 56; khoản 5 Điều 65; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: bị cáo: Bùi Văn T phạm tội: “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép".

Xử phạt: bị cáo Bùi Văn T 06 (sáu) năm tù về tội “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép”, tổng hợp với hình phạt 18 tháng tù (cho hưởng án treo) về tội “Huỷ hoại tài sản” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 32/2024/HS-ST ngày 16/4/2024 của Toà án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh (nay là Toà án nhân dân khu vực 6- Quảng Ninh), buộc bị cáo Bùi Văn T phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt 19/5/2025.

- Về xử lý vật chứng: áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

+ Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 xuồng máy vò Composite màu ghi, có chiều dài khoảng 9,15m, chiều rộng khoảng 2,2m, chiều cao 0,90m, lắp 02 máy chính nhãn hiệu Suzuki, hình dáng giống nhau (01 máy trên vỏ có tem dán số 250, 01 máy trên vỏ tem dán bị rách chỉ còn số 50); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen; tịch thu tiêu huỷ 01 Sim điện thoại kèm theo điện thoại này.

+ Trả lại cho bị cáo Bùi Văn T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xanh, + 01 sim.

(Tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 06 và 08 ngày 27 tháng 10 năm 2025, giữa Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh và Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Q).

- Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị Bùi Văn T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: căn cứ Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - CQANĐT + CQTHAHS Công an tỉnh Q.Ninh;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Q.Ninh;
  • - Toà phúc thẩm TAND tối cao tại Hà Nội
  • - Viện phúc thẩm 1 VKSND tối cao;
  • - THADS tỉnh Quảng Ninh;
  • - Phòng Hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh Q.Ninh;
  • - Lưu hồ sơ, VP, Tòa HS, THA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Duy Hải

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Lê Phi Long

Vũ Anh Tuấn

Phạm Duy Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 129/2025/HS-ST ngày 30/10/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH về tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép

  • Số bản án: 129/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/10/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Văn Tú phạm tội: “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép”.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger