TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 129/2025/HS-PT
Ngày 12-3-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Lê Văn Thăng
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Kim Liên
Bà Nguyễn Thị Quyên
- Thư ký phiên tòa: Ông Lưu Tuấn Minh - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa:
Ông Phạm Quang Minh - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 36/2025/TLPT-HS ngày 15 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo Lý Minh N, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 191/2024/HS-ST ngày 11 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Định Quán.
Bị cáo có kháng cáo: Lý Minh N – sinh năm 1993, tại Cà Mau.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp T, xã L, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
Nơi ở hiện tại: ấp I, xã G, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.
Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.
Họ tên cha: Lý Hữu P – sinh năm 1969. Họ tên mẹ: Huỳnh Thị L – sinh năm 1974; Bị cáo chưa có vợ con.
Tiền sự: Không; nhân thân: Không.
Tiền án: Tại Bản án số 146/2011/HSST ngày 15/9/2011, Toà án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau xử phạt Lý Minh N 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 10/01/2012 nhưng chưa chấp hành xong trách nhiệm bồi thường dân sự.
Bị bắt, tạm giữ, sau đó chuyển tạm giam từ ngày 20/6/2024, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn T, Trần Tấn L1, Đỗ Văn T1 và Lý Minh N là bạn bè quen biết với nhau và đều là người sử dụng ma túy đá.
Vào trưa ngày 20/6/2024, Lý Minh N, Trần Tấn L1, Nguyễn Văn T và Huỳnh Văn N1 đến quán C thuộc ấp H, xã N, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai ngồi uống nước nói chuyện với nhau. Do cần mua túy để sử dụng nên Lý Minh N nhờ Trần Tấn L1 mua ma túy dùm để cả hai cùng sử dụng. Sau đó, N sử dụng số tài khoản 0397445351, Ngân hàng A của N chuyển số tiền 1.500.000 đồng vào số tài khoản 0393898783, Ngân hàng V1 của L1 để L1 mua ma túy số tiền 1.350.000 đồng, còn 150.000 đồng để trả tiền mua đồ ăn, nước uống.
Tiếp đó, L1 gọi cho Đỗ Văn T1 qua ứng dụng Messenger nhờ T1 mua ma túy, T1 đồng ý và đến quán C để gặp L1 lấy tiền. Sau khi điện thoại cho T1 xong, L1 kể cho T nghe đang nhờ T1 mua ma túy và hỏi T có muốn mua không để nhờ T1 mua luôn. T đồng ý, cả hai thỏa thuận mỗi người bỏ ra 1.350.000 đồng để nhờ T1 mua 2.700.000 đồng tiền ma túy. Sau đó, L1 chuyển khoản qua ví điện tử momo cho T số tiền 1.350.000 đồng, khi L1 chuyển tiền xong thì T1 cũng vừa đến quán cà phê. Để trả tiền mua ma túy, T chuyển số tiền 1.300.000 đồng từ ví momo của T sang tài khoản ngân hàng M, số tài khoản 0394336272 của T để đủ số tiền 2.700.000 đồng chuyển cho T1 vào số tài khoản của T1 là 1014269035, Ngân hàng V2.
Đối với Đỗ Văn T1, khi được L1 và T nhờ mua ma túy hộ, T1 đồng ý nhằm mục đích thu lợi bất chính từ việc hưởng tiền chênh lệch. Để thực hiện hành vi phạm tội của mình, T1 gọi điện, nhắn tin cho một người có tên thường gọi là “Tồ” qua ứng dụng messenger tên tài khoản “Trần Đức V” hỏi mua 2.600.000 đồng tiền ma túy. Sau đó, T1 đi đến khu vục Chợ đêm thuộc thị trấn Đ, huyện Đ để gặp “Tồ” mua ma túy. Tại đây, “Tồ” đưa cho T1 01 bịch nylon bên trong chứa ma túy đá, tiền mua ma túy T1 chuyển khoản vào ngân hàng M1, số C, tên “TRAN DUC VIET” số tiền 2.500.000 đồng, đưa tiền mặt 100.000 đồng, T1 hưởng lợi 100.000 đồng. Ma túy mua được, Thảo mang về quán cà phê Ngọc D để đưa cho L1 và T. Tại đây, T1 lấy một nửa số ma tuý trong bịch bỏ vào vỏ nylon bên ngoài bao thuốc lá đưa cho L1, phần ma tuý còn lại trong bịch nylon T1 đưa cho T. Khi T1 vừa đưa ma tuý cho L1 và T thì bị bắt quả tang.
Ngoài bịch ma túy mới nhận từ T1, khi bắt quả tang còn thu giữ trong túi đeo chéo của T 01 bịch nylon chứa ma túy. Bịch ma túy này, vào đêm ngày 19/6/2024 T sử dụng điện thoại của T, gọi cho một người tên thường gọi là “T2” số điện thoại 0345.950.xxx để mua với giá 300.000 đồng. T2 đồng ý bán và hẹn T đến khu vực KM117 thuộc xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai để lấy ma túy và trả tiền. Ma túy mua được T đã sử dụng hết một phần, phần còn lại T mang theo trong người để sử dụng cho bản thân khi có nhu cầu thì bị phát hiện, thu giữ.
Căn cứ bản Kết luận giám định số: 1310/KL-KTHS ngày 25/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ xác định:
- - Mẫu tinh thể màu trắng (Mẫu M1) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 2,0321 gam, loại Methaphetamine.
- - Mẫu tinh thể màu trắng (Mẫu M2) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,0741 gam, loại Methaphetamine.
- - Mẫu tinh thể màu trắng (Mẫu M3) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 2,2331 gam, loại Methaphetamine.
Vật chứng vụ án:
- - 01 phong bì được niêm phong sau giám định số 1310/KL-KTHS ngày 25/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ.
- - Tiền mặt 100.000 đồng là tiền bị cáo T1 thu lợi bất chính từ việc bán ma túy.
- - 04 điện thoại di động: 01 điện thoại di động hiệu Redmi, màu xanh đen, số sim: 0394.336.272, số Model: 23021RAAEG của Nguyễn Văn T; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro, số sim: 0971340440, số Imel: 355942852039787 của Đô Văn T1; 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A14, màu xám, số sim: 0393898783, số Imel 1: 357368582039756, số Imel 2: 357497682039752 của Trần Tấn L1; 01 điện thoại Samsung Galaxy A04 màu xanh đen màu đen, số Imel: 351890/41/941970/9 của Lý Minh N.
Tại bản án sơ thẩm số 191/2024/HS-ST ngày 11 tháng 12 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện Định Quán quyết định:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lý Minh N 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/6/2024 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về tội danh và hình phạt đối với ba bị cáo khác, về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng, án phí và tuyên về quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 25/12/2024, Lý Minh N có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm.
Nội dung kháng cáo: Đề nghị cấp phúc thẩm xem xét lại bản án sơ thẩm, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo còn đang có tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích.
Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo thực hiện. Mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng với bị cáo là phù hợp.
Bị cáo kháng cáo nhưng không đưa ra được chứng cứ, tài liệu gì mới, vì vậy, không có cơ sở chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Vào khoảng 13 giờ 40 phút ngày 20/6/2024, tại quán C thuộc ấp H, xã N, huyện Đ, tỉnh đồng Nai, Đỗ Văn T1 thực hiện hành vi bán cho Nguyễn Văn T 2,0321 gam ma túy, loại Methaphetamine, bán cho Trần Tấn L1 2,2331 gam ma túy, loại Methaphetamine thì bị phát hiện, bắt giữ.
Bịch ma túy có khối lượng 2,2331 gam bị bắt giữ là ma túy L1 mua giúp cho Lý Minh N để cả hai cùng sử dụng chung. Vì vậy, N phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với vai trò đồng phạm của L1 theo quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo N đang có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích nên phải chịu tình tiết tăng nặng “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Lý Minh N 03 (ba) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự là có căn cứ, phù hợp tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà N thực hiện.
Bị cáo kháng cáo nhưng không đưa ra được tình tiết, chứng cứ gì mới, vì vậy, không có cơ sở chấp nhận, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận, bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết lại.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lý Minh N, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 191/2024/HS-ST ngày 11 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Định Quán.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự:
Tuyên bố Lý Minh N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Lý Minh N 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/6/2024.
Bị cáo Lý Minh N phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn Thăng |
Bản án số 129/2025/HS-PT ngày 12/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 129/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 12/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lý Minh Nhí - Tàng trữ trái phép chất ma túy
