|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ TỈNH THỪA THIÊN HUẾ Bản án số: 129/2024/HS-ST Ngày: 17 - 4 - 2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Vinh Phú.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Thanh Xuân và bà Hoàng Thị Thủy.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Vân, Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế tham gia phiên tòa: Ông Kiều Anh Mỹ - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 4 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 93/2024/HSST ngày 20 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 101/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 4 năm 2024; đối với bị cáo:
1. Họ và tên: Phạm Ngọc Thành Đ (tên gọi khác: Tèo); số CCCD: [...]; sinh ngày 11/01/1986, tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi cư trú: Số B T, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: Lớp 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Ngọc H (đã chết); con bà Hồ Thị H1 (đã chết); tiền sự: Không; tiền án: Có 06 tiền án:
- - Ngày 22/5/2007, bị Tòa án nhân dân thành phố Huế xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. (Bản án số 69/2007/HSST).
- - Ngày 21/01/2010, bị Tòa án nhân dân thành phố Huế xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. (Bản án số 29/2010/HSST).
- - Ngày 14/9/2012, bị Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 09 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. (Bản án số: 149/2012/HSPT).
- - Ngày 18/9/2014, bị Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. (Bản án số: 143/2014/HSPT).
- - Ngày 11/8/2016, bị Tòa án nhân dân Thành phố Huế xử phạt 07 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. (Bản án số: 171/2016/HSST).
- - Ngày 21/11/2019, bị Tòa án nhân dân Thành phố Huế xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. (Bản án số: 258/2019/HSST). Chấp hành xong hình phạt ngày 15/7/2022.
Quá trình nhân thân:
- - Ngày 22/02/2012, bị Công an thành phố H xử phạt vi phạm hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
- - Ngày 09/11/2018, bị Công an phường P, thành phố H xử phạt vi phạm hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
Bị bắt tạm giam từ ngày 07/12/2023, tại Nhà tạm giữ Công an thành phố H cho đến nay. Có mặt.
2. Họ và tên: Trương Huỳnh T (tên gọi khác: Win); số CCCD: [...]; sinh ngày 15/9/1999, tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi cư trú: Số B T, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: Lớp 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương T1 (đã chết); con bà Huỳnh Thị Khánh V, sinh năm 1960; tiền sự: 01 tiền sự:
- - Ngày 06/9/2022, bị Tòa án nhân dân thành phố Huế ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. (Số 35/QĐ-TA). (Tạm đình chỉ thi hành theo quyết định số 54/QĐ-TTBTXH ngày 17/3/2023).
Tiền án: 02 tiền án:
- - Ngày 21/9/2020, bị Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. (Bản án số 62/2020/HS-ST).
- - Ngày 27/7/2023, bị Tòa án nhân dân thành phố Huế xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. (Bản án số 210/2023/HS-ST).
Quá trình nhân thân:
- - Ngày 08/11/2013, bị Công an thành phố H xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức “Cảnh cáo” về hành vi “Trộm cắp tài sản”.
- - Ngày 13/10/2015, bị Công an thành phố H xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức “cảnh cáo” về hành vi “Trộm cắp tài sản”.
- - Ngày 24/9/2019, bị Công an thành phố H xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”.
- - Ngày 11/12/2017, bị Tòa án nhân dân thành phố Huế xử phạt 06 tháng “Cải tạo không giam giữ” về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. (Bản án số 271/2017/HSST).
Bị bắt tạm giam từ ngày 07/12/2023, tại Nhà tạm giữ Công an thành phố H cho đến nay. Có mặt.
Bị hại: Nguyễn Đăng Thanh L, sinh năm 1989; Địa chỉ: Tổ G, KV C, phường T, Thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Bà Phạm Thị H2, sinh năm 1977; Địa chỉ: Số D N, phường A, Thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
- - Bà Lê Thị L1, sinh năm 1965; Địa chỉ: Số A N, phường A, Thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
- - Anh Nguyễn Khoa T2, sinh năm 1996; Địa chỉ: Số A N, phường A, Thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 05 giờ 45 phút ngày 04/12/2023, Phạm Ngọc Thành Đ đi bộ tại đường K T, phường P, thành phố H thì gặp Trương Huỳnh T (ở cùng xóm với Đ), do có quen biết nhau từ trước nên cả hai rủ nhau đi bộ tìm tài sản sơ hở để trộm cắp. Lúc đi ngang qua số nhà B P, phường P, thành phố H thì nhìn thấy nhà đang xây dựng không có người trông coi nên cả hai chia nhau đi tìm tài sản lấy trộm. Đ đi vào tầng 1 thấy 5 thanh kim loại hình chữ V, kích thước mỗi thanh (300cmx4cmx4cm) còn T đi lên tầng 3 lấy trộm 01 máy trộn sơn hiệu MAKITA UT1301 màu xám và 01 máy xoa tường hiệu HIKOCHI màu đỏ, tất cả tài sản trên là của anh Nguyễn Đăng Thanh L (sinh năm 1989, cư trú tại: Tổ G, khu V, phường T, thành phố H) đang nhận thầu thi công xây dựng và để tài sản tại đây. Sau khi lấy trộm, Đ và T mang 05 thanh kim loại chữ V đến cửa hàng phế liệu tại địa chỉ số D N, phường A, thành phố H bán cho bà Phạm Thị H2 (sinh năm 1977, trú cùng địa chỉ) với số tiền 85.000 đồng (tám mươi lăm nghìn đồng). Đối với máy xoa tường hiệu HIKOCHI màu đỏ thì Đ và T bán cho bà Lê Thị L1 (sinh năm: 1965, ở địa chỉ A N, phường A, thành phố H) với số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng). Đối với máy trộn sơn hiệu MAKITA UT1301 màu xám, Đ và T bán cho anh Nguyễn Khoa T2, (sinh năm: 1996 ở địa chỉ: số A N, phường A, thành phố H) với số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng). Tất cả số tiền trên hai đối tượng chia nhau tiêu xài cá nhân hết. Sau khi phát hiện tài sản bị mất trộm Nguyễn Đăng Thanh L đã có đơn trình báo.
* Kết luận định giá tài sản số 259/KL-HĐĐGTS ngày 07/12/2023, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng Hình sự thành phố H kết luận định giá như sau:
- - 01 (một) máy trộn sơn hiệu MAKITA UT1301 màu xám, đã qua sử dụng vào thời điểm ngày 04/12/2023 có trị giá 700.000đ (bảy trăm nghìn đồng).
- - 01 (một) máy xoa tường hiệu HIKOCHI màu đỏ, đã qua sử dụng vào thời điểm ngày 04/12/2023 có trị giá 1.600.000đ (một triệu sáu trăm nghìn đồng).
- - 05 (năm) thanh kim loại hình chữ V, kích thước mỗi thanh (300cmx4cmx4cm), màu trắng xám, tổng cân nặng 11kg, đã qua sử dụng vào thời điểm ngày 04/12/2023 có trị giá 165.000đ (một trăm sáu mươi lăm nghìn đồng).
Tổng cộng là 2.465.000 đồng (hai triệu bốn trăm sáu mươi lăm nghìn đồng).
* Về xử lý vật chứng:
Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố H đã trả lại 01 máy trộn sơn hiệu MAKITA UT1301 màu xám, 01 máy xoa tường hiệu HIKOCHI màu đỏ, 05 thanh kim loại hình chữ V, kích thước mỗi thanh (300cmx4cmx4cm), màu trắng xám, tổng cân nặng 11kg cho anh Nguyễn Đăng Thanh L là chủ sở hữu.
Đối với 01 USB màu xanh nhạt, bên trong có chứa video hai đối tượng lấy trộm tài sản tại B P, phường P, thành phố H vào ngày 04/12/2023 tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án.
* Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Đăng Thanh L, anh Nguyễn Khoa T2, bà Lê Thị L1, bà Phạm Thị H2 không có yêu cầu bồi thường gì về dân sự. Anh L xin giảm nhẹ hình phạt cho Đ và T.
Tại bản cáo trạng số 115/CT-VKSTPH ngày 18/3/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế đã truy tố bị cáo Phạm Ngọc Thành Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự; bị cáo Trương Huỳnh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, trong phần luận tội đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; tuyên bố bị cáo Phạm Ngọc Thành Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”; đề nghị xử phạt bị cáo từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 06 tháng tù. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; tuyên bị cáo Trương Huỳnh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”; đề nghị xử phạt bị cáo từ 09 tháng đến 12 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Không có ai yêu cầu bồi thường gì về dân sự, nên không đề nghị xem xét.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố H đã trả lại 01 máy trộn sơn hiệu MAKITA UT1301 màu xám, 01 máy xoa tường hiệu HIKOCHI màu đỏ, 05 thanh kim loại hình chữ V, kích thước mỗi thanh (300cmx4cmx4cm), màu trắng xám, tổng cân nặng 11kg cho anh Nguyễn Đăng Thanh L là chủ sở hữu nên không đề nghị xem xét. Đối với 01 USB màu xanh nhạt, bên trong có chứa video hai đối tượng lấy trộm tài sản tại B P, phường P, thành phố H vào ngày 04/12/2023; cần tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án.
Về án phí: Đề nghị tuyên buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Phạm Ngọc Thành Đ và Trương Huỳnh T thừa nhận hành vi đã thực hiện như cáo trạng truy tố; xin Hội đồng xét xử khoan hồng, cho bị cáo được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nên đều hợp pháp.
[2] Các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố, lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác, phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do đó, đã có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 05 giờ 45 phút ngày 04/12/2023, tại số nhà B P, phường P, thành phố H, Phạm Ngọc Thành Đ và Trương Huỳnh T đã trộm cắp của anh Nguyễn Đăng Thanh L 05 thanh kim loại hình chữ V, kích thước mỗi thanh (300cmx4cmx4cm) trị giá 165.000 đồng; 01 máy trộn sơn hiệu MAKITA UT1301 màu xám trị giá 700.000 đồng, 01 máy xoa tường hiệu HIKOCHI màu đỏ, trị giá 1.600.000 đồng. Tổng cộng giá trị tài sản mà Đ và T trộm cắp là 2.465.000 đồng (Hai triệu bốn trăm sáu mươi lăm nghìn đồng).
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
* Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
- - Đối với Phạm Ngọc Thành Đ: Không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- - Đối với Trương Huỳnh T: phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
* Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Phạm Ngọc Thành Đ và Trương Huỳnh T được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là phạm tội gây thiệt hại không lớn, thành khẩn khai báo, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt theo quy định tại điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự
[4] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo thấy rằng: Đây là vụ án đồng phạm, nhưng mang tính giản đơn. Các bị cáo cùng nhau thực hiện tội phạm với vai trò là người thực hành. Các bị cáo nhận thức được việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng vì tham lam nên đã phạm tội. Các bị cáo có nhân thân xấu, nhiều lần vi phạm pháp luật bị xử phạt hành chính và xử lý hình sự. Bị cáo Phạm Ngọc Thành Đ có 06 tiền án chưa được xóa án tích, trong đó có 01 bản án áp dụng tình tiết tăng nặng “tái phạm”, 01 bản án thuộc trường hợp “tái phạm nguy hiểm”. Bị cáo Trương Huỳnh T có 02 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích. Hành vi của các bị cáo cho thấy rõ việc coi thường pháp luật. Do đó, cần thiết cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà mới đảm bảo tác dụng giáo dục, răn đe, phòng ngừa chung.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản và không ai có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về xử lý vật chứng:
- - Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố H đã trả lại các tài sản cho chủ sở hữu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- - Đối với 01 USB màu xanh nhạt, bên trong có chứa video hai đối tượng lấy trộm tài sản tại B P, phường P, thành phố H vào ngày 04/12/2023; cần tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án.
[7] Về án phí: Bị cáo Phạm Ngọc Thành Đ và Trương Huỳnh T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn đồng) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Ngọc Thành Đ và Trương Huỳnh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Về trách nhiệm hình sự:
- - Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
- Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc Thành Đ (tên gọi khác: T3) 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam là ngày 07/12/2023.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự;
- Xử phạt bị cáo Trương Huỳnh T (tên gọi khác: W) 09 (chín) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam là ngày 07/12/2023.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- - Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Phạm Ngọc Thành Đ và Trương Huỳnh T; mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Hồ Vinh Phú |
Bản án số 129/2024/HS-ST ngày 17/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về hình sự sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản
- Số bản án: 129/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bị cáo Phạm Ngọc Thành Đạt về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự; bị cáo Trương Huỳnh Toàn về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự
