Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN HOÀN KIẾM

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 129/2024/HS-ST

Ngày 13-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Ngọc

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Kình

Ông Trần Ngọc Thịnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều Diễm- Thư ký Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Tùng Lâm - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 110/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 110/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2024, Quyết định hoãn phiên toà số 31/2024/HSST-QĐ ngày 12 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Trần Quốc V, sinh năm 1987, tại Thành phố Hà Nội; Nơi ĐKHKTT: Tập thể 301 Đ, Tổ 8 Cụm B, L, B, Hà Nội; Nơi cư trú: số A ngõ A Đ, phường L, quận B, Hà Nội; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Quốc T và bà Phùng Thị T1; V1 là Tô Thị N và có 02 con, con lớn SN 2015, con nhỏ SN 2017; Tiền án, tiền sự: Theo danh chỉ bản số 012 do Công an quận H lập ngày 17/01/2024 và lý lịch địa phương cung cấp: Bị cáo không có tiền án, tiền sự.

Về nhân thân:

  • - Ngày 01/10/2018, Công an phường H xử phạt hành chính về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • - Ngày 21/02/2012, tại Bản án số 08/2012/HS-ST của Tòa án nhân dân quận Tây Hồ xử phạt 28 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • - Ngày 28/9/2018, tại bản án số 122/2018/HS-ST của Tòa án nhân dân quận Tây Hồ xử phạt 07 tháng tù về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/01/2024 đến ngày 18/01/2024, chuyển tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an thành phố H (có mặt).

2. Phạm Quang M, sinh năm 1987, tại Thành phố Hà Nội; Nơi ĐKHKTT: Số C N, phường P, quận H, Hà Nội; Nơi cư trú: Số A ngách C P, phường P, quận H, Hà Nội; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Quang H và bà Nguyễn Thị D; Vợ và con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Theo danh chỉ bản số 011 do Công an quận H lập ngày 17/01/2024 và lý lịch địa phương cung cấp: Bị cáo không có tiền án, tiền sự.

Về nhân thân:

  • - Ngày 04/11/2009, Công an phường T xử phạt hành chính về hành vi gây rối trật tự công cộng.
  • - Ngày 30/12/2010, Công an quận T xử phạt hành chính về hành vi Chế tạo, tàng trữ, vận chuyên, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí thô sơ hoặc công cụ hỗ trợ.
  • - Ngày 25/12/2013, tại Bản án số 301/2013/HSST của Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiểm xử phạt 03 tháng tù về lội "Bắt người trái pháp luật”.
  • - Ngày 13/3/2017, tại Bản án số 29/2017/HSST của Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm xử phạt 15 tháng tù về tội "Bắt, giữ người trái pháp luật".

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/01/2024 đến ngày 18/01/2024, chuyển tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an thành phố H (có mặt).

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  • - Anh Lê Phương N1, sinh năm 2002. HKTT: Thôn Đ, xã H, huyện H, Thanh Hóa; nơi ở hiện nay: Số I hẻm C ngách I ngõ C đường M, phường M, quận N, Hà Nội (vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt).
  • - Anh Đặng Dương P, sinh năm 2003. Nơi cư trú: Thôn V, xã H, huyện T, Hà Nội (vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Khoảng 18 giờ 10 phút ngày 08/01/2024, tổ công tác Công an phường H đang làm nhiệm vụ phát hiện anh Đặng Dương P (Sinh năm: 2003; Trú tại:V, Hồ N, T, Hà Nội - xe ôm công nghệ) điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave BKS: 29Y5-670.58 có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra, anh P khai đang đi giao hàng cho Trần Quốc V từ 1 P, phường P, quận H, Hà Nội đến 15 phố T, quận H, Hà Nội. Anh P tự nguyện giao nộp gói hàng V đưa cho anh P. Tổ công tác kiểm tra phát hiện bên trong gói hàng chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy. Tổ công tác đưa anh P cùng tang vật về trụ sở để giải quyết.

Tạm giữ của anh Dặng Dương P1: 01 túi nilông màu trắng có ghi "Medigo" bên trong có: 01 hình hộp chữ nhật màu trắng vàng, kích thước 9x4x4 cm có ghi nhãn hiệu "Povidon" bên trong hộp có 01 tờ giấy màu trắng bọc bên trong có 01 túi nilông màu trắng kích thước 2x2 em chứa tinh thể màu trắng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme 5i màu xanh lá kèm sim; 01 xe moto nhãn hiệu Honda Wave màu xanh đen bạc BKS: 29Y5-670.58.

Đến khoảng 22 giờ cùng ngày 08/01/2024, Tổ công tác Công an phường H trong khi làm nhiệm vụ tuần tra vỉa hè trước cửa số nhà A P, phường P, quận H, Hà Nội phát hiện Trần Quốc V có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra, Trần Quốc V tự nguyện giao nộp 01 túi nilôngg màu tím, chứa 02 hộp hình chữ nhật, màu vàng ghi chữ "1800" bên trong 02 hộp hình chữ nhật chứa 01 chiếc pod màu vàng chưa qua sử dụng; 01 chiếc pod màu vàng mở nắp bên trong có 01 túi nilông đen kích thước khoảng 1,5x1,5cm chứa tinh thể màu trắng và khai nhận mua số ma túy trên của Phạm Quang M để bán lại kiểm lợi.

Qua rà soát phát hiện Phạm Quang M đang đứng nói chuyện với anh Lê Phương N1 (Sinh năm: 2002; Trú tại: thôn Đ, xã H, H, Thanh Hóa - xe ôm công nghệ hãng B2) gần đó nên đã tiến hành kiểm tra. Tại chỗ, M khai nhận đã vừa bán số ma túy trên cho Trần Quốc V nên Tổ công tác Công an phường H đã tiến hành lập biên bản tạm giữ và niêm phong số tang vật trên đồng thời đưa V và M cùng tang vật về trụ sở để tiếp tục điều tra làm rõ.

Tạm giữ của Trần Quốc V: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu xanh trắng kèm sim số: 0964514856 ; 01 túi nilông màu tím đựng 02 hình hộp chữ nhật màu vàng ghi chữ 1800 bên trong có: 01 chiếc Pod màu vàng còn mới chưa qua sử dụng, 01 chiếc pod màu vàng, mở đầu nắp bên trong có 01 túi nilông màu đen kích thước 1,5x1,5 cm chứa tinh thể màu trắng.

Xét nghiệm V dương tính với ma túy loại MET và ma túy loại MDMA.

Tạm giữ của Phạm Quang M: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, sim: 0982654004.

Xét nghiệm M dương tính với ma túy loại MET và ma túy loại MDMA.

Tại bản kết luận giám định số 593A ngày 16/01/2024 của Phòng K - Công an thành phố H kết luận:

  • “- Tang vật thu giữ của anh Đặng Dương P: tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilông màu trắng là ma túy loại Methamphetamine khối lượng 0,412 gam.
  • - Tang vật thu giữ của Trần Quốc V: tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilông màu đen là ma túy loại Methamphetamine khối lượng 0,344 gam; 01 chiếc pod màu vàng không tìm thấy chất ma túy.”

Tại cơ quan điều tra, Trần Quốc V khai: Khoảng 16 giờ ngày 08/01/2024, V đến nhà Phạm Quang M (địa chỉ: số A ngách B P, quận H, Hà Nội) chơi. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, có một nam thanh niên (không rõ lai lịch) sử dụng số điện thoại có đuôi số "96" gọi điện hỏi mua 1.000.000 đồng ma túy "đá" giao dịch tại số A phố T, quận H, Hà Nội. Sau khi nhận tiền chuyển khoản, V bảo M lấy hộ Việt 1.000.000 đồng ma túy "đá". M đồng ý. Sau đó xuống tầng 1 lấy đưa cho V 01 túi nilông màu trắng, kích thước khoảng 1,5x1,5 cm chứa ma túy "đá". V chia túi ma túy mua của M ra thành 02 túi nilông: 01 túi màu đen cất vào trong túi quần; 01 túi màu trắng, V bọc vào trong 01 tờ giấy trắng cất vào hộp thuốc ghi chữ nhãn hiệu "POVIDON" bên ngoài bọc 01 túi nilông màu trắng ghi chữ "MEDIGO". Sau đó, V thuê anh Đặng Dương P (qua ứng dụng vận chuyển Be) đến nhận túi màu trắng ghi chữ "MEDIGO" chứa ma túy đi giao cho khách ở A phố T. V không cho anh P biết gói đồ V đưa chứa ma túy.

Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, nam thanh niên sử dụng đuôi số điện thoại "96" tiếp tục gọi điện hỏi mua 1.000.000 đồng ma túy "đá" giao đến địa chỉ A phố T, quận H, Hà Nội và chuyển khoản đến số tài khoản của V. Nhận được tiền, V lấy 01 túi nilông màu đen chứa ma túy "đá" còn lại cất giấu vào trong 01 chiếc "Pod" màu vàng dựng trong hình hộp chữ nhật ghi chữ "1800" cùng 01 chiếc "Pod" màu vàng còn mới, chưa qua sử dụng rồi để vào trong 01 túi nilong màu tím. Sau đó, V thuê anh Lê Phương N1 (qua ứng dụng vận chuyển Be) chuyển cho khách ở A phố T. Khoảng 10 phút sau anh N1 đến, M đi xuống cửa gặp anh N1 trước, V cầm túi đựng ma túy đi xuống sau. Khi V đang chuẩn bị giao gói đồ chứa ma túy cho anh N1 thì bị lực lượng Công an kiềm tra, bắt giữ như đã nêu trên. V không cho anh N1 biết gói đồ định thuê anh N1 vận chuyển chứa ma túy.

Ngoài ra, V thừa nhận ngày 27/12/2023, V nhắn tin chuyển khoản cho M 700.000 đồng mua ma túy đá để sử dụng; Ngày 06/01/2024, V chuyển khoản cho M mua 300.000 đồng ma túy để sử dụng. Kiểm tra điện thoại của V có tin nhắn giữa V và M có tin nhắn V hỏi mua của M 700.000 đồng ma túy vào ngày 27/12/2023; 300.000 đồng ma túy vào ngày 06/01/2024 phù hợp lời khai của V. Kiểm tra giao dịch tài khoản 3377891441 của Trần Quốc V mở tại ngân hàng V3 xác định: ngày 27/12/2023; ngày 06/01/2023 V có chuyển tiền mua ma túy cho M phù hợp lời khai của V; Ngày 08/01/2024, V 02 lần nhận chuyển khoản 1.000.000 đồng bán ma túy phù hợp lời khai của V.

Tại Cơ quan điều tra, Phạm Quang M khai: Khoảng 17 giờ ngày 08/01/2024 tại nhà M (địa chỉ: A ngách C P, phường P, quận H, Hà Nội), M bán cho V 1.000.000 đồng tiền ma túy "Đá". Sau đó, V mượn M điện thoại sử dụng sim số 04974982233 để đặt giao hàng. V mượn điện thoại và mượn pod, hộp thuốc của M 02 lần (M không biết có phải để giao ma túy hay không). Khi anh N1 (xe ôm công nghệ) đến nhận hàng của V thì M xuống nhờ anh N1 nạp hộ 2.000.000 đồng để chơi game trên mạng thì bị tổ công tác kiểm tra bắt giữ như đã nêu trên. M được hưởng lợi 1.000.000 đồng vì số ma túy M được 01 đối tượng tên N1 (không rõ lai lịch) cho từ trước.

Ngoài ra, M thừa nhận: Ngày 27/12/2023, M có nhắn tin và bán cho V 700.000 đồng ma túy đá; Ngày 06/01/2024, M bán cho V 300.000 đồng ma túy đá. Chiếc điện thoại bị thu giữ, M dùng để nhắn tin, giao dịch mua bán ma túy với V. Kiểm tra tài khoản số 0465225101 của Phạm Quang M mở tại ngân hàng T2 có phát sinh nhận tiền bán ma túy cho V phù hợp lời khai của M, V. Đây là số ma tuý mà M được đối tượng tên là N1 (không rõ lai lịch) đã nêu ở trên cho.

Tại bản cáo trạng số 112/CT-VKS ngày 20 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội đã truy tố bị cáo Trần Quốc V và Phạm Quang M về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa các bị cáo Trần Quốc V, Phạm Quang M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung cáo trạng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội căn cứ vào tính chất của vụ án, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Trần Quốc V, Phạm Quang M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Trần Quốc V từ 7 năm tù đến 7 năm 6 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 09/01/2024. Xử phạt bị cáo Phạm Quang M từ 7 năm 6 tháng tù đến 8 năm tù. Về hình phạt bổ sung: Miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền cho các bị cáo Trần Quốc V, Phạm Quang M do các bị cáo không có công việc thu nhập ổn định. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự: Đề nghị tịch thu tiêu huỷ:

  • + 01 (một) phong bì niêm phong, trên các mép niêm phong có các chữ ký của Đặng Dương P, chứng kiến Nguyễn Thùy L, cán bộ Nguyễn Hải L1, giám định viên Nguyễn Hồng Q và hình dấu tròn màu đỏ. Bên trong chứa ma túy thu giữ của Đặng Dương P: + 01 (một) túi nilông chứa tinh thể màu trắng có tổng khối 403 lương: 0,412gam, P2 thu mẫu giám định là:0,069 gam, còn lại: 0,343 gam.
  • + 01 (một) phong bì niêm phong, trên các mép niêm phong có các chữ ký của Lê Phương N1, Trần Quốc V, cán bộ Nguyễn Hải L1, giám định viên Nguyễn Hồng Q và hình dấu tròn màu đỏ. Bên trong chứa ma túy thu giữ của Trần Quốc V: 01 (Một) túi nilông chứa tinh thể màu trắng có tổng khối lương: 0,344gam, P2 thu mẫu giám định là: 0,011 gam, còn lại: 0,028 gam.
  • + 01 (một) phong bì niêm phong, trên các mép niêm phong có các chữ ký của Lê Phương N1, Trân Quốc V2, cán bộ Nguyễn Hải L1, giám định viên Nguyễn Hồng Q và hình dấu tròn màu đỏ. Bên trong chứa 01 chiếc POD, màu vàng không tìm thấy chất ma túy thu giữ của Trần Quốc V.
  • + 02 sim điện thoại

Đề nghị tịch thu sung quỹ Nhà nước:

  • + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu xanh trắng, số Imei1:866967044466277, số I: 866967044466269;
  • + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12Pro max, màu vàng, Imeil: 356729117800353, Imei2: 356729118962640.

Đề nghị buộc bị cáo Trần Quốc V phải nộp lại số tiền 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) thu lời bất bất chính để tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Đề nghị buộc bị cáo Phạm Quang M phải nộp lại số tiền 1.000.000 đồng (một triệu đồng) thu lời bất bất chính để tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Lời nói sau cùng: Các bị cáo nhận thấy hành vi của các bị cáo là sai, vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử mở lượng khoan hồng cho các bị cáo mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về quyết định, hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi của người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, bản tự khai của các bị cáo, lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản tạm giữ đồ vật, kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố đủ cơ sở kết luận: Trong ngày 08/01/2024, Trần Quốc V đã có hành vi 02 lần bán trái phép tổng cộng 0,756 gam ma túy loại Methamphetamine thu lợi bất chính 2.000.000 đồng thì bị phát hiện bắt quả tang cùng tang vật tại trước cửa số nhà A P, phường P, quận H, Hà Nội cụ thể như sau:

  • - Khoảng 18 giờ 10 phút ngày 08/01/2024, V có hành vi bán trái phép 0,412 gam ma túy loại Methamphetamine thông qua việc thuê anh Đặng Dương P (xe ôm công nghệ hãng B2) chuyển ma túy từ số nhà A P, P, H, Hà Nội đến 15 phố T, quận H, Hà Nội (đã nhận 1.000.000 đồng của đối tượng mua ma túy bằng hình thức chuyển khoản). Khi anh P mang hàng đến 15 phố T, quận H, Hà Nội thì bị tổ công tác kiểm tra, thu giữ cùng tang vật.
  • - Đến khoảng 22 giờ ngày 08/01/2024, Trần Quốc V đang có hành vi cất giấu 0,344 gam ma túy loại Methamphetamine nhằm mục đích bán trái phép (V đã nhận 1.000.000 đồng tiền mua ma túy bằng hình thức chuyển khoản, đã đóng gói để giao ma túy qua ứng dụng vận chuyển B) thì bị tổ công tác bắt quả tang cùng tang vật trước cửa số nhà A P, phường P, quận H, Hà Nội.

Về nguồn gốc 0,756 gam ma túy loại Methamphetamine, V mua của Phạm Quang M. Ngoài ra, V và M đều khai nhận: trong các ngày 27/12/2023 và 06/01/2024, M có hành vi bán trái phép cho Trần Quốc V 700.000 đồng tiền ma túy "Đá" và 300.000 đồng tiền ma túy "Đá" để V sử dụng.

Các bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp không chỉ xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma tuý của Nhà nước mà còn gây mất trật tự trị an xã hội vì vậy cần phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm, Hà Nội truy tố các bị cáo Trần Quốc V và bị cáo Phạm Quang M về tội danh và điều luật áp dụng là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá tình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cần được áp dụng cho các bị cáo khi xem xét quyết định hình phạt.

[5] Về nhân thân: Các bị cáo có nhân thân xấu.

[6] Về quyết định hình phạt: Sau khi xem xét tính chất và mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, xét thấy cần phải xử phạt các bị cáo bằng hình phạt tù, cách ly ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo, rèn luyện ý thức tuân thủ pháp luật, trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

[7] Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo Trần Quốc V, Phạm Quang M không có việc làm thu nhập ổn định nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về hình phạt chính và hình phạt bổ sung là có căn cứ, phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử.

[8] Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu huỷ:

  • + 01 (một) phong bì niêm phong, trên các mép niêm phong có các chữ ký của Đặng Dương p, chứng kiền Nguyễn Thùy L, cán bộ Nguyễn Hải L1, giám định viên Nguyễn Hồng Q và hình dấu tròn màu đỏ. Bên trong chứa ma túy thu giữ của Đặng Dương P: 01 (một) túi nilông chứa tinh thể màu trắng có tổng khối 403 lương: 0,412gam, P2 thu mẫu giám định là:0,069 gam, còn lại: 0,343 gam.
  • + 01 (một) phong bì niêm phong, trên các mép niêm phong có các chữ ký của Lê Phương N1, Trần Quốc V, cán bộ Nguyễn Hải L1, giám định viên Nguyễn Hồng Q và hình dấu tròn màu đỏ. Bên trong chứa ma túy thu giữ của Trần Quốc V: 01 (một) túi nilông chứa tinh thể màu trắng có tổng khối lương: 0,344gam, P2 thu mẫu giám định là: 0,011 gam, còn lại: 0,028 gam.
  • + 01 (một) phong bì niêm phong, trên các mép niêm phong có các chữ ký của Lê Phương N1, Trần Quốc V, cán bộ Nguyễn Hải L1, giám định viên Nguyễn Hồng Q và hình dấu tròn màu đỏ. Bên trong chứa 01 chiếc POD, màu vàng không tìm thấy chất ma túy thu giữ của Trần Quốc V.
  • + 02 chiếc sim điện thoại

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước:

  • + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu xanh trắng, số Imeil:866967044466277, số I: 866967044466269.
  • + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12Pro max, màu vàng, Imeil: 356729117800353, Imei2: 356729118962640.

- Buộc Trần Quốc V phải nộp lại số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) để tịch thu sung quỹ Nhà nước.

- Buộc Phạm Quang M phải nộp lại số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) để tịch thu sung quỹ Nhà nước.

[9] Về các vấn đề khác: - Anh Lê Phương N1 và anh Đặng Dương P khai: anh N1 và anh P là nhân viên giao hàng của công ty B3. Ngày 08/01/2024, anh N1, anh P nhận đơn giao hàng từ P về 15 phố T qua ứng dụng giao hàng B. Anh N1, anh P không biết trong gói hàng nhận giao có ma túy. Anh N1, anh P không biết, không liên quan đến việc V mua bán trái phép chất ma túy nên Cơ quan điều tra không xử lý là đúng pháp luật. Cơ quan điều tra đã trả lại điện thoại và xe máy thu giữ của anh N1, anh P cho các chủ sở hữu là mẹ của anh N1 và bố của anh P. Các chủ sở hữu các tài sản trên đã nhận lại tài sản, không có yêu câu khác về dân sự, nên không xét.

- Căn cứ lời khai của Trần Quốc V, Cơ quan điều tra đã xác minh tại Công ty Cổ phần B3: Anh P và anh N1 có nhận vận đơn từ khách hàng sử dụng số điện thoại 04974982xxx chuyển đến khách sử dụng điện thoại số 0945.502.xxx phù hợp lời khai của V. Cơ quan cảnh sát điều tra xác minh số điện thoại trên có chủ đăng ký thuê bao là anh Nguyễn Văn S (sinh năm: 1988; Trú tại: thôn B, xã P, huyện P, Hà Nội). Anh S khai anh S không đăng ký, sử dụng số điện thoại trên. V đã nhận dạng và xác nhận không quen biết anh S. Anh S không liên quan đến hành vi phạm tội của V nên Cơ quan điều tra không xử lý.

- Về chủ tài khoản chuyển khoản mua ma túy của Trần Quốc V, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tài khoản thuộc sở hữu của chị Trịnh Thị B1 (Sinh năm: 1986; Trú tại: C P V, phường G, quận L, Hà Nội) và anh Phạm Mạnh D1 (Sinh năm: 1986; Trú tại: A ngõ H, M, H, Hà Nội). Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tại địa phương không có ai tên Trịnh Thị B1 có lai lịch như trên sinh sống tại địa phương; Anh Phạm Mạnh D1 khai anh D1 bị mất thông tin đăng nhập tài khoản ngân hàng từ năm 2022 và không tiếp tục sử dụng tài khoản, anh D1 không biết, không liên quan đến việc V mua bán trái phép chất ma túy. V đã nhận dạng và xác nhận không quen biết anh D1. Nên Cơ quan điều tra không có căn cứ làm rõ, xử lý.

- Về đối tượng N1 cho Phạm Quang M ma túy và đối tượng hỏi mua ma túy của V do M, V khai không rõ nhân thân lai lịch nên Cơ quan điều tra không có căn cứ điều tra làm rõ, khi làm rõ sẽ xử lý sau.

[10] Về án phí: Các bị báo Trần Quốc V, Phạm Quang M bị tuyên có tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Các bị cáo Trần Quốc V, Phạm Quang M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

1. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Trần Quốc V 7 năm 3 tháng tù (Bảy năm ba tháng tù), thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/01/2024.

Xử phạt bị cáo Phạm Quang M 7 năm 6 tháng tù (Bảy năm sáu tháng tù), thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/01/2024.

* Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Tịch thu tiêu huỷ: + 01 (một) phong bì niêm phong, trên các mép niêm phong có các chữ ký của Đặng Dương p, chứng kiền Nguyễn Thùy L, cán bộ Nguyễn Hải L1, giám định viên Nguyễn Hồng Q và hình dấu tròn màu đỏ. Bên trong chứa ma túy thu giữ của Đặng Dương P: 01 (một) túi nilông chứa tinh thể màu trắng có tổng khối 403 lương: 0,412gam, P2 thu mẫu giám định là:0,069 gam, còn lại: 0,343 gam.

+ 01 (một) phong bì niêm phong, trên các mép niêm phong có các chữ ký của Lê Phương N1, Trần Quốc V, cán bộ Nguyễn Hải L1, giám định viên Nguyễn Hồng Q và hình dấu tròn màu đỏ. Bên trong chứa ma túy thu giữ của Trần Quốc V: 01 (một) túi nilông chứa tinh thể màu trắng có tổng khối lương: 0,344gam, P2 thu mẫu giám định là: 0,011 gam, còn lại: 0,028 gam.

+ 01 (một) phong bì niêm phong, trên các mép niêm phong có các chữ ký của Lê Phương N1, Trân Quốc V2, cán bộ Nguyễn Hải L1, giám định viên Nguyễn Hồng Q và hình dấu tròn màu đỏ. Bên trong chứa 01 chiếc POD, màu vàng không tìm thấy chất ma túy thu giữ của Trần Quốc V.

+ 02 chiếc sim điện thoại.

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước:

+ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu xanh trắng, số Imei1:866967044466277, số I: 866967044466269;

+ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12Pro max, màu vàng, Imeil: 356729117800353, Imei2: 356729118962640.

- Buộc Trần Quốc V phải nộp lại số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) để tịch thu sung quỹ Nhà nước.

- Buộc Phạm Quang M phải nộp lại số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) để tịch thu sung quỹ Nhà nước.

3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;

Các bị cáo Trần Quốc V, Phạm Quang M phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Án xử công khai sơ thẩm.

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND TP Hà Nội (1 bản);
  • - VKSND TP Hà Nội (1 bản);
  • - VKSND quận Hoàn Kiếm (3 bản);
  • - Công an quận Hoàn Kiếm (1 bản);
  • - Chi cục THA quận Hoàn Kiếm (1 bản);
  • - Sở Tư pháp (1 bản);
  • - Bị cáo (1 bản);
  • - Người liên quan (1 bản);
  • - Trại tạm giam (1 bản);
  • - Lưu hồ sơ - VP(2 bản).
  • (Thông báo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú).

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Văn Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 129/2024/HS-ST ngày 13/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự về tội mua bán trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 129/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Quốc V, Phạm Q M - Mua bán trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger