TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 129/2025/DS-PT Ngày: 21/3/2025 V/v "Tranh chấp quyền sử dụng đất" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Đình Khánh;
Các Thẩm phán: Ông Thái Duy Nhiệm;
Ông Bùi Xuân Trọng.
Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Hải An - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Mai, Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 21 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa công khai xét xử phúc thẩm vụ án dân sự thụ lý số 611/2024/TLPT-DS ngày 26 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” do có kháng cáo của nguyên đơn đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 12/2024/DS-ST ngày 10/7/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm xét thấy ngày 05 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
- * Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị A, sinh năm 1960; địa chỉ: Thôn I (thôn Đ), xã Q, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; có mặt.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Bà Đặng Thị Phương A1 – Luật sư Công ty L2 thuộc Đoàn luật sư tỉnh H; có mặt.
- * Bị đơn: Ông Nguyễn Quốc H, sinh năm 1962 và bà Cao Thị B, sinh năm 1971; địa chỉ: Thôn I (thôn Đ), xã Q, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; đều có mặt.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Ông Nguyễn Thành T - Luật sư Công ty L3, thuộc Đoàn luật sư tỉnh H; có mặt.
- * Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1982; địa chỉ: Tổ dân phố H, thị trấn P, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; có mặt.
- Chị Nguyễn Thị O, sinh năm 1983; địa chỉ: Tổ dân phố H, thị trấn P, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; có mặt.
- Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1985; địa chỉ: Thôn I (thôn Đ), xã Q, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; vắng mặt.
- Anh Nguyễn Thành C, sinh năm 1995; địa chỉ: Thôn I (thôn Đ), xã Q, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; vắng mặt.
- Người đại diện theo uỷ quyền của anh T1: Bà Nguyễn Thị A; địa chỉ: Thôn I (thôn Đ), xã Q, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; có mặt.
- Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1935; địa chỉ: Thôn I (thôn Đ), xã Q, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; vắng mặt.
- Người đại diện theo ủy quyền của bà L: Ông Nguyễn Quốc H, sinh năm 1962; địa chỉ: Thôn I (thôn Đ), xã Q, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; có mặt.
- Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; vắng mặt.
- Ủy ban nhân dân xã Q, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh;
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Chí T2, chức vụ: Công chức địa chính – xây dựng UBND xã Q; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Văn phòng Đ chi nhánh H7 - Đ, tỉnh Hà Tĩnh.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phan Thanh H1, chức vụ: cán bộ thẩm định hồ sơ Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, quá trình tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị A trình bày như sau:
Năm 1989, bà A và chồng là ông Nguyễn Văn L1 (tên gọi khác Nguyễn L1) được Ủy ban nhân dân xã S (nay là xã Q) và Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Hà Tĩnh cấp cho phần diện tích đất 1.264 m², trong đó có 300 m² đất ở và 964 m² đất vườn, với lệ phí là 64.000 đồng, phần diện tích đất được cấp có tứ cận như sau: Phía Đông giáp đất bà H4 Nghệ dài khoảng 30 m; phía Tây giáp đất canh tác dài khoảng 30 m; phía Nam giáp đường lối thôn H dài khoảng 42 m; phía Bắc giáp đất canh tác dài khoảng 30 m. Do điều kiện tại thời điểm năm 1989 khó khăn, các con còn nhỏ nên chưa có điều kiện ra ở trên diện tích đất vườn được cấp. Năm 1995 ông Nguyễn Quốc H (em trai ông L1) lấy vợ nên xin vợ chồng ông L1, bà A cho mượn để ở tạm trên phần diện tích đất mà ông L1, bà A đã được cấp. Đến năm 1998 diện tích đất trên đã được Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Hà Tĩnh cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R 751248, ngày 21/11/1998, mang tên Nguyễn L1; địa chỉ thửa đất ở tại xóm A, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh (nay là thôn H, xã Q). Năm 2010, vợ chồng bà A, ông L1 đã thế chấp mảnh đất này tại Ngân hàng N2 - Chi nhánh huyện H7 để vay số tiền 100.000.000 đồng.
Năm 2014, vợ chồng ông H cùng vợ là bà Cao Thị B đến năn nỉ vợ chồng bà A, ông L1 về việc bán cho ông H, bà B 06 m để làm nhà bếp nên bà A, ông L1 đã bán cho ông H 06 m (mét chạy) trong tổng số 1.264 m² với giá 30.000.000 đồng. Phần đất ông H, bà B đã xây nhà và các công trình trên đất và phần đất còn lại là thuộc quyền sử dụng của ông L1, bà A, vì ông L1, bà A chưa bán cũng như chưa cho ai hết. Hiện nay, ông L1 đã chết (chết ngày 17/10/2021) các con của bà A đã lớn, đã có gia đình nên cần đất để ở riêng, bà A đã nhiều lần đến yêu cầu ông H, bà B trả lại mặt bằng để bà A lấy đất cho con ra ở riêng, nhưng ông H, bà B không nhất trí, có lời lẽ thách đố và xúc phạm đến bà A. Ông H, bà B cho rằng toàn bộ diện tích đất đó là của gia đình ông H, bà B, tuy nhiên ông H, bà B lại không xuất trình được giấy tờ, tài liệu gì để chứng minh. Mặt khác nếu đó là đất của mình thì việc gì ông H, bà B phải bỏ ra số tiền 30.000.000 đồng để mua 06 m đất của bà A, ông L1.
Bà A cho rằng toàn bộ phần diện tích đất 1.264 m² là thuộc quyền sử dụng đất của gia đình bà, sự việc đã được chính quyền địa phương hòa giải nhiều lần nhưng không thành, do vậy bà A khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông Nguyễn Quốc H, bà Cao Thị B phải trả lại phần diện tích đất mà ông H, bà B đang chiếm dụng (trừ phần diện tích mà bà A, ông L1 đã bán vào năm 2014).
Bị đơn ông Nguyễn Quốc H và bà Cao Thị B trình bày:
Phần diện tích đất đang tranh chấp có nguồn gốc là do mẹ của ông H là bà Nguyễn Thị L mua của chính quyền năm 1989, để cho ông Nguyễn Văn L1 (anh trai ông H) ra ở riêng, nhưng ông L1 không ra ở, nên bà L đã cho con là Nguyễn Thị H2 ở, chị H2 ở từ năm 1991 đến năm 1995 thì ông H bắt đầu ở trên diện tích này từ đó cho đến nay. Vào năm 1995 đến ở tại mảnh đất thì ông H, bà B ở trên ngôi nhà gỗ 02 gian và các công trình phụ trợ, đến năm 2011 thì ông H, bà B bắt đầu làm nhà kiên cố để ở, năm 2014 khi ông H, bà B tiến hành làm nhà ngang thì mới phát sinh tranh chấp. Quá trình sử dụng đất ông H, bà B thực hiện đầy đủ nghĩa vụ về thuế đối với nhà nước. Tuy nhiên, hiện nay ông H, bà B không có bất cứ giấy tờ gì liên quan để chứng minh phần diện tích đã ở từ trước đến nay thuộc quyền sử dụng hợp pháp của mình. Ông H, bà B thừa nhận có việc ông H, bà B đưa cho bà A, ông L1 số tiền 30.000.000 đồng, nhưng đó không phải là số tiền mua đất, mà là khi tiến hành làm nhà ngang thì mẹ của ông H đã nói với ông H đưa cho ông L1, bà A số tiền này coi như là của hồi môn, nên ông H mới đưa.
Do vậy, ông H, bà B không chấp nhận đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị A.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Chị Nguyễn Thị N, chị Nguyễn Thị O, anh Nguyễn Thành C, anh Nguyễn Văn T1 (con của bà A và ông L1) đều thống nhất như quan điểm của bà Nguyễn Thị A và đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết để đảm bảo quyền lợi cho gia đình.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị L trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà có ý kiến trình bày: Đất mà Nguyễn Quốc H đang ở trước đây bà mua của UBND xã sau đó bà cho con gái là Nguyễn Thị H2 ở. Sau đó ông H lấy vợ thì bà cho ông H và vợ ở. Quá trình mua và cho thì bà không có giấy tờ gì. Hiện nay các con bà đang tranh chấp bà đề nghị Toà án giải quyết theo quy định pháp luật.
Tại Văn bản số 05/UBND ngày 17/02/2023 của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan UBND xã Q, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà đại diện UBND xã Q trình bày:
- - Căn cứ vào hồ sơ lưu ở UBND xã Q (sổ 05) và thực tế sử dụng thửa đất ở, đất trồng cây lâu năm của bà Nguyễn Thị A (vợ ông L1), xét thấy giấy chứng nhận QSD đất cấp cho ông Nguyễn L1 (chồng bà A) số R 751248, địa chỉ thửa đất xóm A, xã S là ở tại rú C, thôn I, xã S cũ (nay là thôn Đ, xã Q), ở từ năm 1982 đến nay, do thửa đất chưa được đo đạc bản đồ giải thửa 299 nên Giấy chứng nhận QSD đất cấp cho ông L1 không ghi số thửa, số tờ bản đồ, tương tự một số hộ ở cùng thôn (xóm A, thôn I, xã S cũ) cơ bản đều được cấp Giấy chứng nhận QSD đất cùng thời điểm nhưng không ghi số thửa, số tờ bản đồ, do chưa đo đạc bản đồ giải thửa 299 (ví dụ hộ ông Phan T3, liền kề vườn bà A, ông L1, năm 2007 đã chuyển nhượng cho bà A, ông L1). Còn nếu xác định Giấy chứng nhận QSD đất cấp cho ông Nguyễn L1 (chồng bà A) số R 751248 tại vị trí đất đang tranh chấp với ông Nguyễn Văn H3 (thôn Q) là không có cơ sở, vì thửa đất ông H3 đang sử dụng là ở thôn Q (xóm A, thôn H cũ), các hộ ở liền kề đất ông H3 đang ở tại thôn Q như hộ bà Phan Thị T4, hộ ông Nguyễn N1 (nay là bà Nguyễn Thị H4, Nguyễn Thị H5) đều được cấp Giấy chứng nhận QSD đất với diện tích là 1.000 m² (300 m² đất ở, 700 m² đất vườn, tờ bản đồ số 1), trong khi đó cấp cho ông L1 ở xóm A (thôn I cũ) là 1.264 m² (300 m² đất ở, 964 m² đất vườn), không ghi số thửa, số tờ bản đồ, xét thấy không cùng địa chỉ thửa đất cũng như diện tích cấp giấy cho các hộ ở trong 1 vùng đất không có sự tương đồng tại thời điểm cấp giấy.
- - Vị trí thửa đất: Quá trình kiểm tra, xác minh thực địa thửa đất tại xóm A, xã S (nay thôn I, xã Q), hộ gia đình bà Nguyễn Thị A (vợ ông Nguyễn L1) sử dụng 03 thửa đất có vị trí liền kề nhau cụ thể 01 thửa là của hộ gia đình ông sử dụng vào mục đích đất ở, đất vườn ổn định từ năm 1982 đến nay, 01 thửa đất do hộ gia đình nhận chuyển nhượng của ông Phan T3 vào năm 2007 đã được cấp GCNQSD đất số AH 813587 và 01 thửa đất nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Đình H6 năm 1994 nhưng chưa được cấp GGCQSD đất; ngoài 3 thửa đất trên thì hộ gia đình không có thửa đất ở, đất vườn nào khác. Thửa đất được cấp Giấy chứng nhận QSD đất số R 751248 có vị trí như sau:
- + Phía Đông: Giáp thửa đất bà Nguyễn Thị A (nhận chuyển nhượng của ông Phan T3 năm 2007) và đất nhà nước quản lý;
- + Phía Tây: Giáp khe suối (khe Phố) bám đường giao thông;
- + Phía Nam: Giáp đường giao thông;
- + Phía Bắc: Giáp đất lâm nghiệp (rú C), xen kẽ nghĩa trang sẵn có;
Tại Văn bản số 226/UBND - TNMT ngày 21/02/2023 của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan UBND huyện H, quá trình giải quyết vụ án đã trình bày:
- - Qua kiểm tra hồ sơ cấp GCNQSD đất gồm Giấy CNQSD đất mang số phát hành R 751248 cấp ngày 21/11/1998 và sổ cấp giấy 05 thì phần diện tích đất ở 300 m² và đất vườn 964 m² của hộ gia đình ông Nguyễn L1 không ghi số thửa, số tờ bản đồ nhưng đều thể hiện địa chỉ thửa đất tại xóm A, xã S (nay thôn I, xã Q), huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; Vị trí thửa đất được xác định tại tờ bản đồ giải thửa số 01, nhưng chưa được đo vẽ trên bản đồ giải thửa.
