|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN TỈNH QUẢNG NINH Bản án số: 129/2024/HS-ST Ngày: 03-12-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN - TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thanh Tâm
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Phạm Thu Hà
- Ông Chu Đàm Nguyên
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Nga - Thư ký, Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên tham gia phiên tòa:
Bà Lê Thị Thanh H - Kiểm sát viên
Ngày 03 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 106/2024/HSST ngày 05/11/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 115A/2024/QĐXXST-HS ngày 15/11/2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 23/2024/HSST-QĐ ngày 27/11/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Hữu V; Sinh ngày 06/6/1995 tại thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Nơi thường trú: khu D, phường Q, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Hữu B và bà: Trần Thị Kim L. Có vợ là Đỗ Thị T và 03 (Ba) con; Tiền án, Tiền sự: Không; Nhân thân: ngày 10/5/2020, Công an phường Y, thị xã Q xử phạt vi phạm hành chính 2.000.000 đồng về hành vi tham gia đánh bạc trái phép và ngày 19/5/2020 đã thi hành xong Quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Bị tạm giữ từ 12/7/2024, tạm giam kể từ 18/7/2024 đến ngày 16/10/2024 thay thế biện pháp tạm giam bằng biện pháp Bảo lĩnh. Đang thực hiện Quyết định Bảo lĩnh 41 (Bốn mươi mốt) ngày, kể từ ngày 09/11/2024 của Toà án nhân dân thị xã Quảng Yên. Có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
- Anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 1990. Nơi thường trú: thôn C, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Nơi ở hiện tại: làng G, xã P, huyện Q, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt, có đơn xin xử vắng mặt.
- Anh Vũ Văn T1, sinh năm 1982. Nơi thường trú: khu B, phường Q, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Nơi ở hiện tại: khu I, phường Q, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; Vắng mặt, có đơn xin xử vắng mặt.
- Anh Lê Việt H2, sinh năm 1998. Nơi thường trú: khu B, phường P, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt, có đơn xin xử vắng mặt.
- Ông Trần Văn S, sinh năm 1964. Nơi thường trú: khu E, phường Q, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt, có đơn xin xử vắng mặt.
- Ông Bùi Huy T2, sinh năm 1977. Nơi thường trú: số E đường N, khu D, phường Q, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt, có đơn xin xử vắng mặt.
* Người làm chứng:
- Chị Nguyễn Thị Phương Hồng N, sinh năm 1991. Nơi thường trú: khu A, phường Q, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt.
- - Bà Trần Thị Kim L, sinh năm 1972. Nơi thường trú: khu D, phường Q, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Từ năm 2017, Nguyễn Hữu V làm nghề kinh doanh dịch vụ cầm đồ tại số nhà E T thuộc khu D, phường Q, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Quá trình kinh doanh, đến năm 2018 thấy nhiều người có nhu cầu vay tiền nên V đã thực hiện việc cho vay tiền để lấy lãi với hình thức: người vay trả lãi theo tháng hoặc 10 ngày/1 lần còn tiền nợ gốc thì giữ nguyên (còn gọi là “cho vay lãi nằm”). Nguyễn Hữu V trực tiếp cho 05 người vay tổng số tiền 392.000.000 đồng với lãi suất từ 3.300 đồng đến 5.000 đồng/1.000.000 đồng/1ngày (Tương ứng lãi suất 120,45%/năm đến 182,50%/năm) thu lãi tổng số tiền 793.729.240 đồng (Trong đó: lãi suất theo quy định của Bộ luật Dân sự được hưởng là 108.955.624 đồng; số tiền thu lợi bất chính là 684.773.616 đồng). Cụ thể:
- - Đối với anh Nguyễn Văn H1: ngày 31/12/2019, Nguyễn Hữu V cho anh H1 vay 40.000.000 đồng thoả thuận lãi suất 5.500.000 đồng/tháng (tương ứng lãi suất 167,28%/năm), trả lãi theo tháng qua số tài khoản 0355591699 tại Ngân hàng Q (MB) của Nguyễn Thị Phương Hồng N (bạn của anh H1 lập hộ anh H1) vào số tài khoản 4430206204 của V tại Ngân hàng Đ. Tổng số tiền lãi anh H1 đã trả V là 239.599.240 đồng (Trong đó, lãi suất theo quy định của Bộ luật Dân sự được hưởng là 28.646.575 đồng; số tiền thu lợi bất chính 210.952.665 đồng). Anh H1 chưa trả nợ gốc 40.000.000 đồng cho V.
- - Đối với anh Vũ Văn T1: Nguyễn Hữu V cho vay 02 lần với tổng số tiền 200.000.000 đồng, thoả thuận trả lãi theo kỳ hạn 10 ngày/1 lần, cụ thể:
- + Ngày 20/12/2019, V cho anh T1 vay 100.000.000 đồng thoả thuận lãi suất 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương ứng lãi suất 146,0%/năm). Số tiền lãi anh T1 đã trả Văn 36.800.000 đồng (Trong đó, lãi suất theo quy định của Bộ luật Dân sự được hưởng 5.041.096 đồng; số tiền thu lợi bất chính 31.758.904 đồng).
- + Ngày 07/9/2020, V cho anh T1 vay 100.000.000 đồng thoả thuận lãi suất 3.300 đồng/1 triệu/1 ngày (tương ứng lãi suất 120,5%/năm). Số tiền lãi anh T1 đã trả Văn 66.990.000 đồng (Trong đó, lãi suất theo quy định của Bộ luật Dân sự được hưởng 11.123.288 đồng; số tiền thu lợi bất chính 55.866.712 đồng).
Tổng số tiền lãi anh T1 đã trả V là 103.790.000 đồng (Trong đó, lãi suất theo quy định của Bộ luật Dân sự được hưởng là 16.164.384 đồng; số tiền thu lợi bất chính 87.625.616 đồng).
- - Đối với anh Lê Việt H2: ngày 21/6/2020, V cho anh H2 vay 16.000.000 đồng thoả thuận lãi suất 5.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương ứng lãi suất 182,5%/năm), trả lãi theo kỳ hạn 10 ngày, giao dịch qua Ngân hàng Đ (số tài khoản 4430206204 của Nguyễn Hữu V và số tài khoản 1500619287 của Lê Việt H2). Tổng số tiền lãi anh H2 đã trả V 103.040.000 đồng (Trong đó, lãi suất theo quy định của Bộ luật Dân sự được hưởng 11.292.055 đồng; số tiền thu lợi bất chính 91.747.945 đồng).
- - Đối với ông Trần Văn S: ngày 10/8/2021, V cho ông S vay 16.000.000 đồng thoả thuận lãi suất 5.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương ứng lãi suất 182,5%/năm), trả lãi theo kỳ hạn 30 ngày. Tổng số tiền lãi ông S đã trả V 85.280.000 đồng (Trong đó, lãi suất theo quy định của Bộ luật Dân sự được hưởng 9.345.753 đồng; số tiền thu lợi bất chính 75.934.247 đồng). Ông S chưa trả nợ gốc 16.000.000 đồng cho V.
- - Đối với ông Bùi Huy T2: Văn cho vay 05 lần với tổng số 120.000.000 đồng, các lần vay đều thoả thuận lãi suất 3.300 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương lãi suất 120,45%/năm), trả lãi theo kỳ 30 ngày/1 lần hầu hết trả trực tiếp và có 01 lần trả qua Ngân hàng S1 (số tài khoản 030077129835 mang tên Bùi Huy T2), cụ thể:
- + Lần thứ nhất: ngày 04/6/2020, V cho ông T2 vay 20.000.000 đồng. Số tiền lãi ông T2 đã trả V 39.072.000 đồng (Trong đó, lãi suất theo quy định của Bộ luật Dân sự được hưởng 6.487.671 đồng; số tiền thu lợi bất chính 32.584.000 đồng).
- + Lần thứ hai: ngày 15/7/2020, V cho ông T2 vay 30.000.000 đồng. Số tiền lãi ông T2 đã trả V 54.549.000 đồng (Trong đó, lãi suất theo quy định của Bộ luật Dân sự được hưởng 9.057.534 đồng; số tiền thu lợi bất chính 45.491.466 đồng).
- + Lần thứ ba: ngày 08/4/2022, V cho ông T2 vay 30.000.000 đồng. Số tiền lãi ông T2 đã trả V 77.121.000 đồng (Trong đó, lãi suất theo quy định của Bộ luật Dân sự được hưởng 12.805.479 đồng; số tiền thu lợi bất chính 64.315.521 đồng).
- + Lần thứ tư: ngày 27/4/2022, V cho ông T2 vay 20.000.000 đồng. Số tiền lãi ông T2 đã trả V 51.414.000 đồng (Trong đó, lãi suất theo quy định của Bộ luật Dân sự được hưởng 8.536.986 đồng; số tiền thu lợi bất chính 42.877.041 đồng).
- + Lần thứ năm: ngày 25/9/2022, V cho ông T2 vay 20.000.000 đồng. Số tiền lãi ông T2 đã trả V 39.864.000 đồng (Trong đó, lãi suất theo quy định của Bộ luật Dân sự được hưởng 6.619.178 đồng; số tiền thu lợi bất chính 33.244.822 đồng).
Tổng số tiền lãi ông T2 đã trả V 262.020.000 đồng (Trong đó, lãi suất theo quy định của Bộ luật Dân sự được hưởng 43.506.857 đồng; số tiền thu lợi bất chính 218.513.143 đồng). Ông T2 chưa trả Văn 70.000.000 đồng nợ gốc.
Ngày 11/7/2024, các anh Nguyễn Văn H1, Vũ Văn T1, Lê Việt H2, Bùi Huy T2 và ông Trần Văn S trình báo Công an tỉnh Q về hành vi cho vay lãi của Nguyễn Hữu V. Ngày 12/7/2024, Nguyễn Hữu V đã ra đầu thú tại Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Q;
Quá trình điều tra, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn H1, ông Bùi Huy T2 và ông Trần Văn S có quan điểm toàn bộ số tiền gồm: 16.000.000 đồng ông S nợ gốc của V; 40.000.000 đồng anh H1 nợ gốc của V và 70.000.000 đồng ông T2 nợ gốc của V sẽ được trừ vào số tiền thu lời bất chính mà V đã nhận, số tiền thu lời bất chính còn lại không ai có yêu cầu V phải trả lại.
Vật chứng thu giữ của Nguyễn Hữu V: 01 (một) điện thoại di dộng nhãn hiệu Iphone, màu trắng đã cũ đã qua sử dụng kèm 01 (một) sim số thuê bao 0332.846.789; Khám xét khẩn cấp nơi ở của bị cáo Nguyễn Hữu V không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Kết luận giám định số 1477/KL-KTHS ngày 18/9/2024 của Phòng K - Công an tỉnh Q: khôi phục và trích xuất được 886 tin nhắn điện thoại (SMS,MMS...), 98 tin nhắn Zalo, 25.622 file hình ảnh trong điện thoại di động cần giám định. Các dữ liệu khác không khôi phục và trích xuất được (chi tiết thể hiện trong thư mục có tên dữ liệu qdtc 1356 lưu trữ trong USB kèm theo).
Biên bản làm việc kiểm tra dữ liệu điện tử trên điện thoại di động của Nguyễn Hữu V ngày 25/9/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã Q và Viện kiểm kiểm sát nhân dân thị xã Q: không phát hiện nội dung, tài liệu liên quan đến việc cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự.
Căn cứ yêu cung cấp tài liệu, chứng cứ của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Q thì Ngân hàng N1 - Chi nhánh Q1 đã cung câp sao kê giao dịch tài khoản mở tại A Chi nhánh Q2 mang tên Bùi Huy T2 từ 26/8/2019 đến 22/7/2024; Nguyễn Thị Phương Hồng N từ 30/12/2019 đến 22/7/2024 và Trần Văn S từ 07/7/2021 đến 22/7/2024.
Quá trình điều tra, bị cáo đã tác động gia đình tự nguyện nộp lại 200.000.000 đồng tiền thu lợi bất chính tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh. Tất cả người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều không yêu cầu bị cáo Nguyễn Hữu V phải trả lại số tiền thu lợi bất chính.
Ngoài ra, từ năm 2018 đến năm 2021, Nguyễn Hữu V còn cho ông Trần Văn S, anh Lê Việt H2 và anh Vũ Văn T1 vay tổng số tiền 702.000.000 đồng với lãi suất 3.300 đồng đến 5.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương lãi suất 120,45% đến 146%/năm) nhưng bên vay và bên cho vay đã thanh toán xong tiền gốc, lãi từ năm 2022 đã hết thời hiệu xử lý vi phạm hành chính và thu lợi dưới 30.000.000 đồng, do đó Cơ quan điều tra không xử lý những khoản vay này.
Đối tượng Ngô Thị Kim D khai báo về khoản vay lãi 932.300.000 đồng của Nguyễn Hữu V với lãi suất 3.300 đồng đến 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày nhưng Cơ quan điều tra xác định bà D chơi góp họ với bà Trần Thị Kim L (mẹ của bị cáo Nguyễn Hữu V) nhưng bà L không sử dụng tài khoản Ngân hàng nên bà D góp họ qua số tài khoản của V, đồng thời kết quả sao kê tài khoản số [...] của bà D tại Ngân hàng N2 - Chi nhánh H3 không phù hợp với số tiền và cũng không phù hợp với lời khai của bị cáo V và bà L nên không đủ căn cứ xử lý hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự giữa bà D và bị cáo V.
Cáo trạng số 2880/CT-VKSQY ngày 30/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên truy tố bị cáo Nguyễn Hữu V về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Nguyễn Hữu V khai nhận hành vi phạm tội như nội dung vụ án đã nêu, nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật, việc bị truy tố và đưa ra xét xử là đúng người, đúng tội, không oan, đã được thực hiện các quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật; được giải thích về việc công bố bản án trên Cổng thông tin điện tử và đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - anh Nguyễn Văn H1 khai: tháng 12/2019, anh H1 muốn vay tiền để làm ăn và nhờ chị Nguyễn Thị Phương Hồng N vay hộ 40.000.000 đồng. Sau khi N thông tin vay được 40.000.000 đồng của Nguyễn Hữu V với lãi suất 5.500.000 đồng/tháng, anh H1 đồng ý và đã nhận được 40.000.000 đồng tiền vay từ N. Từ cuối năm 2019 đến tháng 7 năm 2023, anh H1 đóng lãi gần như đầy đủ, chủ yếu trả bằng tiền mặt, đôi khi chuyển khoản. Từ tháng 7/2023, anh H1 chuyển tới huyện Q, tỉnh Bắc Ninh làm việc nên N cho anh H1 số điện thoại của V để 2 bên liên lạc trực tiếp. Anh H1 sử dụng số tài khoản 0355591699 tại Ngân hàng Q để chuyển tiền lãi cho V vào các tài khoản 4430306304 tại Ngân hàng Đ. Từ sau tháng 7/2023 thì anh H1 nợ của V 02 tháng tiền lãi là tháng 8,9/2023. Do trả lãi nhiều lần nên anh H1 không nhớ cụ thể, chỉ nhớ được tháng 5/2024 trả 5.000.000 đồng (ngày 07/5 trả 4.000.000 đồng và ngày 20/5 trả 1.000.000 đồng), tháng 6/2024 trả 5.000.000 đồng (ngày 11/6 trả 3.000.000 đồng và ngày 22/6 trả 2.000.000 đồng). Tổng số tiền lãi anh H1 đã trả khoảng 200.000.000 đồng còn tiền nợ gốc 40.000.000 đồng chưa trả V, anh H1 đề nghị được trừ vào tiền V thu lợi bất chính và không yêu cầu V phải bồi thường tiền lãi.
Người làm chứng chị Nguyễn Thị Phương Hồng N có lời khai thể hiện: chị N và anh Nguyễn Văn H1 là bạn, tháng 12/2019 H1 hỏi N vay hộ H1 40.000.000 đồng, do gần nhà nên biết Nguyễn Hữu V có cho vay tiền nên N đến nhà Văn hỏi vay 40.000.000 đồng. Văn trao đổi lãi suất là 5.500.000 đồng/tháng (khoảng 4.583 đồng/1 triệu/1 ngày), N gọi điện trao đổi thì H1 đồng ý vay. V đã chuyển cho N 40.000.000 đồng tiền mặt và yêu cầu N viết giấy vay tiền (không ghi lãi suất). Hàng tháng, đến ngày 30 thì N chốt lãi và nộp tiền cho V. Sau khi nhận được tiền vay, N đã chuyển đủ cho H1 40.000.000 đồng và dặn H1 hàng tháng chuyển 5.500.000 đồng để N trả lãi cho V. Đến ngày 30 hàng tháng, V gọi điện giục chị N, N gọi H1 chuyển tiền cho N trả lãi. Có lúc H1 đưa tiền mặt, có lúc H1 chuyển khoản từ số tài khoản của H1 0355591699 tại Ngân hàng Q đến số tài khoản của N 8002215035890 tại Ngân hàng N1, có lúc H1 chưa kịp trả tiền thì N chuyển tiền trả lãi cho V trước qua tài khoản của V 4430206204 tại Ngân hàng Đ rồi lấy tiền từ H1 sau. Đến năm 2023, do không muốn làm phiền nên chị N cho H1 số điện thoại của V để H1 trực tiếp liên hệ với V đồng thời nói với V về việc vay hộ tiền để hai bên cùng biết. Tổng số tiền H1 trả lãi cho V khoảng 200.000.000 đồng. Chị không hưởng lợi gì từ việc giúp H1 vay tiền và trả lãi.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - anh Vũ Văn T1 có lời khai: do có nhu cầu cá nhân, từ cuối năm 2019 đến tháng 7/2024 anh T1 vay nhiều lần, cụ thể:
- + Ngày 20/12/2019 vay 100.000.000 đồng, V đồng ý và báo lãi suất 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày kỳ hạn trả lãi 10 ngày 1 lần. Anh V đồng ý, đã nhận đủ 100.000.000 đồng và viết giấy vay nợ. Số tiền lãi anh T1 đã trả Văn 36.800.000 đồng (Trong đó, lãi suất theo quy định của Bộ luật Dân sự được hưởng 5.041.096 đồng; số tiền thu lợi bất chính 31.758.904 đồng).
- + Ngày 07/9/2020, vay 100.000.000 đồng, V đồng ý và B1 3.300 đồng/1 triệu/1 ngày. Số tiền lãi anh T1 đã trả Văn 66.990.000 đồng (Trong đó, lãi suất theo quy định của Bộ luật Dân sự được hưởng 11.123.288 đồng; số tiền thu lợi bất chính 55.866.712 đồng).
Ngoài ra, ngày 05/4/2020 anh T1 vay 100.000.000 đồng lãi suất 4.000 đồng/1 triệu/ 1ngày. Các ngày 04/6/2020 vay 100.000.000 đồng; ngày 02/8/2020 vay 100.000.000 đồng; ngày 17/8/2020 vay 100.000.000 đồng; ngày 20/7/2021 vay 50.000.000 đồng; ngày 11/01/2022 vay 50.000.000 đồng; ngày 15/11/2022 vay 50.000.000 đồng; ngày 28/12/2022 vay 50.000.000 đồng cùng mức lãi suất 3.300 đồng/1 triệu/1 ngày trả lãi theo kỳ hạn 10 ngày 1 lần toàn bộ lãi của các khoản vay này, anh T1 đã trả đầy đủ. Đầu năm 2024, T1 vay 50.000.000 đồng lãi suất 3.300 đồng/1 triệu/1 ngày, nợ gốc T1 đã trả đầy đủ còn tiền lãi V không lấy. Hiện tại anh T1 không nợ gì V.
Anh T1 sử dụng tiền mặt và tài khoản số [...] của mình tại Ngân hàng C1 (V1) để chuyển trả tiền lãi và nợ gốc cho V.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - ông Bùi Huy T2 khai: khoảng tháng 8/2019, biết Nguyễn Hữu V cho vay tiền không cần thế chấp, ông T2 tìm đến V cụ thể các lần:
- + Ngày 04/6/2020, ông T2 vay 20.000.000 đồng và ngày 15/7/2020, ông T2 vay 30.000.000 đồng, V và ông T2 thoả thuận lãi suất 3.300 đồng/1 triệu/1ngày và ngày nào trả tiền ngày đó còn nếu vay hơn 30 ngày thì thanh toán lãi 1 tháng/1 lần. Tổng số tiền nợ gốc và lãi ông T2 đã trả V là 140.768.000 đồng
- + Ngày 08/4/2022, ông T2 vay 30.000.000 đồng và ngày 27/4/2022, ông T2 vay 20.000.000 đồng, thoả thuận lãi suất 3.300 đồng/1 triệu/1ngày và ngày thanh toán lãi 30 ngày/1 lần = 2.970.000 đồng (với khoản vay 30.000.000 đồng) và 1.980.000 đồng (với khoản vay 20.000.000 đồng). Đối với khoản vay ngày 08/4/2022, ông T2 đã thanh toán cả gốc và lãi khoảng 77.220.000 đồng và khoản vay ngày 27/4/2022, ông T2 đã thanh toán cả gốc và lãi khoảng 51.480.000 đồng.
- + Cuối tháng 9/2022, ông T2 vay 20.000.000 đồng và vẫn tính lãi suất như những lần trước. Ông T2 đã thanh toán đầy đủ tiền gốc và lãi của các khoản vay này khoảng 51.480.000 đồng.
Ngoài ra, ông T2 còn vay của V các lần khác vào tháng 8/2019 vay 10.000.000 đồng (đã trả cả lãi và gốc là 35.011.000đ); ngày 12/4/2020 vay 30.000.000 đồng và ngày 02/5/2020 vay 20.000.000 đồng (đã thanh toán tiền lãi và gốc của 2 khoản vay là 55.280.000 đồng).
Tất cả các lần ông T2 trả tiền đều bằng hình thức trực tiếp, có 01 lần ông T2 chuyển khoản qua số tài khoản của ông T2 8002205098341 tại Ngân hàng N1. Đối với số tiền nợ gốc 70.000.000 đồng ông T2 chưa trả cho V, ông đề nghị trừ vào tiền thu lời bất chính của V, số tiền còn lại ông không yêu cầu V trả lại.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - ông Trần Văn S khai: ông S vay tiền của V nhiều lần (lần đầu vào 10/01/2018 vay 1.000.000 đồng và để lại Giấy chứng minh nhân dân để làm tin; ngày 24/02/2018 vay 5.000.000 đồng; ngày 15/11/2018 vay 1.000.000 đồng; ngày 07/12/2018 vay 1.000.000 đồng; ngày 16/02/2019 vay 1.000.000 đồng; ngày 07/6/2019 vay 5.000.000 đồng; ngày 18/6/2019 vay 1.000.000 đồng; ngày 03/2/2010 vay 7.000.000 đồng) và đã trả lãi, gốc cho tất cả các khoản vay này. Sau đó, ông S tiếp tục vay của V nhiều lần mỗi lần 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng; và ngày 10/8/2021, ông S cùng Văn chốt nợ gốc là 16.000.000 đồng và thống nhất lãi suất 5.000 đồng/1 triệu/1 ngày, trả lãi theo kỳ hạn 30 ngày, mỗi tháng ông S trả V số tiền lãi là 2.400.000 đồng. Do thời gian đã lâu, ông S không nhớ rõ, chỉ nhớ được tổng số tiền lãi ông S đã trả V khoảng 80.000.000 đồng, nợ gốc 16.000.000 đồng ông S chưa trả V, đề nghị được trừ 16.000.000 đồng này vào số tiền lãi mà V đã thu lợi bất chính từ ông S, ngoài ra không yêu cầu V trả lại tiền gì. Những lần vay đầu, ông S trả lãi bằng tiền mặt, đến cuối năm 2023 ông S dùng tài khoản của mình số 0399601163 tại Ngân hàng Q và số 80022005256110 tại Ngân hàng N1 để chuyển tiền lãi vào tài khoản 44310000206204 của V tại Ngân hàng Đ. Do nhiều lần chậm trả nên V gọi điện để đòi trả tiền chứ không bị V đánh đập gì.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - anh Lê Việt H2 khai: ngày 28/9/2019 anh H2 vay của V 10.000.000 đồng, V thông báo lãi suất là 5.000 đồng/1 triệu/1 ngày kỳ hạn trả lãi 10 ngày/1lần, anh H2 đồng ý và trả lãi mỗi 10 ngày là 500.000 đồng. Ngày 21/6/2020, anh H2 tiếp tục vay của V 6.000.000 đồng lãi suất thoả thuận như lần vay trước. Cả hai lần vay, Văn cộng tiền gốc là 16.000.000 đồng. Nên tính đến ngày 21/6/2020 thì V cho anh H2 vay 16.000.000 đồng lãi suất 5.000 đồng/1 triệu/1 ngày, trả lãi theo kỳ hạn 10 ngày tương đương mỗi 10 ngày tiền lãi là 800.000 đồng bằng hình thức chuyển khoản từ số tài khoản 1500619287 của Lê Việt H2 sang số tài khoản 44303206204 của Nguyễn Hữu V trong cùng hệ thống Ngân hàng Đ. Đến tháng 12/2023, do H2 xin tiền lãi nên V đồng ý không lấy tiền lãi của H2, đến tháng 3/2024 thì H2 đã trả toàn bộ nợ gốc cho V. Ngoài ra, anh H2 còn vay của V 5.000.000 đồng vào ngày 13/6/2020; vay 5.000.000 đồng vào ngày 25/9/2019 và vay 5.000.000 đồng vào ngày 09/6/2024 nhưng đã thanh toán đủ cả gốc và lãi cho V. Tổng số tiền lãi anh H2 đã trả V khoảng 116.200.000 đồng. Anh H2 không yêu cầu V phải trả lại số tiền này.
Người làm chứng - bà Trần Thị Kim L khai: Bà L tổ chức chơi họ từ năm 2018, bà quen biết với chị Ngô Thị Kim D đã lâu, chị D chơi các bát họ do bà L tổ chức cứ mỗi năm tất toán 1 lần. Do bà L không biết về công nghệ nên việc nhận tiền chuyển đến và chuyển tiền qua tài khoản bà L đều nhờ con trai là Nguyễn Hữu V, chị D cũng toàn chuyển tiền chơi họ vào tài khoản của V để Văn chuyển cho bà L.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:
- - Căn cứ khoản 2 Điều 201; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm b khoản 1 Điều 32; Điều 35 của Bộ luật Hình sự: Phạt tiền bị cáo Nguyễn Hữu V từ 250.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng sung quỹ Nhà nước. Tịch thu của bị cáo Nguyễn Hữu V 500.955.624 đồng sung quỹ Nhà nước. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- - Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy, tiêu hủy 01 (Một) sim điện thoại; Tịch thu 01 (một) điện thoại di dộng nhãn hiệu Iphone 11, màu trắng đã cũ, đã qua sử dụng để sung quỹ Nhà nước.
Phần tranh luận: Không ai tranh luận.
Lời nói sau cùng: Bị cáo rất ăn năn hối cải về hành vi của mình, bị cáo xin được hưởng khoan hồng của pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét áp dụng cho bị cáo hình phạt tiền là hình phạt chính.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, bảo đảm các quyền, nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng, không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
Sự sai số tại Bản kết luận điều tra vụ án hình sự đề nghị truy tố, Toà án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tại phiên toà để xác định lại về số liệu để đảm bảo sự chính xác của Bản án.
Đối với tài liệu là D1 bản, chỉ bản không phải bản chính trong hồ sơ vụ án (mà là bản scan màu, Toà án đã yêu cầu cung cấp bản chính nhưng không thực hiện), tuy đây không phải là căn cứ để trả hồ sơ điều tra bổ sung nhưng cần nghiêm túc rút kinh nghiệm.
[2] Về chứng cứ xác định có tội: Lời khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Hữu V về việc cho Nguyễn Văn T3, Bùi Huy T2, Nguyễn Văn H1, Lê Việt H2 và Trần Văn S vay tổng số tiền gốc 392.000.000 đồng thu lãi tổng số tiền 793.729.240 đồng (Trong đó: lãi suất theo quy định của Bộ luật Dân sự được hưởng là 108.955.624 đồng; số tiền thu lợi bất chính là 684.773.616 đồng) phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về việc tự nguyện vay và thoả thuận lãi suất với bị cáo như nội dung vụ án đã nêu; phù hợp với Quyết định trưng cầu giám định; Kết luận giám định, Bản ảnh vật chứng, Biên bản giao nhận tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử và các sao kê chi tiết giao dịch của Ngân hàng.
Như vậy, đủ cơ sở kết luận: Từ tháng 12 năm 2019 đến tháng 7 năm 2024, Nguyễn Hữu V đã trực tiếp cho 05 người vay tổng số tiền 392.000.000 đồng (cho Nguyễn Văn T3 vay 200.000.000 đồng, cho Bùi Huy T2 vay 120.000.000 đồng, cho Nguyễn Văn H1 vay 40.000.000 đồng, cho Lê Việt H2 vay 16.000.000 đồng và cho Trần Văn S vay 16.000.000 đồng) với lãi suất từ 3.300 đồng đến 5.000 đồng/1.000.000 đồng/1ngày (Tương ứng lãi suất 120,45%/năm đến 182,50%/năm) gấp 6,02 đến 9,1 lần mức lãi suất cao nhất trong Bộ luật Dân sự, thu lợi bất chính tổng số tiền 684.773.616 đồng.
Tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự.
“Điều 201. Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất trong Bộ luật Dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.
2. Phạm tội mà thu lợi bất chính 100.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”
[3] Tính chất, mức độ, hành vi phạm tội: Hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự của bị cáo Nguyễn Hữu V đã vi phạm pháp luật, xâm phạm tới trật tự quản lý kinh tế trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì động cơ vụ lợi vẫn cố ý cho người khác vay tiền với thoả thuận lãi suất cao hơn 05 lần mức lãi suất cao nhất được Bộ luật Dân sự quy định (Lãi suất do các bên thoả thuận. Trường hợp các bên có thoả thuận về lãi suất thì lãi suất theo thoả thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác - khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự); Do đó, cần xử lý trách nhiệm hình sự tương ứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo.
[4] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hướng xử lý:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo phạm tội 02 lần trở lên, phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo ra đầu thú; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện nộp lại toàn bộ tiền thu lợi bất chính; Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét cần áp dụng nghiêm khắc hình phạt tiền là hình phạt chính đối với bị cáo, tuy nhiên bị cáo đã nhận thức được hành vi phạm tội, tự nguyện nộp tiền sung quỹ Nhà nước trước khi xét xử vụ án nên phạt bị cáo mức tiền đầu khung hình phạt thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên đề nghị áp dụng điều luật, mức hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ pháp luật.
* Về xử lý tiền liên quan trực tiếp đến tội phạm:
- - Số tiền 392.000.000 đồng (là khoản tiền người phạm tội dùng để cho vay) phải tịch thu sung quỹ Nhà nước;
- - Số tiền 108.955.624 đồng (là khoản tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định Bộ luật Dân sự mà người phạm tội đã thu của người vay) phải tịch thu sung quỹ Nhà nước.
* Đối với tiền nợ gốc:
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bùi Huy T2 nợ bị cáo 70.000.000 đồng, Nguyễn Văn H1 nợ bị cáo 40.000.000 đồng và Trần Văn S nợ bị cáo 16.000.000 đồng quá trình điều tra đề nghị được trừ vào tiền bị cáo thu lợi bất chính. Toà án đưa vụ án ra xét xử, các ông T2, H1 và S đã trả toàn bộ nợ gốc cho bị cáo, HĐXX không xem xét, giải quyết.
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Vũ Văn T1 và Lê Việt H2 đã trả lại toàn bộ cho bị cáo, HĐXX không đề cập giải quyết.
* Đối với tiền thu lợi bất chính: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn T3, Bùi Huy T2, Nguyễn Văn H1, Lê Việt H2 và Trần Văn S không ai yêu cầu nào khác đối với tiền thu lợi bất chính mà người phạm tội thực tế đã thu, HĐXX không đề cập giải quyết.
Đối với các khoản vay mà người vay đã trả tiền gốc và lãi trước 11/7/2023 và tiền thu lời bất chính dưới 30.000.000 đồng đã hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[5] Vật chứng: 01 (một) điện thoại di dộng nhãn hiệu Iphone 11, màu trắng đã cũ đã qua sử dụng là công cụ phạm tội nên tịch thu, sung quỹ Nhà nước; 01 sim kèm theo điện thoại không còn giá trị nên tịch thu, tiêu hủy.
[6] Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm. Xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định và đã bị áp dụng hình phạt chính là phạt tiền nên không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 2 Điều 201; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm b khoản 1 Điều 32; khoản 1, 3 Điều 35; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Hữu V phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
Xử:
- - Phạt tiền bị cáo Nguyễn Hữu V 270.000.000 đồng sung quỹ Nhà nước.
- - Tịch thu của bị cáo Nguyễn Hữu V 500.955.624 đồng sung quỹ Nhà nước.
Tổng số tiền bị cáo phải nộp sung quỹ Nhà nước là 770.955.624 đồng được trừ vào tổng số tiền 750.000.000 đồng đã nộp (gồm 200.000.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0003305 ngày 16/10/2024; 200.000.000 đồng theo Biên lai số 0003320 ngày 26/11/2024 và 350.000.000 đồng theo Biên lai số 0003338 ngày 03/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quảng Yên). Bị cáo Nguyễn Hữu V còn phải nộp 20.955.624 đồng sung quỹ Nhà nước.
Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự: Hủy bỏ Quyết định về việc bảo lĩnh số 14/2024/HSST-TA ngày 05/11/2024 và Quyết định tạm hoãn xuất cảnh số 93/2024/HSST-THXC ngày 05/11/2024 của TAND thị xã Quảng Yên đối với bị cáo Nguyễn Hữu V.
Về vật chứng: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu 01 (một) điện thoại di dộng nhãn hiệu Iphone 11, màu trắng đã cũ, đã qua sử dụng sung quỹ Nhà nước; tịch thu tiêu hủy, tiêu hủy 01 (Một) sim điện thoại (Tình trạng thể hiện tại Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 05/11/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quảng Yên).
Về án phí: Căn cứ Điều 331; Điều 333; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: bị cáo Nguyễn Hữu Văn C 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo báo quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lê Thanh Tâm |
Bản án số 129/2024/HS-ST ngày 03/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN - TỈNH QUẢNG NINH về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 129/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN - TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hữu V phạm tội "Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự"
