TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 129/2025/DS-PT
Ngày 23-5-2025
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất
và tài sản gắn liền với đất
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Đê
Các Thẩm phán: Ông Lê Văn Hùng
Bà Ngô Thị Kim Châu
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Nhi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Hân - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 358/2024/TLPT-DS, ngày 24 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất”.
Do bản án sơ thẩm số 60/2024/DS-ST, ngày 23-9-2024 của Tòa án nhân dân huyện Càng Long bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 18/2025/QĐ-PT, ngày 06 tháng 02 năm 2025, Quyết định tạm ngừng phiên tòa phúc thẩm số 41/2025/QĐ-PT, ngày 26 tháng 02 năm 2025 và thông báo mở lại phiên tòa số 40/TB-TA, ngày 15 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn R, sinh năm 1969; cư trú tại ấp M, xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có mặt).
- Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Anh Nguyễn Tấn L, sinh năm 1987; cư trú tại số G, Khóm A, Phường G, thành phố T, tỉnh Trà Vinh “Theo văn bản ủy quyền ngày 01/11/2022” (có mặt).
- Bị đơn: Anh Mai Văn N, sinh năm 1981; cư trú tại ấp Đ, xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có mặt).
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Phan Văn H, là Luật sư của Công ty TNHH MTV P2 thuộc Đoàn luật sư tỉnh T (có mặt).
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh. Do ông Trần Minh T, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện L3 đại diện.
- Người đại diện hợp pháp của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C: Ông Trần Vũ P, Trưởng phòng Phòng Nông nghiệp và Môi trường huyện C, tỉnh Trà Vinh “Theo văn bản ủy quyền ngày 29/4/2025” (vắng mặt).
- Chị Trương Thị Bích D, sinh năm 1981; cư trú tại ấp M, xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có mặt).
- Chị Nguyễn Thị Mộng K, sinh năm 1992; cư trú tại ấp Đ, xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có mặt).
- Anh Mai Văn T1, sinh năm 1967 (vắng mặt)
- Chị Huỳnh Thị T2, sinh năm 1968 (vắng mặt)
- Anh Mai Thanh Đ, sinh năm 1975 (vắng mặt)
- Chị Phạm Thị Y, sinh năm 1975 (vắng mặt).
- Chị Mai Thị Ngọc Â, sinh năm 1991 (vắng mặt).
- Ông Mai Văn L1, sinh năm 1940 (vắng mặt).
- Bà Lương Thị R1, sinh năm 1947 (vắng mặt).
- Ông Mai Văn Đ1, sinh năm 1958; cư trú tại số A, đường N, Khóm H, Phường C, thành phố T, tỉnh Trà Vinh (có mặt).
- Bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1936 (Chết).
- Ông Mai Văn T3, sinh năm 1953 (có mặt).
- Anh Mai Thanh T4, sinh năm 1968 (có mặt).
- Ông Mai Văn P1, sinh năm 1957; cư trú tại số A, ấp T, phường T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).
- Anh Mai Thanh Đ2, sinh năm 1975; cư trú tại ấp P, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh (vắng mặt).
- Chị Mai Thị Hồng G, sinh năm 1970 (vắng mặt).
- Anh Mai Hồng T5, sinh năm 1975 (có mặt).
- Chị Mai Thị Thanh H1, sinh năm 1970; cư trú tại phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt)
Cùng cư trú tại ấp V, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh.
Cùng cư trú tại Khóm E, Phường H, thành phố T, tỉnh Trà Vinh.
Cùng cư trú tại ấp S, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh.
Cùng cư trú tại ấp Đ, xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
Cùng cư trú tại số A, đường Đ, Khóm H, Phường C, thành phố T, tỉnh Trà Vinh.
- Người kháng cáo: Anh Mai Văn N là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 02 tháng 11 năm 2022, đơn khởi kiện bổ sung ngày 16 tháng 8 năm 2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Nguyễn Văn R và người đại diện hợp pháp của nguyên đơn anh Nguyễn Tấn L trình bày: Vào năm 2020, anh R nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của anh Mai Văn T1, diện tích đất 816m², thửa số 1395, tờ bản đồ số 06, tọa lạc tại ấp Đ, xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Nhưng anh R đi làm việc tại Thành phố Hồ Chí Minh nên chưa sử dụng đất. Đến khoảng tháng 9 năm 2021, những người dân sinh sống ở gần đất thông báo cho anh R biết, anh Mai Văn N đến chặt cây trồng và sửa chữa lại căn nhà bỏ hoang trên một phần diện tích đất anh R nhận chuyển nhượng từ anh T1. Vì vậy, anh R làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh N giao trả diện tích đất 589,3m² cho anh R sử dụng. Đồng thời, buộc anh N bồi thường thiệt hại giá trị các cây trồng cho anh R số tiền bằng 4.700.000 đồng (Bốn triệu bảy trăm nghìn đồng). Trong quá trình giải quyết vụ án, anh R xin rút một phần yêu cầu khởi kiện về yêu cầu bồi thường thiệt hại giá trị cây trồng.
Theo bị đơn anh Mai Văn N trình bày: Nguồn gốc đất thửa số 1395, tờ bản đồ số 06, tọa lạc tại ấp Đ, xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh, là của ông bà nội anh đã chia cho cha của anh tên Mai Văn T6 sử dụng từ trước năm 1975. Còn phần đất mà ông bà nội của anh đã cho chú của anh tên Mai Văn L1 (Cha của anh T1) thì nằm ở vị trí giáp lộ. Trước đây, anh T1 không có sử dụng diện tích đất mà anh T1 đã chuyển nhượng cho anh R, việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa anh T1 với anh R chỉ thực hiện trên giấy tờ. Do vậy, anh không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của anh R. Ngược lại, anh yêu cầu Tòa án giải quyết hủy các hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Mai Văn L1 với anh Mai Thanh Đ, giữa anh Đ với anh Mai Thanh M, giữa anh M với anh Mai Văn T1; hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa anh T1 với anh R đối với diện tích đất 589,3m².
Theo người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Trương Thị Bích D trình bày: Thống nhất theo nội dung yêu cầu khởi kiện của anh R.
Theo người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Mộng K trình bày: Thống nhất theo ý kiến và yêu cầu của anh N.
Theo những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, gồm: Bà Nguyễn Thị N1, ông Mai Văn Đ1, ông Mai Văn T3, anh Mai Thanh T4, ông Mai Văn P1, anh Mai Thanh Đ2, chị Mai Thị Thanh H1, chị Mai Thị Hồng G và anh Mai Hồng T5, cùng có ý kiến trình bày: Thống nhất giao cho anh N toàn quyền quyết định trong việc tranh chấp đất với anh R.
Theo người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân huyện C, anh Nguyễn Hữu K1 trình bày: Ủy ban nhân dân huyện C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh R đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật.
Tại bản án sơ thẩm số 60/2024/DS-ST, ngày 23-9-2024 của Tòa án nhân dân huyện Càng Long đã quyết định:
Căn cứ vào Điều 5, Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 157, Điều 158, Điều 165, Điều 166, Điều 227, Điều 228, Điều 244, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 133, Điều 163, Điều 164, Điều 166, Điều 169 và Điều 189 của Bộ luật Dân sự; Điều 202 và Điều 203 của Luật Đất đai năm 2013; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn R.
- Không chấp nhận yêu cầu phản tố của anh Mai Văn N.
- Buộc anh Mai Văn N có nghĩa vụ di dời các tài sản có trên đất để trả lại cho anh Nguyễn Văn R diện tích đất 589,3m² (Trong đó có 25m² thuộc HLATĐB), thửa số 1395, tờ bản đồ số 06, tọa lạc tại ấp Đ, xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
- Đình chỉ giải quyết vụ án một phần yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn R về việc yêu cầu anh Mai Văn N bồi thường thiệt hại giá trị tài sản số tiền bằng 4.700.000 đồng (Bốn triệu bảy trăm nghìn đồng).
Ngoài ra, bản án còn quyết định về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, chi phí định giá tài sản, về án phí sơ thẩm, về quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 07 tháng 10 năm 2024, anh Mai Văn N làm đơn kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án phúc thẩm xét xử sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn R, chấp nhận yêu cầu phản tố của anh N.
Quan điểm của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Diện tích đất ông L1 kê khai, đăng ký năm 1983 là 3.800m², nhưng khi cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông L1 năm 1996, diện tích là 5.740m², là cấp bao trùm cả diện tích đất của ông T6 đang quản lý, sử dụng. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh N. Còn tại phiên tòa phúc thẩm, anh R đồng ý thanh toán giá trị căn nhà cho anh N bằng 15.841.584 đồng (Mười lăm triệu tám trăm bốn mươi mốt nghìn năm trăm tám mươi bốn đồng), anh N cũng đồng ý theo ý kiến của anh R, nên đề nghị Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận giữa anh R và anh N; đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử dành cho anh N khởi kiện anh T1 một vụ kiện khác về yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Quan điểm của Kiểm sát viên: Về thủ tục tố tụng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tiến hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Anh R là người nhận chuyển nhượng đất từ anh T1 thuộc trường hợp người thứ ba ngay tình nên được pháp luật bảo vệ, nên anh N kháng cáo yêu cầu sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh R, chấp nhận yêu cầu phản tố của anh N, là không có căn cứ chấp nhận. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm anh R đồng ý thanh toán giá trị căn nhà cho anh N số tiền bằng 15.841.584 đồng (Mười lăm triệu tám trăm bốn mươi mốt nghìn năm trăm tám mươi bốn đồng), anh N cũng đồng ý theo ý kiến của anh R, nên đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận giữa anh R và anh N về việc thanh toán giá trị căn nhà.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn không rút đơn khởi kiện của nguyên đơn, bị đơn không rút đơn yêu cầu phán tố và không rút đơn kháng cáo; các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án. Qua các chứng cứ có trong hồ sơ, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, quan điểm của Kiểm sát viên; Hội đồng xét xử thấy rằng:
- Ngày 02 tháng 7 năm 2020, anh Mai Văn T1 và chị Huỳnh Thị T2 lập Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho anh Nguyễn Văn R, diện tích đất 816m² (Đất ở tại nông thôn 300m² và đất trồng cây lâu năm 516m²), thửa số 1395, tờ bản đồ số 06, tọa lạc tại ấp Đ, xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Hợp đồng được Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Đ chứng thực số 127, quyển số 07-SCT/HĐ,GD, ngày 02/7/2020 (BL 114, 115, 147, 148). Đến ngày 06/7/2020, Giám đốc Văn phòng Đăng ký đất đai chi nhánh huyện C, tỉnh Trà Vinh xác nhận chỉnh lý biến động đất đai cho anh R (BL 150).
- Anh R khai rằng, sau khi nhận chuyển nhượng đất từ anh T1 và chị T2 thì anh R chưa quản lý, sử dụng diện tích đất. Khoảng tháng 9 năm 2021, anh Mai Văn N là anh chú bác ruột với anh T1 đến đốn cây và sửa chữa căn nhà bỏ hoang trên diện tích đất 589,3m² nằm trong diện tích đất 816m² mà anh T1 và chị T2 đã chuyển nhượng cho anh R. Còn anh N khai, nguồn gốc đất là của ông bà nội anh N và anh T1 tặng cho cha của anh N (Ông Mai Văn T6), cha anh Nhiều sử dụng đất tranh chấp làm nhà ở từ năm 1975. Riêng phần diện tích đất tặng cho cha anh T1 (Ông Mai Văn L1) ở vị trí giáp lộ.
- Theo tài liệu đo đạc năm 1983, ông L1 kê khai đăng ký diện tích đất 3.800m², thửa số 76, vị trí diện tích đất ở hướng Nam tiếp giáp với thửa số 218, diện tích 480m² (BL 90). Đến thời kỳ kê khai đăng ký đất đai năm 1996, ông L1 tiếp tục đăng ký diện tích đất 3.800m², thửa số 76, sau đó gạch ngang ngay diện tích đất và viết ở trên số liệu “5.740m²”, bao gồm cả diện ích đất 480m², thửa số 218 của tài liệu địa chính năm 1983 (BL 91, 92, 93). Ngày 06/7/1996, Ủy ban nhân dân huyện C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông L1, diện tích 5.740m², thửa số 76 (BL 94).
- Năm 1998, ông L1 lập hợp đồng tặng cho con ruột tên Mai Thanh Đ toàn bộ diện tích đất 5.740m², thửa số 76. Năm 2007, anh Đ tặng cho anh Mai Thanh M (BL 98, 102, 103). Sau khi được tặng cho đất, anh M làm thủ tục xin tách thửa đất số 67, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện C tiến hành đo đạc lại diện tích đất theo hiện trạng tăng 187m², nên Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện C làm tờ trình đề nghị Ủy ban nhân dân huyện C công nhận diện tích tăng thêm 187m² cho anh M và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh M thành hai thửa, thửa số 1395, diện tích 816m² và thửa số 1396, diện tích 5.111m². Ngày 14/3/2017, anh M chuyển nhượng thửa đất số 1395 cho anh T1, đến ngày 02/7/2020, anh T1 tiếp tục chuyển nhượng lại cho anh R (BL 104, 105, 106, 107, 108, 110, 111, 113, 114, 115).
- Như vậy, khi ông L1 kê khai, đăng ký và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1996, ông L1 tặng cho đất anh Đ, anh Đ chuyển nhượng đất cho anh M, anh M chuyển nhượng đất cho anh T1 và anh T1 chuyển nhượng đất cho anh R, thì đã có căn nhà của ông T6 là cha của anh N đang tồn tại trên một phần diện tích đất. Nhưng khi tặng cho đất và chuyển nhượng đất không có sự đồng ý của ông T6, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông T6, nên các hợp đồng tặng cho đất, chuyển nhượng đất từ ông L1 sang qua anh Đ, từ anh Đ sang qua anh M, từ anh M sang qua anh T1 và từ anh T1 sang qua anh R đã vô hiệu một phần đối với diện tích đất gắn liền với căn nhà của ông T6 đang quản lý, sử dụng, kể từ thời điểm xác lập.
- Tuy nhiên, anh R nhận chuyển nhượng đất từ anh T1 vào năm 2020, sau ngày Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực thi hành. Theo khoản 2 Điều 133 của Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định “Trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng tài sản đã được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, sau đó được chuyển giao bằng một giao dịch dân sự khác cho người thứ ba ngay tình và người này căn cứ vào việc đăng ký đó mà xác lập, thực hiện giao dịch thì giao dịch đó không vô hiệu”. Như vậy, anh R là người thứ ba ngay tình được pháp luật bảo vệ. Tòa án sơ thẩm xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh R, là có căn cứ. Kháng cáo của anh N là không có cơ sở chấp nhận.
- Theo khoản 3 Điều 133 của Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định “Chủ sở hữu không có quyền đòi lại tài sản từ người thứ ba ngay tình, nếu giao dịch dân sự với người này không bị vô hiệu theo quy định tại khoản 2 Điều này nhưng có quyền khởi kiện, yêu cầu chủ thể có lỗi dẫn đến việc giao dịch được xác lập với người thứ ba phải hoàn trả những chi phí hợp lý và bồi thường thiệt hại”. Mặc dù, ông T6 (Cha của anh N) không thực hiện quyền, nghĩa vụ về kê khai, đăng ký và cấp quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai qua các thời kỳ, đối với phần diện tích đất ông T6 quản lý, sử dụng làm nhà ở. Nhưng anh T1 chuyển nhượng cho anh R cả phần diện tích đất ông T6 quản lý, sử dụng làm nhà ở trong khi không có sự đồng ý của những người thuộc hàng thừa kế theo pháp luật của ông T6. Vì vậy, anh N và những người thuộc hàng thừa kế theo pháp luật của ông T6 có quyền khởi kiện yêu cầu anh T1 hoàn trả chi phí hợp lý và bồi thường thiệt hại tại Tòa án nhân dân cấp có thẩm quyền để thụ lý, giải quyết bằng một vụ án dân sự khác.
- Tại phiên tòa phúc thẩm anh R đồng ý thanh toán cho anh N giá trị căn nhà của ông T6 đã xây dựng trên một phần diện tích đất mà anh T1 chuyển nhượng cho anh R theo giá trị tài sản được Tòa án sơ thẩm định giá bằng 15.841.584 đồng (Mười lăm triệu tám trăm bốn mươi mốt nghìn năm trăm tám mươi bốn đồng). Anh N thống nhất nhận số tiền bồi thường giá trị căn nhà theo ý kiến của anh R. Đây là sự tự nguyện giữa anh R và anh N, sự tự nguyện này không trái đạo đức xã hội, không vi phạm điều cấm của pháp luật. Vì vậy, công nhận sự thỏa thuận của anh R và anh N, sửa bản án sơ thẩm.
- Quan điểm của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh N, sửa bản án sơ thẩm, là không có căn cứ chấp nhận. Phần quan điểm còn lại của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn là có căn cứ.
- Quan điểm của Kiểm sát viên: Đề nghị Hội đồng xét, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh N, sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của anh R và anh N về việc thanh toán giá trị căn nhà, là có căn cứ.
- Anh N là người kháng cáo không được Tòa án phúc thẩm chấp nhận, nên buộc anh N phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật bằng 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm anh N đã nộp bằng 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu số 0004509, ngày 07/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh, nên không phải nộp tiếp. Buộc anh R và anh N, mỗi người phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo sự thỏa thuận tại phiên tòa phúc thẩm đối với giá trị căn nhà bằng 396.039 đồng (15.841.584đ x 50% x 5% = 396.039₫).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh Mai Văn N.
Sửa bản án sơ thẩm số 60/2024/DS-ST, ngày 23-9-2024 của Tòa án nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh.
- Đình chỉ giải quyết vụ án đối với phần yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn R về việc yêu cầu anh Mai Văn N bồi thường thiệt hại tài sản số tiền bằng 4.700.000 đồng.
- Chấp nhận phần yêu cầu khởi kiện đòi lại đất của anh Nguyễn Văn R.
- Không chấp nhận yêu cầu phản tố của anh Mai Văn N.
- Buộc anh Mai Văn N có nghĩa vụ di dời tài sản có trên đất (trừ căn nhà) để giao trả lại cho anh Nguyễn Văn R diện tích đất 589,3m² (Trong đó có 25m² thuộc HLATĐB), thửa số 1395, tờ bản đồ số 06, tọa lạc tại ấp Đ, xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
- Công nhận sự thỏa thuận giữa anh Nguyễn Văn R và anh Mai Văn N về việc anh Nguyễn Văn R hoàn trả giá trị căn nhà của ông Mai Văn T6 cho anh Mai Văn N số tiền bằng 15.841.584 đồng (Mười lăm triệu tám trăm bốn mươi mốt nghìn năm trăm tám mươi bốn đồng).
- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Buộc anh Mai Văn N phải chịu toàn bộ số tiền bằng 3.574.000 đồng (Ba triệu năm trăm bảy mươi bốn nghìn đồng), để hoàn trả cho anh Nguyễn Văn R.
- Về án phí: Buộc anh Nguyễn Văn R phải chịu án phí dân sự sơ thẩm bằng 396.039 đồng (Ba trăm chín mươi sáu nghìn không trăm ba mươi chín đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm anh Nguyễn Văn R đã nộp bằng 2.617.500 đồng (Hai triệu sáu trăm mười bảy nghìn năm trăm đồng), theo biên lai thu số 0013757, ngày 01/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh. Hoàn trả tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm cho anh Nguyễn Văn R bằng 2.221.461 đồng (Hai triệu hai trăm hai mươi mốt nghìn bốn trăm sáu mươi mốt đồng).
(Phần B trên sơ đồ khu đất kèm theo)
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của bên được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu thêm cho bên được thi hành án khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
Buộc anh Mai Văn N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm bằng 696.039 đồng (Sáu trăm chín mươi sáu nghìn không trăm ba mươi chín đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm anh Mai Văn N đã nộp bằng 20.066.000 đồng (Hai mươi triệu không trăm sáu mươi sáu nghìn đồng), theo biên lai thu số 0013882, ngày 18/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh. Hoàn trả số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm còn lại cho anh Mai Văn N bằng 19.369.961 đồng (Mười chín triệu ba trăm sáu mươi chín nghìn chín trăm sáu mươi mốt đồng).
Buộc anh Mai Văn N phải chịu án phí dân sự phúc thẩm bằng 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm anh Mai Văn N đã nộp bằng 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu số 0004509, ngày 07/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh, nên không phải nộp tiếp.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Đê |
Bản án số 129/2025/DS-PT ngày 23/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH về tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất
- Số bản án: 129/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất Nguyễn Văn R với Mai Văn Nh