- Quá trình kiểm tra, xác minh thực địa thửa đất tại xóm A, xã S (nay thôn I, xã Q): Hộ gia đình ông Nguyễn L1 sử dụng 03 thửa đất có vị trí liền kề nhau cụ thể 01 thửa là của hộ gia đình ông sử dụng vào mục đích đất ở, đất vườn ổn định từ năm 1982 đến nay; 01 thửa đất do hộ gia đình nhận chuyển nhượng của ông Phan T3 vào năm 2007 đã được cấp GCNQSD đất số AH 813587 và 01 thửa đất nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Đình H6 năm 1994 nhưng chưa được cấp GGCQSD đất; ngoài 03 thửa đất trên thì hộ gia đình không có thửa đất ở, đất vườn nào khác.
- - Từ những nội dung nêu trên và theo báo cáo của UBND xã Q xác định phần diện tích đất ở, đất vườn cấp cho ông Nguyễn L1 theo GCNQSD đất số R751248 ngày 21/11/1998 có vị trí tại xóm A (thôn I), xã Q, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh với ranh giới, tứ cận như sau:
- + Phía Đông giáp: đất ông L1 (nhận chuyển nhượng đất ông Phan T3 + Đất UBND xã quản lý);
- + Phía Tây giáp: đường giao thông;
- + Phía Bắc giáp: đất nghĩa trang, nghĩa địa;
- + Phía Nam giáp: đường giao thông.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất chi nhánh H7 - Đ: Trong quá trình giải quyết vụ án có ý kiến đề nghị Toà án giải quyết theo quy định pháp luật.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 12/2024/DS-ST ngày 10/7/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã áp dụng khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 37, Điều 147, khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 165 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 166, Điều 494 Bộ luật dân sự năm 2015; các Điều 98, 100, 166, 167, 170, 179, 188 Luật đất đai năm 2013; khoản 3 Điều 26; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử: Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị A.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá; án phí dân sự sơ thẩm và thông báo quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 18/7/2024, nguyên đơn bà Nguyễn Thị A có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn bà Nguyễn Thị A giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và nội dung kháng cáo.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Bị đơn và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội có quan điểm: Sau khi phân tích tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị A là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn và giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên đại diện cho Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về thời hạn kháng cáo, sau khi xét xử sơ thẩm, bà Nguyễn Thị A có đơn kháng cáo trong thời hạn luật định, phù hợp với quy định tại các Điều 271, 272 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự, nên kháng cáo là hợp lệ, được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[1.2] Tại phiên tòa phúc thẩm, một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo mặc dù đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy sự vắng mặt của các đương sự không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án; việc tiếp tục giải quyết vụ án như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.3] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Tại đơn khởi kiện, nguyên đơn bà Nguyễn Thị A cho rằng phần diện tích đất đang tranh chấp thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà và ông Nguyễn Văn L1 cho bị đơn ông Nguyễn Quốc H, bà Cao Thị B mượn từ năm 1995 nhưng đến nay không trả, nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất. Do đó Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp quyền sử dụng đất, đòi lại đất cho mượn” theo quy định tại khoản 3, khoản 9 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Đồng thời, Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã căn cứ các quy định tại khoản 3 Điều 35, Điều 37, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự để thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
[2] Về nội dung: Xét kháng cáo của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:
[2.1] Về yêu cầu đòi lại đất cho mượn: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả lại phần diện tích đất của nguyên đơn đã được cấp từ năm 1989, đến năm 1995 nguyên đơn đã cho bị đơn mượn (trừ phần diện tích mà bà A, ông L1 đã bán vào năm 2014):
Nguyên đơn khẳng định cho bị đơn mượn đất, nhưng không có văn bản để chứng minh, cũng như không có người làm chứng về việc này vì nguyên đơn cho rằng việc cho mượn chỉ thỏa thuận bằng miệng giữa hai bên. Trong khi bị đơn lại phủ nhận việc mượn đất của nguyên đơn khi cho rằng phần diện tích đất này là của bà Nguyễn Thị L đã cho bị đơn sử dụng. Nguyên đơn cho rằng phần diện tích đất này từ năm 1989 nguyên đơn đã được UBND xã S và UBND huyện H cấp có thu lệ phí với số tiền 64.000 đồng. Tuy nhiên, phía nguyên đơn không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào để chứng minh. Mặt khác, theo tài liệu của Chi nhánh Văn phòng Đ cung cấp cho Tòa án, hồ sơ cấp đất của ông Nguyễn L1 vào năm 1998, cũng không có tài liệu nào thể hiện năm 1989 ông L1 đã được cấp phần diện tích đất 1.264 m².
Về quá trình sử dụng thực tế của bị đơn: Bị đơn sử dụng phần diện tích đất đang tranh chấp từ năm 1995, trong quá trình đó thì bị đơn đã tác nghiệp, xây dựng nhà ở kiên cố trên phần diện tích đất này và nguyên đơn có biết bị đơn xây dựng các công trình này, nhưng phía nguyên đơn không có tranh chấp, hay yêu cầu phía bị đơn dừng tác nghiệp trong quá trình bị đơn xây dựng nhà ở kiên cố. Điều đó, chứng tỏ về mặt ý chí chủ quan của nguyên đơn không thể hiện đúng bản chất của người chủ đất khi cho người khác mượn đất, vì trên thực tế nếu khi phát hiện bên mượn đất xây dựng công trình kiên cố, thì bên cho mượn sẽ không đồng ý.
[2.2] Về việc nguyên đơn cho rằng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R 751248 ngày 21/11/1998 do UBND huyện H, tỉnh Hà Tĩnh cấp cho ông Nguyễn L1 (tên gọi khác Nguyễn Văn L1) với diện tích 1.264 m², là cấp cho ông L1 đối với phần diện tích hiện nay đang tranh chấp:
[2.2.1] Về nguồn gốc: Như phân tích ở trên thì không có căn cứ để khẳng định phần diện tích đất 1.264 m² có trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số số R 751248 ngày 21/11/1998 mang tên ông Nguyễn L1 có nguồn gốc từ phần diện tích đất mà ông L1 đã được cấp đất từ năm 1989.
[2.2.2] Về vị trí thửa đất đã cấp cho ông Nguyễn L1 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R 751248 ngày 21/11/1998: Trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông L1 không thể hiện phần đất có diện tích 1.264 m² (đất ở 300 m² và đất vườn 964 m²) thuộc thửa đất và tờ bản đồ số mấy, mà chỉ thể hiện vị trí thửa đất thuộc địa giới hành chính xóm A, xã S. Theo tài liệu do Chi nhánh Văn phòng Đ - Đ cung cấp cho Tòa án liên quan đến quá trình cấp đất cho ông L1 vào năm 1998, không có sơ đồ vị trí thửa đất, biên bản giao đất thực địa, trích lục thửa đất. Như vậy, căn cứ vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũng như các tài liệu kèm theo liên quan đến quá trình cấp đất không thể xác định vị trí thửa đất cấp cho ông L1 có vị trí như thế nào trên thực tế, mà chỉ có một thông tin duy nhất là phần diện tích 1.264 m² nằm trong địa giới hành chính xóm A, xã S (cũ). Ngoài ra, trong quá trình giải quyết vụ án, Văn phòng đăng ký đất đai cung cấp hồ sơ thửa đất của hộ ở liền kề đất ông H đang ở tại thôn Q như hộ ông Nguyễn N1 (nay là bà Nguyễn Thị H4, Nguyễn Thị H5) thể hiện vị trí đất là ở xóm A.
[2.2.3] Về quá trình sử dụng đất của nguyên đơn: Trong biên bản lấy lời khai cũng như tại phiên tòa thì nguyên đơn khẳng định là từ năm 1989 cho đến nay phía nguyên đơn chưa có khi nào tác nghiệp, sử dụng và sinh sống trên phần diện tích đất hiện nay đang tranh chấp và nguyên đơn cũng chưa từng thực hiện bất cứ một nghĩa vụ gì về thuế hay các nghĩa vụ khác với Nhà nước đối với phần diện tích đất đang tranh chấp.
[2.2.4] Về diện tích thể hiện trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R 751248 ngày 21/11/1998 mang tên ông Nguyễn L1 với diện tích thực tế qua thẩm định: Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R 751248 ngày 21/11/1998 thì phần diện tích cấp cho ông Nguyễn L1 là 1.264 m², nhưng qua xem xét thẩm định tại chỗ thì phần diện tích thực tế hiện nay có tổng diện tích là 1.879,2 m². Như vậy, giữa diện tích mà nguyên đơn cho rằng mình đã được cấp với diện tích thực tế theo thẩm định hoàn toàn không có sự tương đồng nhau về diện tích, mà có sự chênh lệch lên tới 615,2 m².
[2.2.5] Về các nội dung khác theo quan điểm của nguyên đơn đối với phần diện tích đất đang tranh chấp:
Về việc nguyên đơn chuyển nhượng cho bị đơn phần diện tích đất 06 m với giá 30.000.000 đồng: Trong đơn khởi kiện cũng như trong biên bản lấy lời khai và trình bày tại phiên tòa nguyên đơn cho rằng vào năm 2014, phía nguyên đơn đã chuyển nhượng cho bị đơn 01 phần diện tích có chiều rộng 06 m (nằm trong tổng diện tích 1.264 m²), với giá là 30.000.000 đồng, nên khẳng định phần đất hiện đang tranh chấp phải thuộc quyền sử dụng của nguyên đơn thì bị đơn mới đồng ý trả tiền để nhận chuyển nhượng. Tuy nhiên, nguyên đơn không đưa ra được bất cứ tài liệu, chứng cứ nào để chứng minh việc chuyển nhượng, chính quyền địa phương cũng không được phía nguyên đơn hay bị đơn khai báo về việc chuyển nhượng này và trên thực tế thì đến thời điểm này bị đơn cũng chưa được cơ quan nào cấp hay xác thực về việc nhận chuyển nhượng đất từ phía nguyên đơn. Bị đơn thừa nhận năm 2014, có đưa cho nguyên đơn số tiền 30.000.000 đồng, nhưng đây là số tiền do bà Nguyễn Thị L (mẹ bị đơn) nói đưa cho anh Nguyễn Văn L1 (anh trai bị đơn) coi như là tiền hồi môn vì bị đơn đã được mẹ cho sử dụng đất, số tiền này hoàn toàn không liên quan đến việc chuyển nhượng đất, vì bị đơn không nhận chuyển nhượng từ phía nguyên đơn bất cứ một phần diện tích nào.
Về việc vay vốn tại Ngân hàng: Nguyên đơn cho rằng nguyên đơn đã thế chấp phần diện tích đất hiện đang tranh chấp để vay vốn tại Ngân hàng N2, Chi nhánh huyện H7, việc Ngân hàng đã đồng ý cho nguyên đơn thế chấp phần diện tích đất để vay vốn, điều đó chứng tỏ phần diện tích đất phải thuộc quyền sử dụng hợp pháp của nguyên đơn. Tuy nhiên, theo tài liệu của phía Ngân hàng cung cấp, cũng như quan điểm trình bày của Ngân hàng trong quá trình giải quyết vụ án, Ngân hàng thừa nhận có cho hộ gia đình bà Nguyễn Thị A vay vốn, nhưng cho vay không có đảm bảo bằng tài sản vay (vay tín chấp) theo Nghị định 55/2015/NĐ-CP ngày 09/6/2015 và Nghị định số 116/2018/NĐ-CP của Chính phủ. Do vậy, hoàn toàn không có việc phần diện tích đất đang tranh chấp đã được phía Ngân hàng đồng ý cho nguyên đơn dùng để thế chấp khi vay vốn.
Từ những phân tích, đánh giá các quan điểm, tài liệu do các bên đương sự cung cấp và Tòa án thu thập, đủ căn cứ để khẳng định:
- - Không có căn cứ xác định vào năm 1995 gia đình nguyên đơn bà Nguyễn Thị A đã cho gia đình ông Nguyễn Quốc H, bà Cao Thị B mượn phần diện tích hiện nay đang tranh chấp.
- - Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R 751248 ngày 21/11/1998 của UBND huyện H, tỉnh Hà Tĩnh cấp cho ông Nguyễn L1 (Nguyễn Văn L1), không phải cấp đối với phần diện tích ở vị trí mà hiện nay các bên đang tranh chấp.
Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ.
Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị A như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
[3] Về án phí, bà Nguyễn Thị A là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, bác kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị A; giữ nguyên quyết định của Bản án dân sự sơ thẩm số 12/2024/DS-ST ngày 10/7/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
- Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà Nguyễn Thị A được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của Bản án dân sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
* Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Đình Khánh |
Bản án số 129/2025/DS-PT ngày 21/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 129/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 21/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
