|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 129/2025/HS-ST Ngày 20-8-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Trọng Hưng.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Tịnh Tâm.
- Bà Nguyễn Thị Kim Liên.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nội Thị Hảo, là Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 8, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Hoài Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 8, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 47/2025/TLST-HS ngày 22 tháng 7 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 102/2025/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 7 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Trần Thị Ngọc O; giới tính: Nữ; sinh năm 1987 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi thường trú: Nhà không số, KP38, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (Nay là phường Đ, Thành phố Hồ Chí Minh); Chỗ ở: Sống lang thang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 3/12; nghề nghiệp: Không; con ông: Trần Văn G và bà: Nguyễn Thị T; bị cáo có chồng Nguyễn Tuấn P và có 4 con (lớn nhất sinh năm 2004, nhỏ nhất sinh năm 2022); Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 29/01/2016, Toà án nhân dân quận Bình Tân ra Quyết định số 20/QĐ-TA về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, chấp hành xong ngày 22/3/2017;
Bị cáo bị tạm giữ chuyển tạm giam từ ngày 04/12/2024 tại trại tạm giam C (T30) cho đến nay; có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Hoàng Huy L; giới tính: Nam; sinh năm 1982 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi thường trú: 165/98 T, tổ C, Phường E, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (Nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh).; C ở: D ấp Đ, xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là xã B, Thành phố Hồ Chí Minh); quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ văn hóa: 08/12; nghề nghiệp: Không; con ông: Hoàng Văn T1 và bà: Bùi Thị T2; bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân:
- Ngày 25/01/2013, Ủy ban nhân dân Quận H1 ra Quyết định số 521/QĐ-UBND về việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh, chấp hành xong ngày 15/01/2015;
- Ngày 24/6/2019, Toà án nhân dân quận Bình Tân ra Quyết định số 358/QĐ-TA về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, chấp hành xong ngày 04/02/2021
Bị cáo bị tạm giữ chuyển tạm giam từ ngày 03/12/2024 tại trại tạm giam C (T30) cho đến nay; có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 23 giờ 00 ngày 03/12/2024, Công an xã B, huyện H kiểm tra hành chính nhà ở địa chỉ số D ấp Đ, xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh thì phát hiện bắt quả tang Hoàng Huy L có hành vi cất giấu 01 gói nylon chứa 01 hộp nhựa bên trong chứa chất bột (ký hiệu mẫu m). Tại Cơ quan điều tra, L khai nhận nghiện ma tuý từ năm 2013. Nguồn ma tuý L mua của Trần Thị Ngọc O ở gần khu vực bến xe A, Quận A với giá 1.500.000 đồng để sử dụng.
Vào lúc 21 giờ 00 phút ngày 04/12/2024, tổ công tác Công an xã B tổ chức tuần tra địa bàn, khi đến trước địa chỉ D ấp Đ, xã B phát hiện Trần Thị Ngọc O đang điều khiển xe máy hiệu Yamaha màu xanh biển số 51L1-0519 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra bắt quả tang O có hành vi cất giấu trong túi quần trước bên phải gồm: 01 gói nylon bên trong có chứa chất bột (ký hiệu mẫu m1); 01 gói nylon chứa 07 đoạn ống hút nhựa hàn kín hai đầu bên trong chứa chất bột (ký hiệu mẫu m2); 01 gói nylon chứa 04 đoạn ống hút nhựa hàn kín hai đầu bên trong chứa chất bột (ký hiệu mẫu m3); 01 gói nylon bên trong chứa tinh thể (ký hiệu mẫu m4).
Tại Cơ quan điều tra O khai nghiện ma tuý lâu năm, hiện tại O làm nghề lượm ve chai, không có nơi cư trú ổn định. Do thiếu tiền tiêu xài nên bắt đầu bán ma tuý từ tháng 11/2024. Nguồn ma túy O mua của một người thanh niên (chưa rõ lai lịch) với giá 2.000.000 đồng ở khu vực chân cầu vượt A, Quận A. Sau đó, O chia nhỏ số ma tuý để bán lại cho người nghiện kiếm lời. Số tiền thu lợi bất chính của O từ việc mua bán ma tuý là khoảng 3.000.000 đồng. O đã bán ma tuý cho L được 03 lần, mỗi lần bán với giá 1.500.000 đồng tại khu vực đồng mã gần bến xe A, Quận A, cụ thể: Lần thứ nhất, vào khoảng 19 giờ 00 phút ngày 13/11/2024; lần thứ hai, vào khoảng 19 giờ 00 phút ngày 22/11/2024; lần cuối cùng, vào khoảng 13 giờ ngày 02/12/2024. Đến ngày 04/12/2024, thì bị Công an kiểm tra phát hiện và bắt giữ như nêu trên.
O và L khai nhận hành vi phạm tội, lời khai của O và L là phù hợp với nhau.
Kết luận giám định số 14554/KL-KTHS ngày 12/12/2024 của Phòng K Công an Thành phố H xác định:
- Chất bột được ký hiệu mẫu m1 cần giám định (đã nêu ở mục II.1) là ma tuý ở thể rắn, có khối lượng 3,7894g, loại Heroin.
Kết luận giám định số 14502/KL-KTHS ngày 12/12/2024 của Phòng K Công an Thành phố H xác định:
Bột được ký hiệu mẫu m cần giám định (đã nêu ở mục II.1) là ma tuý ở thể rắn, có khối lượng 0,5921g, loại Heroin. (BL số 142)
Kết quả xét nghiệm chất ma tuý: Trần Thị Ngọc O và Hoàng H Linh dương tính với ma tuý trong cơ thể (BL số 81, 98).
Vật chứng thu giữ:
* Thu giữ của Trần Thị Ngọc O:
- Gói niêm phong số 2 vụ 4623/24, bên ngoài gói có dấu vân tay, chữ ký chữ viết họ tên Trần Thị Ngọc O, bên trong là ma tuý còn lại sau giám định;
- 01 (một) xe gắn máy hiệu Yamaha màu xanh biển số 51L1-0519, số khung: 5SD208621; số máy: 5SD208621; Kết luận giám định số 292/KL-KTHS ngày 26/12/2024 của Phòng K Công an Thành phố H kết luận số khung, số máy nguyên thuỷ, không bị đục lại số (BL số 151). Qua xác minh xe máy này do ông Phan Thành R (HKTT: 2 D, Phường R, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh) đứng tên chủ sở hữu. Qua xác minh, ông R đã bán xe nêu trên cho một người đàn ông tên N, lúc bán xe không thực hiện thủ tục sang tên chủ sở hữu. O mua chiếc xe nêu trên của một người đàn ông (chưa rõ lai lịch) với giá 4.000.000 đồng và không làm thủ tục sang tên. O sử dụng xe nêu trên để mua bán ma tuý;
- 01 điện thoại di động hiệu Masstel izi 10, số IMEI 1: 352766245168768, số IMEI 2: 352766245168794, đã qua sử dụng; O sử dụng để liên lạc mua bán ma tuý;
* Thu giữ của Hoàng Huy L:
- Gói niêm phong số 1 vụ 4599/24, bên ngoài gói có dấu vân tay, chữ ký chữ viết họ tên Hoàng Huy L, bên trong là ma tuý còn lại sau giám định;
- 01 điện thoại di động hiệu Samsung A90, số IMEI: 358365101799679, đã qua sử dụng; L sử dụng để liên lạc mua ma túy;
Tại bản Cáo trạng số 160/CT-VKS-HM ngày 24/4/2025, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố các bị cáo:
Trần Thị Ngọc O, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Hoàng Huy L, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa trình bày lời luận tội giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:
- Tuyên bố bị cáo Trần Thị Ngọc O phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Bị cáo Hoàng Huy L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
- Áp dụng điểm b, p khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Trần Thị Ngọc O mức hình phạt từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng đến 08 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Thời hạn từ tính từ ngày 04/12/2024.
- Phạt bổ sung bị cáo từ 5.000.000 (năm triệu) đồng đến 10.000.000 (mười triệu) đồng sung vào ngân sách nhà nước.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Hoàng Huy L mức hình phạt từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
- Về vật chứng thu giữ:
Đề nghị tịch thu và tiêu hủy:
- 01 (một) gói niêm ghi vụ 4623/24, bên ngoài gói có dấu vân tay màu đỏ, chữ ký chữ viết họ tên Trần Thị Ngọc O (người bị bắt) và hình dấu Công an xã B, huyện H, bên trong là ma tuý còn lại sau giám định;
- 01 (một) gói niêm phong ghi vụ 4599/24, bên ngoài gói có dấu vân tay màu đỏ, chữ ký chữ viết họ tên Hoàng Huy L (người bị bắt) và hình dấu Công an xã B, huyện H, bên trong là ma tuý còn lại sau giám định;
Đề nghị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước:
- 01 điện thoại di động hiệu Masstel izi 10, số IMEI 1: 352766245168768, số IMEI 2: 352766245168794, đã qua sử dụng;
- 01 điện thoại di động hiệu Samsung A90, số IMEI: 358365101799679, đã qua sử dụng;
- Đối với 01 (một) xe gắn máy hiệu Yamaha, màu xanh biển số 51L1-0519, số khung: 5SD2-08621; số máy: 5SD2-08621; Kết luận giám định số 292/KL-KTHS ngày 26/12/2024 của Phòng K Công an Thành phố H kết luận số khung, số máy nguyên thuỷ, không bị đục lại số (BL số 151). Qua xác minh xe máy này do ông Phan Thành R (HKTT: 2 D, Phường R, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh) đứng tên chủ sở hữu. Qua xác minh, ông R đã bán xe nêu trên cho một người đàn ông tên N, lúc bán xe không thực hiện thủ tục sang tên chủ sở hữu. O mua chiếc xe nêu trên của một người đàn ông (chưa rõ lai lịch) với giá 4.000.000 đồng và không làm thủ tục sang tên. O sử dụng xe nêu trên để mua bán ma tuý là tài sản không xác định được chủ sở hữu hợp pháp nên cần thông báo truy tìm trên phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn luật định, hết thời hạn không ai đến nhận thì tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận với Viện kiểm sát và trong lời nói sau cùng các bị cáo đã ăn năn, hối cải về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại. Vì vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Trần Thị Ngọc O đã khai nhận toàn bộ hành vi mua bán trái phép chất ma túy; Bị cáo Hoàng Huy L đã khai nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy bị cơ quan cảnh sát điều tra bắt quả tang, thu giữ cùng vật chứng; nội dung các bị cáo khai nhận phù hợp với bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố.
Đối chiếu lời khai nhận của các bị cáo Trần Thị Ngọc O, Hoàng Huy L tại Cơ quan Cảnh sát điều tra và lời khai qua xét hỏi công khai tại phiên tòa phù hợp với nhau và phù hợp với: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, các biên bản (tạm giữ đồ vật - tài liệu; niêm phong và mở niêm phong vật chứng), lời khai của người chứng kiến; cùng các tài liệu, biên bản về hoạt động tố tụng khác của Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu thập có tại hồ sơ vụ án.
Đã có đủ cơ sở để kết luận: Vào ngày 04/12/2024, tại địa chỉ D ấp Đ, xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo Trần Thị Ngọc O đã có hành vi cất giấu 4,2372g ma túy ở thể rắn, loại Heroin và 1,1616g ma tuý ở thể rắn, loại Methamphetamine mục đích để bán cho người nghiện thì bị bắt quả tang. Trước đó, bị cáo O đã bán ma tuý cho bị cáo L được 03 lần, cụ thể: Lần thứ nhất, vào khoảng 19 giờ 00 phút ngày 13/11/2024; lần thứ hai, vào khoảng 19 giờ 00 phút ngày 22/11/2024; lần cuối cùng, vào khoảng 13 giờ 00 phút ngày 02/12/2024.
Vào ngày 03/12/2024, tại nhà ở địa chỉ số D ấp Đ, xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo Hoàng Huy L đã có hành vi cất giấu 0,5921g ma túy ở thể rắn, loại Heroin mục đích sử dụng thì bị bắt quả tang thu giữ cùng vật chứng.
Toàn bộ vật chứng là chất ma túy thu giữ theo kết luận giám định số 14554/KL-KTHS ngày 12/12/2024 của Phòng K Công an Thành phố H xác định:
- Chất bột được ký hiệu mẫu m1 cần giám định (đã nêu ở mục II.1) là ma tuý ở thể rắn, có khối lượng 3,7894g, loại Heroin.
- Chất bột được ký hiệu mẫu m2 cần giám định (đã nêu ở mục II.1) đều là ma tuý ở thể rắn, có tổng khối lượng 0,3682g, loại Heroin.
- Chất bột được ký hiệu mẫu m3 cần giám định (đã nêu ở mục II.1) đều là ma tuý ở thể rắn, có tổng khối lượng 0,1096g, loại Heroin.
- Tinh thể được ký hiệu mẫu m4 cần giám định (đã nêu ở mục II.1) là ma tuý ở thể rắn, có khối lượng 1,1616g, loại Methamphetamine. (BL số 147)
Kết luận giám định số 14502/KL-KTHS ngày 12/12/2024 của Phòng K Công an Thành phố H xác định:
Bột được ký hiệu mẫu m cần giám định (đã nêu ở mục II.1) là ma tuý ở thể rắn, có khối lượng 0,5921g, loại Heroin. (BL số 142)
Như vậy, với khối lượng chất ma túy ở thể rắn đã mua bán bị thu giữ, số lần bán trái phép chất ma túy cho bị cáo L; với khối lượng chất ma túy cất giấu nhằm mục đích sử dụng cho bản thân, được cơ quan tiến hành tố tụng điều tra chứng minh trong vụ án và hành vi nêu trên của các bị cáo, có cơ sở xác định:
- Bị cáo Trần Thị Ngọc O phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mua bán trái phép chất ma túy ba lần và hai chất ma túy trong đó có 4,2372g ma túy ở thể rắn, loại Heroin và 1,1616g ma tuý ở thể rắn, loại Methamphetamine; Nên bị cáo Trần Thị Ngọc O đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt quy định tại điểm b,p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), thuộc trường hợp “ Phạm tội 02 lần trở lên” và “Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm h đến điểm o khoản này”.
- Bị cáo Hoàng Huy L phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy ở thể rắn với khối lượng 0,5921g ma túy ở thể rắn, loại Heroine. Nên bị cáo Hoàng Huy L đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), thuộc trường hợp “Heroine, C1, Methamphetamine, A, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
Hành vi phạm tội của bị cáo Trần Thị Ngọc O là rất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo Hoàng Huy L là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, là nguyên nhân làm gia tăng các loại tội phạm về ma túy và tệ nạn xã hội khác, gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương. Các bị cáo là người có đầy đủ khả năng nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng với động cơ tư lợi, thỏa mãn nhu cầu bất chính của bản thân, vẫn bất chấp sự nghiêm cấm của Nhà nước để cố ý phạm tội. Ngoài ra về nhân thân các bị cáo O, L đều từng bị áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; bị cáo O 01 lần, bị cáo L 02 lần nhưng các bị cáo đều tái nghiện sau thời gian chữa bệnh bắt buộc thể hiện ý thức chấp hành pháp luật, kỷ luật bản thân của các bị cáo rất kém, là tình tiết đáng lưu tâm khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo.
Để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, về hình phạt đặt ra phải nghiêm khắc, cần có thời gian dài cách ly xã hội đối với từng bị cáo mới có tác dụng của hình phạt, phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội nhằm tác dụng răn đe, cải tạo, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo O phạm tội vì mục đích tư lợi nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo O. Bị cáo L hoàn cảnh gia đình khó khăn, phạm tội không nhằm mục đích tư lợi nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng xem xét: trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình, nhân thân chưa có tiền án, phạm tội lần đầu để xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt đáng ra phải chịu theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự;
[4] Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố để xét xử đối với các bị cáo về tội danh, khung hình phạt và điều luật truy tố đã viện dẫn là có cơ sở pháp luật, đúng người, đúng tội, không oan sai; mức hình phạt đề nghị xử phạt đối với các bị cáo chưa tương xứng với hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
[5] Về xử lý vật chứng:
- Đối với những vật chứng là ma túy là chất độc hại Nhà nước cấm tuyệt đối sử dụng và lưu hành cần tịch thu tiêu hủy toàn bộ bao gồm:
- 01 (một) gói niêm ghi vụ 4623/24, bên ngoài gói có dấu vân tay màu đỏ, chữ ký chữ viết họ tên Trần Thị Ngọc O (người bị bắt) và hình dấu Công an xã B, huyện H, bên trong là ma tuý còn lại sau giám định;
- 01 (một) gói niêm phong ghi vụ 4599/24, bên ngoài gói có dấu vân tay màu đỏ, chữ ký chữ viết họ tên Hoàng Huy L (người bị bắt) và hình dấu Công an xã B, huyện H, bên trong là ma tuý còn lại sau giám định;
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước:
- 01 điện thoại di động hiệu Masstel izi 10, số IMEI 1: 352766245168768, số IMEI 2: 352766245168794, đã qua sử dụng;
- 01 điện thoại di động hiệu Samsung A90, số IMEI: 358365101799679, đã qua sử dụng;
- Đối với 01 (một) xe gắn máy hiệu Yamaha, màu xanh biển số 51L1-0519, số khung: 5SD2-08621; số máy: 5SD2-08621 là tài sản chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp nên cần thông báo truy tìm trên phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn 06 tháng, hết thời hạn không ai đến nhận thì tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
[6] Về nghĩa vụ chịu án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b, p khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Trần Thị Ngọc O;
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Hoàng Huy L;
Căn cứ vào khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
- Xử phạt:
- Xử phạt: Bị cáo Trần Thị Ngọc O 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 04/12/2024.
- Xử phạt: Bị cáo Hoàng Huy L 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 03/12/2024.
Phạt bổ sung bị cáo O số tiền 5.000.000 (Năm triệu) đồng sung vào ngân sách nhà nước;
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo L;
- Về xử lý vật chứng:
Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu và tiêu hủy:
- 01 (một) gói niêm ghi vụ 4623/24, bên ngoài gói có dấu vân tay màu đỏ, chữ ký chữ viết họ tên Trần Thị Ngọc O (người bị bắt) và hình dấu Công an xã B, huyện H, bên trong là ma tuý còn lại sau giám định;
- 01 (một) gói niêm phong ghi vụ 4599/24, bên ngoài gói có dấu vân tay màu đỏ, chữ ký chữ viết họ tên Hoàng Huy L (người bị bắt) và hình dấu Công an xã B, huyện H, bên trong là ma tuý còn lại sau giám định;
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước:
- 01 điện thoại di động hiệu Masstel izi 10, số IMEI 1: 352766245168768, số IMEI 2: 352766245168794, đã qua sử dụng;
- 01 điện thoại di động hiệu Samsung A90, số IMEI: 358365101799679, đã qua sử dụng;
- Giao cho Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn 06 (sáu) tháng đối với 01 (một) xe gắn máy hiệu Yamaha, màu xanh biển số 51L1-0519, số khung: 5SD2-08621; số máy: 5SD208621
(Vật chứng nêu trên hiện đang giữ tại kho vật chứng thuộc Chi cục thi hành án dân sự huyện Hóc Môn theo Quyết định chuyển vật chứng số 137/QĐ-VKS-HM ngày 10/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn và biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 24/4/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn).
- Tịch thu và tiêu hủy:
- Án phí: Các bị cáo Trần Thị Ngọc O, Hoàng Huy L phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Trọng Hưng |
Bản án số 129/2025/HS-ST ngày 20/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm
- Số bản án: 129/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma tuý
