|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 129/2024/KDTM-ST Ngày: 25/6/2024 V/v tranh chấp hợp đồng gia công |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Phước Lý
Các Hội thẩm nhân dân.
Ông Nguyễn Văn Phú
Ông Nguyễn Đình Tuấn
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Đài Trang- Thư ký Tòa án nhân dân
quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí
Minh tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Chung Thủy- Kiểm sát viên
Ngày 25 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 92/2023/TLST-KDTM ngày 12 tháng 7 năm 2023 về tranh chấp hợp đồng gia công theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 286/2024/QĐST-KDTM ngày 14 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 176/2024/QĐST-KDTM ngày 30 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Công ty Cổ phần N2; địa chỉ: 3 N, Ấp A, xã T, huyện C, Tp
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Võ Thị Bích N, Ông Đỗ Tiến Đ (Văn bản ủy quyền ngày 01/11/2022).
2. Bị đơn: Công ty TNHH T; địa chỉ: Tòa nhà S, Số A Hồ N, Phường B, quận T, Tp ..
Người đại diện theo pháp luật của bị đơn: Ông Ghani N1; địa chỉ liên lạc: A B, Phường B, quận T, Tp .; là Giám đốc Công ty.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 11/4/2023, nguyên đơn Công ty Cổ phần N2 và người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Từ ngày 01/10/2021 đến ngày 05/9/2022, Công ty cổ phần N2 (Gọi tắt là Công ty N2) và Công ty TNHH T (Gọi tắt là Công ty T) đã ký hợp đồng nguyên tắc số 20200610/BE-AA ngày 06/10/2020 về gia công hàng hóa và phụ lục hợp đồng (phụ lục hợp đồng ngày 18/11/2021, hợp đồng gia công ngày 29/11/2021, hợp đồng gia công ngày 10/4/2021) (Gọi tắt là hợp đồng) với tổng giá trị 1.261.191.029đ. Công ty T đã thanh toán 857.312.838đ, còn nợ 403.878.191₫ không thanh toán nữa. Công ty N2 nhiều lần yêu cầu Công ty T thanh toán nhưng Công ty T không có thiện chí thanh toán nợ. Do đó, Công ty N2 khởi kiện yêu cầu, yêu cầu Tòa án buộc Công ty T phải thanh toán cho nguyên đơn số tiền còn nợ của hợp đồng gia công nêu trên, gồm số tiền còn nợ chưa thanh toán 403.878.191₫ và tiền lãi do chậm thanh toán tạm tính từ ngày 03/3/2022 cho đến ngày nộp đơn kiện 11/4/2023 là 52.504.165đ; thanh toán ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.
Phiếu cung cấp thông tin doanh nghiệp ngày 22/5/2023 do Phòng Đăng ký kinh doanh Sở K cung cấp thì bị đơn Công ty T có địa chỉ trụ sở như trong đơn kiện và các hợp đồng đã giao kết giữa các bên, không có đăng ký thay đổi về trụ sở kinh doanh, người đại diện theo pháp luật.
Tại kết quả xác minh của Công an P, quận T đã cung cấp thông tin: “Tại địa chỉ A Hồ N, Phường B, quận T không có Công ty TNHH T và nước giải khát Bella hoạt động kinh doanh” và người đại diện theo pháp luật của bị đơn ông Ghani N1 không có đăng ký tạm trú và thực tế cư trú tại địa chỉ A Hồ N, Phường B, quận T.
Tại phiên tòa, nguyên đơn do bà Võ Thị Bích N là người đại diện theo ủy quyền trình bày: Yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền còn nợ 403.878.191đ và tiền lãi do chậm thanh toán tính từ ngày 03/3/2022 với lãi suất 12%/năm, số tiền lãi chậm thanh toán đến ngày xét xử là 113.759.024đ, tổng cộng: 517.637.215đ. Thanh toán một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, ngoài ra bị đơn còn phải chịu tiền lãi trên số tiền chậm trả cho đến khi thanh toán hết số tiền trên.
Theo quy định tại Điều 306 Luật Thương mại, lãi suất quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm xét xử của 03 Ngân hàng Thương mại cổ phần, như sau: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ1 lãi suất cho vay trung và dài hạn: 9.5%/năm; Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ2 lãi suất cho vay trung và dài hạn: 9.0%/năm; Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á lãi suất cho vay trung và dài hạn: 9.5%/năm; lãi suất trung bình của 03 Ngân hàng trên là 9.3%/năm; lãi suất quá hạn trung bình của 03 Ngân hàng trên là 14%/năm. Tuy nhiên, nguyên chỉ yêu cầu tính mức lãi suất quá hạn làm tròn là 12%/năm.
Bị đơn Công ty T vắng mặt không có người đại diện hợp pháp mặc dù đã được Tòa án tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng và cũng không có ý kiến gì về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Quá trình thụ lý giải quyết, xét xử vụ án thì Thẩm phán, Hội đồng xét xử, các đương sự đều đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Từ khi thụ lý vụ án đến ngày xét xử, Tòa án đã vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử theo quy định tại khoản 1 Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ lời trình bày của người đại diện hợp pháp của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về yêu cầu bị đơn thanh toán tiền còn nợ và tiền lãi chậm thanh toán.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn về việc “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ” đối với bị đơn có địa chỉ trụ sở chính tại quận T nên theo quy định tại khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là vụ án kinh doanh thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
[1.2] Về sự có mặt của đương sự tại phiên tòa: Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai, bị đơn Công ty T vắng mặt không lý do. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ và lời khai của đương sự đã được xem xét tại phiên tòa đã đủ cơ sở xác định:
Giữa nguyên đơn và bị đơn đã ký hợp đồng nguyên tắc số 20200610/BE-AA ngày 06/10/2020 về gia công hàng hóa và phụ lục hợp đồng. Hợp đồng có nội dung phù hợp với quy định pháp luật, do người đại diện theo pháp luật của các bên ký kết nên có giá trị thực hiện.
Căn cứ giấy đề nghị thanh toán ngày 08/11/2022 của Công ty N2 kèm theo các hóa đơn giá trị gia tăng, phiếu xuất kho và các văn bản trao đổi giữa các bên, đủ cơ sở xác định tính đến ngày 05/9/2022 Công ty T còn nợ tiền gia công chưa thanh toán cho Công ty N2 với số tiền 516.259.477đ. Bị đơn đến ngày 30/11/2022 thanh toán 62.381.286đ và ngày 18/01/2023 bị đơn thanh toán tiếp cho nguyên đơn 50.000.000đ, còn nợ lại số tiền gốc 403.878.191đ.
[2.2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về thanh toán tiền gốc và lãi
[2.2.1] Về yêu cầu hoàn trả tiền gốc
Như nhận định tại Mục [2.1], Hợp đồng gia công giữa Công ty N2 và Công ty T có hiệu lực pháp luật. Trong đó, bên nhận gia công là Công ty N2 đã thực hiện nghĩa vụ gia công, còn bên đặt gia công là Công ty T có nghĩa vụ thanh toán thù lao gia công đã thỏa thuận trong hợp đồng và quy định tại các điều 178, 179, 183 Luật Thương mại. Công ty T còn nợ tiền thù lao gia công nên phải có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty N2 theo yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở.
[2.2.2] Xét yêu cầu tiền lãi chậm thanh toán và thời hạn thanh toán.
Công ty T chậm thanh toán thù lao gia công cho Công ty N2 nên phải chịu tiền lãi trên số tiền chậm trả theo lãi suất quá hạn trung bình trên thị trường theo quy định tại Điều 306 Luật Thương mại.
[2.2.2.1] Về lãi suất quá hạn trung bình trên thị trường: Lãi suất quá hạn trung bình trên thị trường theo quy định tại Điều 306 Luật Thương mại của 03 ngân hàng gồm: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ1, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ2; Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á là 14%/năm (Làm tròn). Tuy nhiên, nguyên chỉ yêu cầu tính mức lãi suất quá hạn làm tròn là 12%/năm là có lợi cho bị đơn, có cơ sở chấp nhận.
[2.2.2.2] Về thời hạn tính lãi: Thực hiện hợp đồng gia công từ ngày 01/10/2021 đến ngày 05/9/2022 Công ty T còn nợ tiền gia công chưa thanh toán cho Công ty N2 với số tiền 403.878.191đ. Qua các thông báo, thư điện tử trao đổi giữa các bên thể hiện Công ty T đồng ý với phương thức thanh toán tiền còn nợ Công ty N2 đến ngày 03/3/2022. Do đó, cách tính thời hạn chậm thanh toán từ ngày 03/3/2022 của nguyên đơn là có lợi cho bị đơn, Hội đồng xét xử chấp nhận.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn phải thanh toán thù lao gia công và tiền lãi chậm trả. Tính đến ngày xét xử sơ thẩm, tiền nợ gốc là 403.878.191đ, tiền lãi chậm thanh toán là 113.759.024đ, tổng cộng: 517.637.215đ.
Xét việc chậm thanh toán tiền làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn phải thanh toán toàn bộ số tiền trên một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật và bị đơn phải có trách nhiệm trả tiền lãi trên số tiền chậm trả theo quy định tại Điều 306 Luật Thương mại.
Quá trình tố tụng, bị đơn không có văn bản phản hồi về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và không có mặt tại phiên tòa, do đó bị đơn phải chịu hậu quả pháp lý về sự vắng mặt của mình.
[3] Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Do toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227; Điều 228; Điều 147; khoản 1 Điều 273; khoản 1 Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- - Căn cứ các điều 178; 179; 181; 182; 183 và 306 Luật Thương mại năm 2005;
- - Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án Dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014;
- - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty cổ phần N2.
- Buộc bị đơn Công ty TNHH T và Nước giải khát Bella phải thanh toán cho nguyên đơn Công ty cổ phần N2 số tiền thù lao gia công còn nợ gồm: Nợ gốc: 403.878.191₫ (Bốn trăm lẻ ba triệu tám trăm bảy mươi tám ngàn một trăm chín mươi ba đồng) và tiền lãi do chậm thanh toán tính từ ngày 03/3/2022 đến ngày xét xử sơ thẩm với lãi suất 12%/năm là 113.759.024đ (Một trăm mười ba triệu bảy trăm năm mươi chín ngàn không trăm hai mươi bốn đồng), tổng cộng: 517.637.215đ (Năm trăm mười bảy triệu sáu trăm ba mươi bảy ngàn hai trăm mười lăm đồng).
- Thanh toán một lần ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật. Thi hành tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
- Kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị đơn không thi hành số tiền nêu trên thì hàng tháng bị đơn còn phải chịu tiền lãi trên số tiền chậm trả theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả cho đến khi trả dứt số tiền nêu trên.
- Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Công ty TNHH T phải chịu 24.705.489₫ (Hai mươi bốn triệu bảy trăm lẻ năm ngàn bốn trăm tám mươi chín đồng).
- H lại cho nguyên đơn Công ty cổ phần N2 số tiền tạm ứng án phí 11.127.647đ (Mười một triệu một trăm hai mươi bảy ngàn sáu trăm bốn mươi đồng) theo Biên lai thu số 0023315 ngày 06/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án hoặc niêm yết bản án.
- Viện kiểm sát nhân quận T và Viện kiểm sát nhân cấp trên được quyền kháng nghị bản án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Phước Lý |
Bản án số 129/2024/KDTM-ST ngày 25/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng gia công
- Số bản án: 129/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng gia công
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/06/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng gia công
