Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LÂM ĐỒNG

Bản án số: 129/2024/HS-PT

Ngày: 22-8-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Công Hoàn
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hữu Hồng
Ông Nguyễn Văn Thanh

Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thái Phương là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Đào - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm công khai, lưu động vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 134/2024/TLPT-HS ngày 19 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo Hoàng Thế L do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 34/2024/HS-ST ngày 12 tháng 6 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng.

Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Hoàng Thế L, sinh năm: 1994, tại Lâm Đồng; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Tổ dân phố A, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Làm vườn; trình độ học vấn: 10/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; con ông: Hoàng Văn D (Đã chết) và con bà: Trần Thị S; vợ: Nguyễn Ngọc Á, sinh năm 2000; có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2018, nhỏ nhất sinh năm 2020.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 03-01-2024, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ thuộc Công an huyện B. Có mặt tại phiên tòa.

Ngoài ra trong vụ án còn có 06 bị cáo khác; 03 người bị hại; 04 người liên quan nhưng không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị; những người này cũng không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

2

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vương Quốc A và Vương Ngọc S1 là hai anh em ruột. Quá trình sinh sống, Vương Quốc A thuê Hoàng Tuấn A1 cùng K để làm việc cho mình. Trong khoảng thời gian tháng 9, Vương Ngọc S1, Vương Quốc A đã chỉ đạo Hoàng Tuấn A1, K thực hiện 01 vụ trộm cắp tài sản. Sau đó, Hoàng Tuấn A1, K tiếp tục thực hiện thêm 02 vụ trộm cắp tài sản tại địa bàn huyện B và huyện D. Cụ thể:

Vụ trộm cắp 02 cây T: Do có con học tại thành phố B nên Vương Ngọc S1 thường đi qua đoạn đường thuộc thị trấn L, huyện B. Khoảng tháng 9 -2023, khi đi ngang nhà ông Bùi Chí D1 tại địa chỉ: số nhà C H, tổ D, thị trấn L, huyện B, S1 thấy phía trước sân có 02 cây Tùng L (Tùng K) được trồng trong chậu, thấy đẹp nên S1 xin vào chụp ảnh và ghim vị trí cây T trên điện thoại của mình; khi về đến nhà, S1 qua nhà Vương Quốc A, tại đây có Quốc A và Hoàng Tuấn A1. S1 cho cả hai xem hình 02 cây T đã chụp nhà ông D1 và nói “Coi xem thiết kế lấy về chơi” (ý là trộm cắp mang về chơi), Tuấn Al nghe vậy thì nói “Dạ”, Quốc A nói “Ừ, xuống xem được thì lấy”. Khoảng một tuần sau, S1 nói Tuấn A1 đi cùng S1 xuống thị trấn L và chỉ cho Tuấn A1 02 cây T tại nhà ông D1 để xác định vị trí sẽ thực hiện việc trộm cắp.

Chiều ngày 19-9-2023, Tuấn A1 gọi điện cho Quốc A để hỏi ý kiến về việc đi trộm cắp 02 cây T thì Quốc A đồng ý, lúc này K đang ở cùng Tuấn A1, do cùng là người làm của Quốc A nên K thống nhất đi cùng Tuấn A1. Tuấn Al gọi điện thoại cho S1 nói gửi vị trí 02 cây T đã ghim trước đó, S1 đồng ý và gửi vị trí đã ghim cho Tuấn Al qua ứng dụng mạng xã hội Zalo. Sau đó, Tuấn Al điều khiển xe cùng K đến nhà Hoàng Thế L và rủ L đi trộm cắp, L đồng ý. Trước khi đi, Tuấn Al qua nhà Quốc A lấy 01 con dao và 01 kìm cộng lực rồi cùng K, L đi 02 xe mô tô xuống thị trấn L theo vị trí S1 đã gửi.

Khoảng 21 giờ ngày 19-9-2023, nhóm Tuấn A1 đến nhà ông D1 nhưng do còn sớm, chưa trộm cắp được nên cả nhóm thuê nhà nghỉ để ngủ. Đến khoảng 01 giờ ngày 20-9-2023, Tuấn A1 trả phòng rồi cùng K, L đi 02 xe mô tô đến trước nhà ông D1. Cả nhóm bỏ xe ngoài lề đường rồi trèo qua hàng rào để đột nhập vào trong tiếp cận 02 cây T, dùng kìm cộng lực cắt dây xích sắt đang buộc ở cây, lật cây ra khỏi chậu, dùng dao chọc bớt đất ở bầu rễ cây rồi mở cổng (cổng không khóa) chuyển 02 cây T ra ngoài. Tuấn A1 và L đi một xe mô tô chở 01 cây T, K đi một xe mô tô chở cây T còn lại đi theo đường ĐT725 để về huyện L.

Trên đường đi, Tuấn A1 gọi điện thoại báo cho Quốc A biết đã trộm cắp được 02 cây T và nói Quốc A đi đón. Quốc A gọi S1 thông báo đã trộm cắp được cây T và nói S1 điều khiển xe ôtô bán tải, BKS: 49C-296.96 đến nhà chở

3

Quốc A đi đón nhóm Tuấn A1. Lúc này, tại nhà Quốc A có Hoàng Phi T1, sinh năm 1989; nơi cư trú: Thôn P, xã P, huyện L đang ở chơi nên Quốc A rủ T1 đi cùng thì T1 đồng ý. S1 điều khiển xe đến đoạn đèo T, huyện D thì gặp Tuấn A1, S1 cho xe quay đầu rồi dừng ngay vị trí của Tuấn A1, sau đó, Tuấn A1 và L khiêng cây T lên xe bán tải cho S1 chở về nhà Quốc A. K’Nhuận lúc này lạc đường nên không gặp được nhóm của S1 mà một mình điều khiển xe mô tô chở cây T còn lại về nhà Quốc A. Sau khi tập kết 02 cây T tại nhà, Quốc A cho S1 01 cây để mang về trồng, cây còn lại được trồng tại nhà Quốc A.

Sau khi Quốc A trồng cây T tại nhà, Trương Hoài T2 có đến nhà Quốc A chơi và hỏi nguồn gốc cây T thì được Quốc A cho biết do T3 anh trộm cắp ở B mang về. Sau khi sự việc bị phát giác, biết bị triệu tập làm việc nên S1 và Quốc A mang giấu cây ở vị trí khác. Sau đó, S1 giao cây T đã trộm cắp cho lực lượng Công an còn Q giấu cây ở sau vườn rồi mang đến bỏ gần vườn cà phê của ông Nguyễn Huy C tại thôn H, xã N, huyện L và bị thu giữ vào ngày 05-11-2023. Lúc này, Quốc A đến hầm đá của Trương Hoài T2 ở xã P, huyện L để trốn tránh. Tại đây, Quốc A kể cho T2 nghe về vụ trộm cắp 02 cây T và cùng với T2 bàn bạc việc đối phó với Cơ quan điều tra theo hướng chỉ mua cây từ Tuấn A1 chứ không biết việc trộm cắp, bàn bạc phi tang cây T để xóa dấu vết. Sau đó, T2 nói Quốc A lên thành phố Đ để trốn tránh.

Vào ngày 31-10-2023, S1 được triệu tập làm việc tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B. Trước khi đi, S1 rủ Trương Hoài T2 đi cùng và được T2 đồng ý, biết S1 bị triệu tập, T2 nhắn tin nói Quốc A thoát tài khoản Zalo để tránh bị phát hiện. S1 điều khiển xe ô tô bán tải, BKS: 49C-296.96 chở Trương Hoài T2 cùng đi xuống Công an huyện B. Trên đường đi, S1 và T2 bàn bạc với nhau về việc đối phó với Cơ quan điều tra, T2 chỉ S1 cách khai gian dối để chối tội và gây khó khăn cho Cơ quan điều tra. Sau khi biết S1 bị bắt, T2 vẫn cho Quốc A trốn tránh tại hầm đá của mình sau đó chở Quốc A ra sân bay để Quốc A đi ra miền B trốn tránh. Sau khi bị bắt, các đối tượng thừa nhận hành vi phạm tội.

Tại Kết luận định giá tài sản số 93 ngày 06/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện B kết luận: 01 cây Tùng L khoảng 35 năm tuổi, tổng chiều cao từ bộ rễ đến ngọn là 1,61m; chu vi gốc là 0,76m (vị trí tính từ ngọn xuống 1,2m) trị giá 70.000.000 đồng.

Tại Kết luận định giá tài sản số 95 ngày 08/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện B kết luận: 01 cây Tùng L khoảng 35 năm

4

tuổi, tổng chiều cao từ bộ rễ đến ngọn là 1,52m; chu vi gốc là 0,72m (vị trí tính từ ngọn xuống 01m) trị giá 90.000.000 đồng. Tổng giá trị 02 cây T là 160.000.000 đồng.

Vụ trộm cắp xe ba gác: Vào ngày 18-10-2023, Đàm Thanh H đến nhà Vương Quốc A chơi thì gặp Hoàng Tuấn A1 và K. Tuấn A1 rủ cả hai đến thành phố B trộm cắp cây T thì K và Hòa đồng ý. Tuấn A1, H và K đi trên 01 xe mô tô đến thành phố B để trộm cắp cây T nhưng đến nơi thấy có nhiều người, đèn sáng nên không trộm cắp được. Sau đó, cả ba đi vào hướng L, huyện B tìm tài sản trộm cắp. Khi đi ngang nhà ông Nguyễn Văn V tại thôn A, xã L, huyện B, H thấy trong sân nhà có 01 xe ba gác, BKS: 61L7-3122 của anh Trần Bảo L1 đang gửi tại đây nên nảy sinh ý định trộm cắp. H tiếp cận xe sau đó gọi K và Tuấn A1 vào phụ đẩy xe ra ngoài đường. H bật chìa khóa có sẵn trên xe để khởi động sau đó chở theo xe mô tô cùng Tuấn Al và K đi về hướng huyện L. Lúc này, K là người chỉ đường để H lái xe, do chỉ nhầm đường nên H điều khiển xe đi về hướng xã Đ, huyện D.

Khi đi đến đoạn đường thuộc thôn B, xã Đ, huyện D, xe do H điều khiển hết xăng. Các đối tượng tìm thấy 01 xe mô tô Wave của ông Nguyễn Thanh C1, sinh năm 1982; nơi cư trú: Thôn B, xã Đ, huyện D đang dựng trước nhà nên H và K vào trộm xăng từ xe Wave đổ vào xe ba bánh (Không xác định được bao nhiêu xăng) rồi tiếp tục đi. Khi đi ngang nhà ông Lê Văn T4 địa chỉ: tại Thôn B, xã Đ, huyện D, phát hiện xe ba gác của anh Nguyễn Văn A2 đang dựng trước nhà không có ai trông coi nên nảy sinh ý định trộm cắp. H điều khiển xe đi về hướng xã T khoảng 40m thì dừng lại, sau đó, K và Tuấn A1 xuống xe đi bộ đến vị trí xe ba gác của ông A2, K khởi động xe rồi điều khiển còn Tuấn A1 ngồi lên thùng xe rồi cùng nhau đi về huyện L cất giấu.

Khoảng 11 giờ ngày 20-10-2023, H gọi điện thoại cho Tuấn A1 và K đến để đi bán xe ba gác của anh Trần Bảo L1 nhưng không có ai mua nên H liên hệ với anh Nguyễn Hồ A3 Dũ nhờ tìm người mua. Sau đó, cả ba cùng đi xe ba gác đến huyện Đ, Tuấn A1 và K thuê nhà nghỉ để ngủ còn H điều khiển xe đi gặp và đưa xe cho D2. Dũ mang xe cầm cố cho bà Lưu Thị T5 được 10.000.000 đồng rồi đưa cho H. Số tiền này, các đối tượng chia nhau tiêu xài cá nhân hết.

Ngày 23-10-2023, H lấy xe ba gác của anh Nguyễn Văn A2 mang bán cho anh Nguyễn Huy H1 với giá 9.000.000 đồng. Số tiền này, H tiêu xài cá nhân hết.

Tại Kết luận định giá tài sản số 92 ngày 01-11-2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện B kết luận: 01 xe ba gác, BKS: 61L7-3122 trị giá 35.000.000 đồng.

5

Tại kết luận định giá tài sản số 992 ngày 07-12-2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện D kết luận: 01 xe ba gác, BKS: 61L8-5068 trị giá 45.450.0000 đồng. Tổng giá trị tài sản 02 xe ba gác là 80.450.000 đồng.

Như vậy, tổng giá trị tài sản Vương Ngọc S1, Vương Quốc A, Hoàng Thế L chiếm đoạt là 160.000.000 đồng. Tổng giá trị tài sản Đàm Thanh H chiếm đoạt là 80.450.000 đồng. Tổng giá trị tài sản Hoàng Tuấn A1, K chiếm đoạt là 240.450.000 đồng.

Tại Cáo trạng số 27/CT-VKS ngày 16-4-2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng đã truy tố bị cáo Hoàng Tuấn A1, K về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 3 điều 173 Bộ luật hình sự; truy tố các bị cáo Vương Ngọc S1, Vương Quốc A, Hoàng Thế L, Đàm Thanh H về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 điều 173 Bộ luật hình sự; truy tố bị cáo Trương Hoài T2 về tội “Che dấu tội phạm” theo điểm c khoản 1 Điều 389 Bộ luật hình sự.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 34/2024/HS-ST ngày 12-6-2024 của Tòa án nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng đã:

Tuyên bố các bị cáo Hoàng Thế L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Thế L 30 (Ba mươi) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày 03-01-2024.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về tội danh và hình phạt đối với các bị cáo Hoàng Tuấn A1, K, Vương Ngọc S1, Vương Quốc A, Đàm Thanh H và Trương Hoài T2

Ngày 24-6-2024, bị cáo Hoàng Thế L kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không thắc mắc, khiếu nại nội dung bản án sơ thẩm, thừa nhận hành vi như phần nội dung bản án sơ thẩm đã đề cập, nhưng giữ nguyên nội dung kháng cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự; không chấp nhận kháng cáo của bị cáo; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

6

[1] Cơ quan tiến hành tố tụng tại giai đoạn sơ thẩm đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về thủ tục kháng cáo: đơn kháng cáo của bị cáo đúng về hình thức, nội dung, trong thời hạn kháng cáo nên hợp lệ, đủ cơ sở để xem xét theo trình tự, thủ tục phúc thẩm.

[3] Về hành vi phạm tội:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Hoàng Thế L khai và thừa nhận: Ngày 20-9-2023 theo chỉ dẫn của Vương Quốc A và Vương Ngọc S1 thì bị cáo cùng Hoàng Anh T6, K' Nhuận đã có hành vi lén lút lấy cắp 02 cây T của nhà ông Bùi Chí D1 tại tổ D, thị trấn L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng; theo kết luận định giá trong tố tụng hình sự 02 cây T mà các bị cáo thực hiện hành vi chiếm đoạt có trị giá 160.000.000 đồng. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai các bị cáo khác, bị hại, người liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án; bị cáo cùng các đồng phạm có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp, xâm phạm đến khách thể là quyền sở hữu hợp pháp tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Tòa án cấp sơ thẩm đã kết án bị cáo cùng các đồng phạm về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự, đồng thời đánh giá trị giá tài sản chiếm đoạt có trị giá trên 50.000.000 đồng nên kết luận bị cáo Hoàng Thế L phạm tội thuộc trường trường hợp định khung tăng năng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội.

[4] Về hình phạt và kháng cáo:

Trong vụ việc trộm cắp 02 cây T, bị cáo Hoàng Thế L là người thực hành tích cực. Cấp sơ thẩm đánh giá hành vi của bị cáo cùng các đồng phạm là nguy hiểm cho xã hội, tính chất mức độ của hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng, gây mất an ninh trị an trên địa bàn. Tại giai đoạn sơ thẩm bị cáo thành khẩn khai báo; cùng các bị cáo khác khắc phục hậu quả và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự là phù hợp. Ngoài ra, cấp sơ thẩm đánh giá bị cáo thuộc trường hợp nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, chỉ cùng các bị cáo thực hiện 01 vụ trộm mà không tham gia các vụ trộm khác, do đó xử phạt bị cáo 30 tháng tù, mức án thấp nhất trong số 06 bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra; bảo đảm sự phân hóa tội phạm, cá thể hóa trách nhiệm hình sự trong vụ án đồng phạm, thể hiện tính răn đe và yêu cầu đấu tranh, phòng chống tội phạm, đặc biệt là đối với hoạt động có dấu hiệu ổ nhóm như hành vi bị cáo cùng đối tượng khác thực hiện. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và tại phiên tòa phúc thẩm giữ nguyên kháng cáo nhưng không đưa ra được tình tiết

7

giảm nhẹ nào khác, trong khi cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo, do đó không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị cáo, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm như quan điểm Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng nêu ra tại phiên tòa phúc thẩm.

[5] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[6] Về các vấn đề khác: các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xét và có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng Thế L và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

1. Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Thế L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Thế L 30 (Ba mươi)tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 03-01-2024.

2. Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Hoàng Thế L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Lâm Đồng (01);
  • - Vụ GĐKT I – TANDTC (01);
  • - Phòng KTNV&THA (02);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng (01);
  • - TAND huyện Bảo Lâm (02);
  • - VKSND huyện Bảo Lâm (01);
  • - Cơ quan CSĐT CA huyện Bảo Lâm (01);
  • - Cơ quan THAHS huyện Bảo Lâm (01);
  • - Phòng PV 06 - Công an tỉnh Lâm Đồng (01);
  • - Bị cáo (01);
  • - Văn phòng TAND tỉnh Lâm Đồng (01);
  • - Lưu hồ sơ; Án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký và đóng dấu)

Nguyễn Công Hoàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 129/2024/HS-PT ngày 22/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG về hình sự phúc thẩm về tội trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 129/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm về tội Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 22/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo; giữ nguyên bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger