Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 129/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 13-6-2025

V/v: Ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trương Thị Anh;

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Hữu Tới;

Ông Đầu Khắc Dinh.

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Trịnh Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

Đại diện VKSND tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị X - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 89/2025/HNGĐ-ST ngày 17/4/2025 về việc “Ly hôn”; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 85/2025/QĐ-ST ngày 14/5/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 82/2025/QĐ-ST ngày 29/5/2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Lê Ngọc T, sinh năm 1984 (Vắng mặt)

Nơi thường trú: Khu Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Phú Thọ.

Bị đơn: Chị Đỗ Thị H, sinh năm 1984 (Vắng mặt)

Nơi thường trú: Phố P, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

Nơi ở hiện nay: Đài Loan (Trung Quốc).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn là anh Lê Ngọc T trình bày:

1. Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Đỗ Thị H có đăng ký kết hôn hợp pháp tại UBND phường Đ, huyện Y, tỉnh Phú Thọ theo giấy chứng nhận kết hôn số: 19/2009 do UBND phường Đ, huyện Y, tỉnh Phú Thọ cấp ngày 04/6/2009. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hòa thuận tại phường Đ, huyện Y, tỉnh Phú Thọ. Tuy nhiên từ đầu năm 2013 giữa anh và chị H bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể hòa giải. Quan hệ hôn nhân lâm vào trầm trọng, hai bên không thể cùng sống chung trong một mái nhà.

Năm 2014, chị Đỗ Thị H chuyển về nhà mẹ đẻ tại phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa để sinh sống. Vợ chồng chính thức sống ly thân và không còn ai quan tâm đến cuộc sống của nhau nữa. Hiện tại, anh tìm hiểu thì được biết chị Đỗ Thị H đã đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan và rất ít khi về Việt Nam. Nên anh T đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Đỗ Thị H theo quy định của pháp luật.

2. Về con chung: Anh T và chị H không có con chung.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

Anh T trình bày không biết địa chỉ cụ thể tại Đài Loan của chị Đỗ Thị H nên không thể cung cấp cho Tòa án. Anh cho biết chị H vẫn thường xuyên liên lạc với bố mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị K, trú tại phố P, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Đề nghị Tòa án tiến hành thu thập thêm thông tin từ bố mẹ đẻ của chị H.

Tại Biên bản làm việc ngày 13/5/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa, mẹ đẻ chị Đỗ Thị H là bà Nguyễn Thị K trình bày:

Chị Đỗ Thị H là con gái của bà. Chị H và anh T có đăng ký kết hôn hợp pháp tại phường Đ, huyện Y, tỉnh Phú Thọ vào ngày 04/6/2009. Đến năm 2014, chị H về sinh sống cùng bà tại phường T, thành phố T. Sau đó chị H đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Chị H vẫn thường xuyên liên lạc với bà. Bà K cam đoan sẽ có trách nhiệm nhận các văn bản tố tụng của Toà án và thông báo cho chị H. Bà K không cung cấp được địa chỉ cụ thể của chị H tại Đài Loan. Anh T và chị H không có con chung và tài sản chung. Hiện nay anh T khởi kiện xin ly hôn chị H, bà không có ý kiến gì.

Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa đã tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án cùng các văn bản tố tụng của Tòa án cho bà K. Bà K đã ký nhận toàn bộ các văn bản và cam đoan sẽ có trách nhiệm thông báo cho chị Đỗ Thị H qua điện thoại.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tại phiên tòa:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng và đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật tố tụng dân sự.

Quan điểm về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ: khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn là anh Lê Ngọc T.

Về án phí: Anh Lê Ngọc T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

[1.1]. Về thẩm quyền của Tòa án:

Bị đơn là chị Đỗ Thị H đăng ký hộ khẩu thường trú tại phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Chị H hiện nay đang sinh sống tại Đài Loan. Do trong vụ án có bị đơn có hộ khẩu thường trú tại tỉnh Thanh Hóa, hiện đang cư trú ở nước ngoài. Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

Trong quá trình xem xét thụ lý vụ án, Phòng PA08 - Công an tỉnh T đã tra cứu trên hệ thống dữ liệu do Cục Q - Bộ C quản lý và cung cấp cho Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa thông tin xuất nhập cảnh của bà Đỗ Thị H, sinh ngày 11/04/1984, địa chỉ trước khi xuất cảnh: Phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa như sau: Bà Đỗ Thị H, sinh ngày 11/04/1984, CCCD số [...] xuất cảnh lần đầu ngày 17/07/2012 qua cửa khẩu sân bay quốc tế N bằng hộ chiếu B6664758 và nhập cảnh ngày 16/07/2015 qua cửa khẩu sân bay quốc tế N bằng hộ chiếu B6664758. Lần xuất cảnh gần nhất của bà Đỗ Thị H ngày 15/02/2025 qua cửa khẩu sân bay quốc tế N bằng hộ chiếu K0036695 đến nay chưa có thông tin nhập cảnh trở lại (có danh sách lịch sử xuất nhập cảnh kèm theo).

[1.2]. Về việc tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn:

Về địa chỉ cụ thể của chị H tại Đài Loan, anh T không cung cấp được. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành niêm yết công khai Thông báo Thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng tại địa phương nơi cư trú cuối cùng của chị H (phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa); Đồng thời tiến hành lấy lời khai của mẹ đẻ chị H là bà Nguyễn Thị K để làm rõ mối quan hệ hôn nhân giữa anh T và chị H. Bà K cho biết chị H vẫn liên lạc bằng điện thoại với gia đình thường xuyên, nhưng không cung cấp được địa chỉ cụ thể của chị H tại Đài Loan. Do đó Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục bị đơn cố tình giấu địa chỉ.

[1.3]. Về sự vắng mặt của đương sự:

Tại phiên tòa, nguyên đơn anh Lê Văn T1 có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Bị đơn chị Đỗ Thị H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ và niêm yết văn bản tố tụng hai lần nhưng vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Về hôn nhân: Anh Lê Ngọc T và chị Đỗ Thị H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 04/6/2009 tại UBND phường Đ, huyện Y, tỉnh Phú Thọ là hôn nhân hợp pháp.

Trong lời khai và các tài liệu gửi đến Tòa án, anh T trình bày sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Năm 2014, chị H bỏ về mẹ đẻ ở và đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, từ đó tới nay vợ chồng sống ly thân, không quan tâm, liên lạc gì với nhau nữa. Xét mâu thuẫn đôi bên đã trầm trọng, tình cảm không còn, cuộc sống chung không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận cho anh T được ly hôn chị H.

[2.2]. Về con chung: Anh Lê Ngọc T và chị Đỗ Thị H không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[2.3]. Về tài sản, công nợ chung: Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết, Hội đồng xét xử không xem xét. Chị H không có văn bản thể hiện quan điểm giải quyết về tài sản chung, công nợ chung nên sau này nếu chị H yêu cầu thì có quyền khởi kiện bằng vụ án khác.

[3]. Về án phí: Anh T là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp.

[4]. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; Điều 37; khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51; 56 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Chấp nhận đơn khởi kiện của anh Lê Ngọc T.

  • - Về hôn nhân: Cho anh Lê Ngọc T được ly hôn chị Đỗ Thị H.
  • - Về con chung: Anh Lê Ngọc T và chị Đỗ Thị H không có con chung nên không xem xét giải quyết.
  • - Về tài sản, công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu, Tòa án không giải quyết.

2. Về án phí: Anh Lê ngọc T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0000656 ngày 17/4/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa. Anh T đã nộp đủ tiền án phí.

3. Quyền kháng cáo: Anh Lê Ngọc T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Chị Đỗ Thị H vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hoá;
  • - Cục THADS tỉnh Thanh Hóa;
  • - UBND phường Đồng Lạc, H Yên Lạc, Phú Thọ;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Thị Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 129/2025/HNGĐ-ST ngày 13/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ về ly hôn

  • Số bản án: 129/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Anh Tám yêu cầu ly hôn chị Hà
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger