Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 129/2025/HC-ST

Ngày: 19-6-2025

V/v khiếu kiện quyết định

hành chính trong lĩnh vực

quản lý đất đai

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN

***

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Minh Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Trịnh, ông Trương Vĩnh Kỳ

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Vân là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Lương Thị Mai Chăm - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 113/2025/TLST-HC, ngày 03/4/2025 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 136/2025/QĐXXST-HC ngày 04 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận, giữa các đương sự:

  • - Người khởi kiện: Ông Lê Đức T, sinh năm 1985

  • Địa chỉ: A N, phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.

  • Người đại diện theo ủy quyền: Bà Ngô Thị Thúy H, sinh năm 1977; Địa chỉ:

    Tổ A, khu phố G, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

  • - Người bị kiện: Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B

  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

    1. Ủy ban nhân dân thành phố Phan Thiết
    2. Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai Phan Thiết
    3. Ông Nguyễn Trọng T1, sinh năm 1975
    4. Bà Ngô Thị Đ, sinh năm 1981

    Cùng địa chỉ: Thôn M, xã T, huyện P tỉnh Bình Thuận.

Tại phiên tòa có mặt: Bà Ngô Thị Thúy H. Các đương sự còn lại vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, người khởi kiện ông LÊ Đức T và người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Ông Lê Đức T có nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của vợ chồng ông Nguyễn Trọng T1, bà Ngô Thị Đ trú tại địa chỉ: Thôn M, xã T, huyện P, tỉnh Bình Thuận, thửa đất số 386, tờ bản đồ số 8, diện tích đất 260m² gồm 247,8m² đất ở tại nông thôn và 12,2m² đất trồng cây lâu năm tại thôn X, xã P, thành phố P, tỉnh đất số CP 568862 Giấy chứng nhận CS07133 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 05/11/2018. Hai bên có lập Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được Công chứng viên Huỳnh Thanh S, Phòng C tỉnh Bình Thuận ký ngày 16/04/2022, số công chứng 1604 quyền số 04/2022TP/CC-SCC/HĐGD.

Ngày 03/03/2025, ông T có nộp hồ sơ đề nghị làm thủ tục đăng ký chuyển quyền sử dụng đất tại Chi nhánh Văn phòng Đ để làm thủ tục đăng ký chuyển quyền sử dụng đất đối với thửa đất nêu trên. Ngày 05/03/2025, Chi nhánh Văn phòng Đ ban hành văn bản số 268/TB-CNVPĐKĐĐPT “Về việc hoàn trả hồ sơ đăng ký chuyển quyền sử dụng đất của ông Lê Đức T”. Nội dung thông báo số 268/TB-CNVPĐKĐĐPT cho rằng: “Thửa đất của ông đăng ký chuyển quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 386, tờ bản đồ số 8, diện tích đất 260m² gồm đất ở tại nông thôn và đất trồng cây lâu năm tại thôn X, xã P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CP 568862 cấp ngày 05/11/2018. Qua kiểm tra, phần diện tích đất ở tại nông thôn của ông có nguồn gốc chuyển mục đích sử dụng đất (tại Quyết định số 4065/QĐ-UBND ngày 30/05/2018 cho bà Ngô Thị Thanh S1 nhưng không phù hợp quy hoạch (đất gia thông) theo Bản đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 tại quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 của UBND tỉnh B đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt”.

Ngày 30/11/2023 UBND tỉnh B có công văn số 4721/UBND- KT, về việc ý kiến về nội dung báo cáo và đề nghị của Sở T tại Công văn số 5523/STNMT- CCQLĐĐ ngày 20/11/2023 có nêu: “Giao trách nhiệm cho UBND các huyện, thị xã, thành phố tiếp tục tự rà soát và tự chịu trách nhiệm đối với các trường hợp đã cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trước đây mà không đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất để làm rõ trách nhiệm của từng đơn vị, cá nhân tham mưu, giải quyết trước đây. Trên cơ sở kết quả rà soát, có báo cáo và kiến nghị đề xuất gửi Sở T”.

Do đó, sau khi có ý kiến chỉ đạo của cơ quan có thẩm quyền liên quan chuyển mục đích sử dụng đất trước đây mà không đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thì Chi nhánh Văn phòng sẽ thông báo lại cho ông được biết và cùng phối hợp thực hiện”.

Với những lý do trên, ông T cho rằng Chi nhánh Văn phòng Đ hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất, không giải quyết hồ sơ đăng ký chuyển quyền sử dụng đất do tôi nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ vợ chồng ông Nguyễn

Trọng T1, bà Ngô Thị Đtại Thông báo số 268/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 28/02/2025 là trái quy định pháp luật về đất đai, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông.

Nay, ông Lê Đức T làm đơn khởi kiện này đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận giải quyết:

  • - Hủy Thông báo số 268/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 05/03/2025 của Chi

    nhánh Văn phòng Đ “Về việc hoàn trả hồ sơ đăng ký chuyển quyền sử dụng đất

    của ông Lê Đức T".

  • - Buộc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B và Chi nhánh Văn phòng Đ thực

    hiện nhiệm vụ, công vụ trong việc đăng ký chuyển quyền sử dụng đất cho ông

    trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CP 568862 theo quy định của pháp

    luật.

Người bị kiện Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B có ý kiến tại văn bản số 1493/VPĐKĐĐ-ĐKCG ngày 02/6/2025:

Đối với yêu cầu khởi kiện của ông Lê Đức T, Chi nhánh Văn phòng Đ đã cung cấp ý kiến tại Công văn số 4203/CNVPĐKĐĐPT-TTLT ngày 29/5/2025 và toàn bộ hồ sơ, tài liệu có liên quan cho Tòa án. Văn phòng Đăng ký đất đai thống nhất ý kiến tại Công văn số 4203/CNVPĐKĐĐPT-TTLT ngày 29/5/2025 và không có hồ sơ, tài liệu nào khác để cung cấp.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Chi nhánh Văn phòng Đ có ý kiến tại văn bản 4203/CNVPĐKĐĐPT-TTLT ngày 29/5/2025:

Ngày 03/3/2025, Chi nhánh Văn phòng Đ có tiếp nhận hồ sơ đăng ký chuyển quyền sử dụng đất của ông Lê Đức T tại biên nhận số 925/BPTNTKQ.

Ông Lê Đức T nhận chuyển quyền sử dụng đất từ ông Nguyễn Trọng T1 cùng vợ: Ngô Thị Đ đối với thửa đất số 386, tờ bản đồ số 8, diện tích 260,0 m² đất ở tại nông thôn, địa chỉ thửa đất tại thôn X, xã P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi tắt là Giấy chứng nhận) số CP 568862 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 05/11/2018.

Qua rà soát hồ sơ thì thửa đất số 386, tờ bản đồ số 8 theo Giấy chứng nhận số CP 568862 có lịch sử biến động như sau:

  • - Ngày 04/10/2006, UBND thành phố P cấp Giấy chứng nhận số AG 220145

    cho bà Vũ Thị Thu H1, cập nhật biến động chuyển nhượng cho bà Ngô Thị Thanh

    S1 ngày 05/01/2018 đối với thửa đất số 203A, tờ bản đồ số 3, diện tích 252,5m²

    đất ở tại nông thôn (100,0m²) và đất trồng cây lâu năm (152,5m²).

  • - Ngày 30/3/2018, bà Ngô Thị Thanh S1 đăng ký biến động diện tích đất

    tăng, được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp đổi từ Giấy chứng nhận số

    AG 220145 thành Giấy chứng nhận số CM 415596 cho bà Ngô Thị Thanh S1 đối

    với thửa đất số 386 (đặt lại từ thừa 203A), tờ bản đồ số 8 (đặt lại từ tờ 3), diện tích

    260,0m² đất ở tại nông thôn (100,0m²) và đất trồng cây lâu năm (160,0m²).

Ngày 30/5/2018, UBND thành phố P ban hành Quyết định số 4065/QĐ- UBND về việc cho phép bà Ngô Thị Thanh S1 được chuyển mục đích sử dụng đất với diện tích 147,8m² sang đất ở tại nông thôn và được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp đổi từ Giấy chứng nhận số CM 415596 thành Giấy chứng nhận số CN 350267 cấp ngày 16/8/2018 cho bà Ngô Thị Thanh S1 đối với thửa đất số 386, tờ bản đồ số 8, diện tích 260,0m² đất ở tại nông thôn (247,8m²) và đất trồng cây lâu năm (12,2m²).

Ngày 05/11/2018, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp đổi từ Giấy chứng nhận số CN 350267 thành Giấy chứng nhận số CP 568862 đối với thửa đất số 386, tờ bản đồ số 8, diện tích 260,0m², đất ở tại nông thôn (247,8m²) và đất trồng cây lâu năm (12,2m²) đứng tên ông Nguyễn Trọng T1 (do nhận chuyển nhượng từ bà Ngô Thị Thanh S1).

Qua rà soát lịch sử biến động thì thửa đất số 386, tờ bản đồ số 8 theo Giấy chứng nhận số CP 568862. Phần diện tích đất ở tại nông thôn 147,8m² có nguồn gốc do bà Ngô Thị Thanh S1 được UBND thành phố P cho phép chuyển mục đích sử dụng đất (tại Quyết định số 4065/QĐ-UBND ngày 30/5/2018) nhưng không phù hợp quy hoạch sử dụng đất theo Bản đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 tại Quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 của UBND tỉnh B.

Ngày 30/11/2023, UBND tỉnh B ban hành Công văn số 4721/UBND-KT về việc ý kiến về nội dung báo cáo và đề nghị của Sở T tại Công văn số 5523/STNMT-CCQLĐĐ ngày 20/11/2023: "...2. Giao trách nhiệm cho UBND các huyện, thị xã, thành phố tiếp tục tự rà soát và tự chịu trách nhiệm đối với các trường hợp đã cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trước đây mà không đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất để làm rõ trách nhiệm của từng đơn vị, cá nhân tham mưu, giải quyết trước đây. Trên cơ sở kết quả rà soát, có báo cáo và kiến nghị đề xuất gửi Sở T.”

Căn cứ công văn nêu trên của UBND tỉnh B, hiện nay UBND thành phố P đang rà soát và kiến nghị đề xuất giải quyết đối với các trường hợp đã cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trước đây mà không đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất để làm rõ trách nhiệm của từng đơn vị, cá nhân tham mưu, giải trước đây.

Chi nhánh Văn phòng hiện vẫn chưa nhận được ý kiến chỉ đạo giải quyết hồ sơ của cấp có thẩm quyền liên quan đến vướng mắc các trường hợp hồ sơ đã chuyển mục đích chưa đảm bảo theo quy định. Do đó, ngày 05/3/2025, Chi nhánh Văn phòng ban hành Thông báo số 268/TB-CNVPĐKĐĐPT về việc hoàn trả hồ sơ đăng ký chuyển quyền sử dụng đất của ông Lê Đức T. Sau khi các cấp có thẩm quyền có ý kiến chỉ đạo liên quan đến các nội dung vướng mắc của Chi nhánh V thì Chi nhánh Văn phòng sẽ thông báo lại cho ông Lê Đức T được biết và phối hợp thực hiện giải quyết hồ sơ theo quy định.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân thành phố P không có Văn bản trình bày ý kiến.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Trọng T1 và bà Ngô Thị Đ không có Văn bản trình bày ý kiến.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên có ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân và Thư ký đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Luật Tố tụng hành chính.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Đức T, hủy Thông báo số 268/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 05/3/2025 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố P. Buộc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B và Chi nhánh Văn phòng Đ thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về việc vắng mặt người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, ông Nguyễn Trọng T1, bà Ngô Thị Đ, Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B, Chi nhánh Văn phòng Đ và Ủy ban nhân dân thành phố P vắng mặt nhưng có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng này theo quy định tại khoản 1 Điều 158 Luật Tố tụng hành chính.

[2] Về quyền khởi kiện: Ngày 16/4/2022, ông Lê Đức T có nhận chuyển nhượng thừa đất số 386, tờ bản đồ số 8, diện tích 260,0m², mục đích sử dụng: 247,8m² đất ở tại nông thôn và 12,2m² đất trồng cây lâu năm; địa chỉ thửa đất tại thôn X, xã P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất số CP 568862 do Ủy ban nhân dân thành phố P cấp ngày 05/11/2018 đứng tên ông Nguyễn Trọng T1, theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 1604, quyền số 04TP/CC-SCC/HĐGD ngày 16/4/2022 tại Phòng C tỉnh Bình Thuận. Sau khi ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, ông T đi nộp hồ sơ đăng ký chuyển quyền sử dụng đất tại Chi nhánh Văn phòng Đ.

Tuy nhiên, ngày 05/3/2025, Chi nhánh Văn phòng Đ đã ban hành Thông báo số 268/TB-CNVPĐKĐĐPT-ĐKCG hoàn trả hồ sơ đăng ký chuyển quyền sử dụng đất của ông T. Việc trả hồ sơ, từ chối đăng ký biến động sang tên ông T đã ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông T nên ông T có quyền khởi kiện đối với Văn bản số 268/TB-CNVPĐKĐĐPT-ĐKCG ngày 05/3/2025 của Chi nhánh Văn phòng Đ.

[3] Về thời hiệu khởi kiện: Chi nhánh Văn phòng Đ ban hành Thông báo số 268/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 05/3/2025. Đến ngày 14/3/2025, ông Lê Đức T nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận là còn trong thời hiệu khởi kiện theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính.

[4] Về nội dung quyết định hành chính bị khiếu kiện, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[4.1] Khoản 1 Điều 45 Luật Đất đai năm 2024 quy định: “Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại,

thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có đủ các điều kiện sau đây:

  • a) Có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc Giấy chứng nhận quyền sở

    hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,

    quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc Giấy chứng nhận quyền

    sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất, trừ trường hợp thừa kế quyền

    sử dụng đất, chuyển đổi đất nông nghiệp khi dồn điền, đổi thửa, tặng cho quyền

    sử dụng đất cho Nhà nước, cộng đồng dân cư và trường hợp quy định tại khoản 7

    Điều 124 và điểm a khoản 4 Điều 127 của Luật này;

  • b) Đất không có tranh chấp hoặc tranh chấp đã được giải quyết bởi cơ

    quan nhà nước có thẩm quyền, bản án, quyết định của Tòa án, quyết định hoặc

    phán quyết của Trọng tài đã có hiệu lực pháp luật;

  • c) Quyền sử dụng đất không bị kê biên, áp dụng biện pháp khác để bảo

    đảm thi hành án theo quy định của pháp luật thi hành án dân sự;

  • d) Trong thời hạn sử dụng đất;

  • đ) Quyền sử dụng đất không bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo

    quy định của pháp luật.”

[4.2] Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữa ông Nguyễn Trọng T1, bà Ngô Thị Đ và ông Lê Đức T phù hợp với quy định của pháp luật, thửa đất được chuyển nhượng có đủ tất cả các điều kiện nêu trên và thuộc trường hợp bắt buộc phải đăng ký biến động đất đai theo quy định tại khoản 1 Điều 131, điểm a khoản 1 Điều 133 Luật Đất đai năm 2024. Việc đăng ký biến động sang tên người nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất chỉ thay đổi tên người sử dụng thửa đất, không làm thay đổi các thông tin khác đối với thửa đất.

[4.3] Chi nhánh Văn phòng Đ cho rằng Quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất của Ủy ban nhân dân thành phố P không phù hợp với quy hoạch của Bản đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 tại Quyết định số 3200/QĐ- UBND ngày 13/12/2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh B nên không giải quyết hồ sơ đăng ký biến động của ông Lê Đức T. Hội đồng xét xử xét thấy: Đến nay, Quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất của Ủy ban nhân dân thành phố P chưa bị hủy bỏ, các thông tin về diện tích và mục đích sử dụng đất thể hiện trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất hoàn toàn phù hợp với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Việc trả lại hồ sơ đăng ký biến động của Chi nhánh Văn phòng Đ tại Thông báo số 268/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 05/3/2025 là không có căn cứ, xâm phạm đến quyền lợi hợp pháp của người khởi kiện nên người khởi kiện yêu cầu hủy bỏ thông báo nêu trên là có cơ sở. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Đức T như ý kiến đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát.

[5] Về án phí: Do yêu cầu của người khởi kiện được chấp nhận nên người bị kiện phải chịu án phí hành chính sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 32

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; ông Lê Đức T được hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • - Khoản 1 Điều 30, khoản 3 Điều 32, điểm b khoản 2 Điều 193 Luật Tố

    tụng hành chính;

  • - Khoản 1 Điều 45, khoản 1 Điều 131, điểm a khoản 1 Điều 133 Luật Đất

    đai năm 2024;

  • - Khoản 2 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016

    của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Đức T.

    • - Hủy Thông báo số 268/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 05/3/2025 của Chi

      nhánh Văn phòng Đ.

    • - Buộc Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B, Chi nhánh Văn phòng Đ phải

      thực hiện nhiệm vụ, công vụ trong việc giải quyết hồ sơ đăng ký chuyển quyền sử

      dụng đất của ông Lê Đức T theo quy định của pháp luật.

  2. Về án phí hành chính sơ thẩm:

    • - Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn

      đồng) án phí hành chính sơ thẩm.

    • - Ông Lê Đức T không phải chịu án phí hành chính sơ thẩm. Trả lại cho ông

      Lê Đức T 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai

      thu số 0000674 ngày 31/3/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Thuận.

  3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo

    bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (19/6/2025); đương sự vắng

    mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày

    được giao bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Luật Tố tụng

    hành chính.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh B. Thuận;
  • - Cục THADS tỉnh B. Thuận;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: hồ sơ, TỔ HCTP;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Lê Minh Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 129/2025/HC-ST ngày 19/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai

  • Số bản án: 129/2025/HC-ST
  • Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hành chính
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger