Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 129/2025/DS-PT

Ngày: 25/3/2024

V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Tuyết Mai
  • Các Thẩm phán: Bà Hồ Thị Tuyết Phương
  • Ông Nguyễn Văn Hải

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần thơ

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 3 năm 2025 tại Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 554/2024/TLPT-DS ngày 30 tháng 12 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Do bản án dân sự sơ thẩm số 138/2024/DS-ST ngày 18 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân quận Bình Thủy bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 73/2025/QĐ-PT ngày 06 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1974.
  • Địa chỉ thường trú: số I, đường Đ, phường B quận B, thành phố Cần Thơ.
  • Địa chỉ tạm trú: số A đường C, phường B, quận B, thành phố Cần Thơ.
  • - Bị đơn: Bà Hà Thị V, sinh năm 1958.
  • Địa chỉ: số I khu vực B, phường L, quận B thành phố Cần Thơ.
  • Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Bà Phạm Thị Ngọc L, sinh năm 1970.
  • Địa chỉ: Số B khu phố C, thị trấn B, huyện B, tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện cũng như trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu H trình bày: Từ năm 2007, bà H có cho bà V mượn số tiền hơn 300 triệu đồng, lãi suất 1%/tháng. Mỗi khoảng thời gian bà V trả một phần gốc đều làm biên nhận. Ngày 23/7/2023 bà V có làm giấy xác nhận nợ, có mượn của bà H số tiền 133.500.000đ (Một trăm ba mươi ba triệu, năm trăm nghìn đồng). Lãi xuất 1% tháng, trả lãi hàng tháng. Theo thỏa thuận, tính đến ngày 18/12/2023, số tiền lãi mà bà V phải trả là: 133.500 000 đ x 1% tháng (30 ngày) x 148 ngày = 6.586.000 đồng Bà V đã trả cho bà H 01 lần khoảng 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng), sau nhiều lần hẹn. Tiền lãi còn thiếu là: 6.586.000 đồng – 5.000.000 đồng = 1.586.000 đồng. Số tiền mà bà V còn nợ bà H là: 133.500.000 đồng (gốc) + 1.586.000 đồng (lãi) =135.086.000 đồng. Buộc bà V phải trả bà H số tiền tính đến ngày 18/12/2023 là 135.086.000 đồng (Một trăm ba mươi lăm triệu, không trăm tám mươi sáu nghìn đồng). Yêu cầu tiếp tục tính lãi của số tiền nợ đến khi bà V trả hết nợ.

- Bị đơn bà Hà Thị V – có đại diện theo ủy quyền bà Nguyễn Hoàng Trang T trình bày: Bà Hà Thị V có mượn tiền của bà Nguyễn Thị Thu H cụ thể như sau:

  • Ngày 4-5-2006 = 10.000.000 đồng
  • Ngày 15-3-2007= 45.000.000 đồng và 7.000.000 đồng
  • Ngày 20-3-2007 = 5.000.000 đồng
  • Ngày 17-1-2008 = 28.000.000 đồng
  • Ngày 23-1-2008 = 148.000.000 đồng
  • Ngày 7-3-2008 = 5.000.000 đồng
  • Ngày 24-1-2008 = 50.000.000 đồng
  • Ngày 25-1-2008 = 10.000.000 đồng
  • Ngày 23-1-2008 = 1 cây vàng
  • Tổng cộng là: 308.000.000 đồng

Bà Hà Thị V và bà H là chỗ quen biết nên bà H có cho bà Hà Thị V mượn số tiền nêu trên. Từ khi mượn tiền của bà H bà Hà Thị V vẫn đóng lãi 5%/tháng. Năm 2009 bà H kêu gom vốn trả và không lấy lãi nữa, nên bà Hà Thị V bán đồ đạc bàn ghế trong nhà gom được số tiền là: 95.800.000 đồng trả cho bà H và có làm biên nhận bà H có ký tên, sau đó bà H có ghi thêm vào bên nhận và bắt đầu tính lãi ngày 10-10-2010 lãi là 1,45%/ tháng. Và từ đó đến nay là 18 năm bà V thực hiện trả lãi vốn đầy đủ cho đến nay số tiền vốn còn lại là 130.000.000 đồng. Do bà Hà Thị V bệnh hơn 6 tháng nay kể từ ngày 23/09/2024 không có tiền trả cho bà H nên bà H khởi kiện. Vậy nay bà Hà Thị V làm bản tự khai kính gửi đến Toà án yêu cầu Toà án cho bà Hà Thị V được trừ số tiền vốn đã trả trước cho bà H năm 2009 là 95.800.000 đồng. Bà Hà Thị V chỉ đồng ý số tiền gốc còn lại 35.800.000 đồng và đồng ý phần lãi trên số tiền gốc này. Bà Hà Thị V sẽ góp cho bà H 2.000.000 đồng/tháng.

Vụ việc được hòa giải nhưng không thành nên Tòa án nhân dân quận Bình Thủy đưa vụ án ra xét xử, tại bản án sơ thẩm số: 138/2024/DS-ST ngày 18 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân quận Bình Thủy đã tuyên như sau:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thu H đối với bà Hà Thị V.

Bà Hà Thị V phải có trách nhiệm trả cho bà Nguyễn Thị Thu H tổng cộng số tiền 45.200.000 đồng (Bốn mươi lăm triệu, hai trăm ngàn đồng), trong đó số tiền gốc là 37.200.000 đồng (Ba mươi bảy triệu, hai trăm đồng) và lãi suất là 12%/năm, kể từ tháng 2/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm 18/9/2024 bị đơn làm tròn lãi suất là 8.000.000 đồng (Tám triệu đồng).

Để đảm bảo quyền lợi của nguyên đơn để tính lãi suất trong thời gian chưa thi hành án. Do đó, kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 19/9/2024) nếu bị đơn chưa trả số tiền nêu trên hoặc trả chưa đủ số tiền nêu trên thì phải chịu lãi suất theo thỏa thuận giữa hai bên là 1%/tháng, 12%/năm.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của đương sự theo quy định của pháp luật.

Không đồng ý với bản án sơ thẩm, nguyên đơn có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn và đại diện theo ủy quyền của bị đơn thống nhất giải quyết vụ án như sau: bị đơn trả cho nguyên đơn số tiền 130.000.000 đồng, không tính lãi suất.

- Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ:

Về thực hiện pháp luật: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý đến khi xét xử theo trình tự phúc thẩm. Các đương sự trong vụ án đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự đối với người tham gia tố tụng. Đơn và thời hạn nộp tạm ứng kháng cáo của nguyên đơn trong hạn luật định nên được xem là hợp lệ về mặt hình thức.

Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa các đương sự nguyên đơn và đại diện theo ủy quyền của bị đơn thống nhất thỏa thuận, bị đơn trả cho nguyên đơn số tiền 130.000.000 đồng, không tính lãi suất. Các đương sự thỏa thuận về nội dung giải quyết vụ án là tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội, căn cứ khoản 2 Điều 300 Bộ luật Tố tụng dân sự đề nghị sửa Bản án sơ thẩm theo hướng công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ đã được thẩm tra tại tòa phúc thẩm; Căn cứ vào kết quả tranh luận trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện ý kiến của Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng khác.

[1] Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả lại số tiền đã vay nên cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” là phù hợp.

[2] Về nội dung: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bà Hà Thị V trả cho nguyên đơn tổng số tiền 148.000.000 đồng, trong đó gốc 126.000.000 đồng, lãi lãi suất 1%/tháng tính từ tháng 2/2023 đến ngày xét xử 18/9/2024 là 22.000.000 đồng. Ngoài ra, nguyên đơn có yêu cầu tiếp tục tính lãi suất của số tiền bà V còn nợ đến khi bà V trả hết nợ. Phía bị đơn bà Hà Thị V thừa nhận giữa bà và nguyên đơn có giao dịch vay tiền. Vào năm 2009 bị đơn đã giao cho nguyên đơn số tiền 95.800.000 đồng, có biên nhận của nguyên đơn ký xác nhận. Trong biên nhận này có thể hiện nội dung “Tôi đã trả cho cô H số tiền là 95.800.000 đ (chín mươi lăm triệu tám trăm ngàn). Số tiền này nếu tôi không có khả năng trả cô H sẽ trừ tiền vốn cho tôi”, vì vậy bị đơn yêu cầu cấn trừ số tiền theo biên nhận không đề ngày tại bút lục số 80 số tiền 95.800.000 đồng vào số tiền vốn còn lại là 37.200.000 đồng và lãi suất trên số tiền gốc này.

[3] Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, phía nguyên đơn và bị đơn đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án cụ thể như sau: Bị đơn bà Hà Thị V có trách nhiệm trả cho nguyên đơn số tiền 130.000.000 đồng (Một trăm ba mươi triệu đồng), không tính lãi suất mà chỉ tính lãi ở giai đoạn thi hành án.

[4] Xét thấy, việc các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án và thỏa thuận của họ là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử sửa án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

[5] Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Về án phí: do kháng cáo của nguyên đơn được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  • - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu H. Sửa bản án sơ thẩm. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự

1. Bà Hà Thị V phải có trách nhiệm trả cho bà Nguyễn Thị Thu H tổng cộng số tiền 130.000.000 đồng (Một trăm ba mươi triệu đồng).

Kể từ khi án có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: bị đơn được miễn nộp tiền án phí. Nguyên đơn được nhận lại số tiền 3.377.150 đồng theo biên lai thu số 0002624 ngày 12/4/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ.

3. Về án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn được nhận lại số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu số 0002974 ngày 02/10/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND Q. Bình Thủy;
  • - VKSND TP. Cần Thơ;
  • - Chi cục THADS Q. Bình Thủy;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Thị Tuyết Mai

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 129/2025/DS-PT ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 129/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger