Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHỢ MỚI

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 129/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 28/5/2025

V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Anh Thư.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trịnh Văn Bé;
  2. Ông Nguyễn Văn Trí.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Lê Hồng Duyên, Thư ký Toà án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều Tiên – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 173/2025/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 02 năm 2025, về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định hoãn phiên tòa số 254/2025/QÐST-HNGĐ, ngày 09 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn Hổ E, sinh năm 1984; địa chỉ: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang (Có mặt);
  2. Bị đơn: Bà Võ Thị Thuận A, sinh năm 1985; địa chỉ: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, tờ tự khai và các biên bản hòa giải, Nguyên đơn Nguyễn Văn H Em trình bày:

Ông và bà Võ Thị Thuận A chung sống với nhau năm 2004, không tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn vào năm 2008 tại Ủy ban nhân dân xã L, hôn nhân do tự tìm hiểu. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2023 xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do mâu thuẫn về tài chính, vợ chồng thường xuyên cự cãi nên bà A đi làm ở thành phố Hồ Chí Minh. Ông Hổ E nhiều lần hàn gắn, yêu cầu bà Thuận A về nhà nhưng bà A không đồng ý nên vợ chồng không còn chung sống từ năm 2023 cho đến nay. Nay nhận thấy tình cảm không còn ông yêu cầu ly hôn với bà Võ Thị Thuận A; Về quan hệ con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Trí V, sinh ngày 11/3/2005 (đã thành niên) và Nguyễn Thị Vân A1, sinh ngày 14/3/2008 hiện cháu Vân A1 đang chung sống với bà Thuận A. Khi ly hôn ông đồng ý bà Thuận A tiếp tục nuôi con, ông không cấp dưỡng nuôi con; Về quan hệ tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về quan hệ nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên Tòa, ông Hổ E giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Bị đơn bà Võ Thị Thuận A được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng bà Thuận A vẫn vắng mặt nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến và không hòa giải được.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng. Về ý kiến giải quyết: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình:

  • Chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Nguyễn Văn Hổ E đối với bà Võ Thị Thuận A.
  • Bà Võ Thị Thuận A được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Thị Vân A1, sinh ngày 14/3/2008. Ông Nguyễn Văn H Em không phải cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Ông Nguyễn Văn H Em yêu cầu ly hôn với bà Võ Thị Thuận A, bà A có nơi cư trú ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Bị đơn bà Võ Thị Thuận E1 được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 để tham gia phiên tòa, nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà Thuận E1 là có căn cứ.

[3] Ông Nguyễn Văn H Em yêu cầu ly hôn với bà Võ Thị Thuận A. Ông Hổ E và bà A có đăng ký kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình nên quan hệ hôn nhân giữa hai người được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Theo ông Hổ E trình bày, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2023 xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do mâu thuẫn về tài chính, vợ chồng thường xuyên cự cãi nên bà A đi làm ở thành phố Hồ Chí Minh. Ông Hổ E nhiều lần hàn gắn, yêu cầu bà Thuận A về nhà nhưng bà A không đồng ý nên vợ chồng không còn chung sống từ năm 2023 cho đến nay. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án về việc ông Hổ E yêu cầu ly hôn và triệu tập bà Thuận A tham gia các phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, hòa giải và tham gia phiên tòa, nhưng bà Thuận A vẫn vắng mặt và không có ý kiến phản đối yêu cầu ly hôn của ông Hổ E. Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn giữa ông Hổ E và bà Thuận A đã diễn ra trong thời gian dài, nguyên nhân do mâu thuẫn về tài chính, vợ chồng thường cự cãi, bà A đi làm ở thành phố Hồ Chí Minh. Ông Hổ E nhiều lần hàn gắn, yêu cầu bà Thuận A về nhà nhưng bà A không đồng ý nên vợ chồng không còn chung sống từ năm 2023. Trong thời gian này, hai bên cũng không tạo điều kiện cho nhau hàn gắn tình cảm vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu chung sống với nhau cũng không hạnh phúc. Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Hổ E là phù hợp theo quy định pháp luật.

[4] Về quan hệ con chung: Ông Hổ E xác định trong thời gian chung sống, vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Trí V, sinh ngày 11/3/2005 (đã thành niên) và Nguyễn Thị Vân A1, sinh ngày 14/3/2008 hiện cháu Vân A1 đang chung sống với bà Thuận A. Khi ly hôn ông đồng ý bà Thuận A tiếp tục nuôi con, ông không cấp dưỡng nuôi con. Tòa án tiến hành ghi nhận ý kiến cháu Vân A1, nhưng cháu không có mặt tại nhà. Hội đồng xét xử xét thấy, từ khi vợ chồng không còn sống chung với nhau, cháu Vân A1 do bà Thuận A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng nên tâm tư tình cảm của cháu gắn liền với người nuôi dưỡng và trong quá trình giải quyết T cũng không có ý kiến phản đối yêu cầu này của ông Hổ E. Do đó, để bà Thuận A tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Vân A1 là phù hợp với pháp luật.

[5] Đối với cấp dưỡng nuôi con chung: Do bà Thuận A không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết;

[6] Về quan hệ tài sản chung: Ông Hổ E xác định không có, nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[7] Về quan hệ nợ chung: Ông Hổ E xác định không có, nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[8] Án phí hôn nhân sơ thẩm: Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 227 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

- Các Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình 2014;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn H Em đối với bà Võ Thị Thuận A.

  • Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Văn Hổ E được ly hôn với bà Võ Thị Thuận A.
  • Về quan hệ con chung: Bà Võ Thị Thuận A được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Thị Vân A1, sinh ngày 14/3/2008. Ông Nguyễn Văn H Em không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Bà Võ Thị Thuận A cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông Nguyễn Văn H Em trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

  • Về quan hệ tài sản chung: Không có.
  • Về quan hệ nợ chung: Không có. Ghi nhận việc ông Nguyễn Văn Hổ E xác định không có nợ chung trong thời kỳ hôn nhân, nhưng sau khi quyết định ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có người khởi kiện xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, thì ông Nguyễn Văn Hổ E và bà Võ Thị Thuận A phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, ông Nguyễn Văn H Em phải chịu, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, theo biên lai thu số 0024139 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp ngày 21 tháng 02 năm 2025. Ông Nguyễn Văn Hổ E đã nộp đủ.

Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND H. Chợ Mới;
  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - Chi cục THADS H. Chợ Mới;
  • - UBND nơi đăng ký kết hôn;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Anh Thư

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 129/2025/HNGĐ-ST ngày 28/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 129/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ông yêu cầu ly hôn với bà Võ Thị Thuận A; Về quan hệ con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Trí V, sinh ngày 11/3/2005 (đã thành niên) và Nguyễn Thị Vân A1, sinh ngày 14/3/2008 hiện cháu Vân A1 đang chung sống với bà Thuận A. Khi ly hôn ông đồng ý bà Thuận A tiếp tục nuôi con, ông không cấp dưỡng nuôi con; Về quan hệ tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về quan hệ nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger