Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HÀ TĨNH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 129/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 16 - 9 - 2024
V/v tranh chấp Hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hồ Đức Quang
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tất Thể
Ông Bùi Văn Hồng
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Linh Giang - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Quỳnh Lê - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 9 năm 2024, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh mở phiên toà xét xử công khai sơ thẩm vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 71/2024/TLST-HNGĐ, ngày 22 tháng 4 năm 2024 về việc “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 117/2024/QĐXX - HNGĐ ngày 16/8/2024 và Thông báo về việc mở lại phiên tòa số 65/TB-TA ngày 05/9/2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Như Q, sinh năm 1996; Nơi cư trú trước khi xuất cảnh: Xóm Y, xã L, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh (Nơi cư trú hiện nay: 22 S, P, 347941, Singapore) – Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
  2. Bị đơn: Anh Đậu Văn C, sinh năm 1995; Nơi cư trú: Xóm Y, xã L, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh – Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn chị Nguyễn Như Q trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Đậu Văn C có đăng ký kết hôn vào ngày 31/3/2015 tại UBND xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. Thời gian đầu vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc, đến khoảng tháng 4/2018, chị Q đi xuất khẩu lao động tại nước Singapore. Do vợ chồng sống xa nhau nên thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống dẫn đến tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được và hai người sống ly thân cho đến nay. Nay chị Nguyễn Như Q xác định mục đích hôn nhân không đạt được và yêu cầu được ly hôn anh Đậu Văn C để sớm ổn định cuộc sống.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Đậu Anh T, sinh ngày 30/9/2015, hiện nay cháu T đang sinh sống cùng anh C và chị Nguyễn Như Q có nguyện vọng giao cháu Đậu Anh T cho anh C trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng nuôi con, chị Q sẽ chu cấp nuôi dưỡng con chung 2.000.000đồng/tháng cho đến lúc cháu T đủ 18 tuổi tính từ ngày quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn anh Đậu Văn C, sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã gửi thông báo thụ lý vụ án và triệu tập làm việc hợp lệ đối với anh C nhưng anh không có mặt để làm việc. Tòa án đã tiến hành xác minh thông tin về anh Đậu Văn C thông qua người thân của anh và được bà Nguyễn Thị T1 (mẹ đẻ anh C) cho biết hiện nay anh C đã biết việc Tòa án thụ lý vụ án ly hôn giữa anh và chị Nguyễn Như Q nhưng anh C không đến làm việc với lý do việc ly hôn là tùy ở chị Q. Ngoài ra, anh Đậu Văn C có trao đổi với bà T1 là trường hợp vợ chồng ly hôn, anh C có nguyện vọng được chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là cháu Đậu Anh T. Mặt khác, do bị đơn anh Đậu Văn C trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án không hợp tác nên Tòa án không thu thập được nguyện vọng của con chung là cháu Đậu Anh T.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và các đương sự; phân tích nội dung vụ án và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 51, Điều 56, 57, 81, 82, 83, 123 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37; Điều 39; khoản 4 Điều 147 Bộ luật TTDS năm 2015; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV, giải quyết:

  • Về tình cảm: Xử cho chị Nguyễn Như Q được ly hôn anh Đậu Văn C.
  • Về con chung: Giao con chung là cháu Đậu Anh T, sinh ngày 30/9/2015 cho anh Đậu Văn C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (18 tuổi). Chị Q tự nguyện cấp dưỡng con chung mỗi tháng 2.000.000đồng cho đếnkhi cháu đủ 18 tuổi tính từ ngày quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Chị Nguyễn Như Q có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.
  • Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.
  • Về án phí: Chị Nguyễn Như Q phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án và đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

1. Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Đậu Văn C có hộ khẩu thường trú tại xã L, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh, còn nguyên đơn chị Nguyễn Như Q hiện đang cư trú tại Singapore và tại thời điểm Tòa án thụ lý vụ án, theo Công văn của Cục Q2 Bộ C1 thì chị Q hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Do đó Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh thụ lý là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 37 Bộ luật TTDS năm 2015.

Tại phiên tòa, chị Nguyễn Như Q có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, phiên tòa được mở lần thứ hai và anh Đậu Văn C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt không có lý do. Vì vậy, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt chị Nguyễn Như Q và anh Đậu Văn C theo quy định.

2. Về nội dung:

[2.1] Về tình cảm: Chị Nguyễn Như Q và anh Đậu Văn C kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn vào ngày 31/3/2015 tại UBND xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. Điều đó phù hợp với Giấy chứng nhận kết hôn của chị Q và anh C do UBND xã K, huyện cấp nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ hôn nhân của giữa chị Nguyễn Như Q và anh Đậu Văn C là hợp pháp.

Về nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng theo chị Nguyễn Như Q trình bày là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, đến nay không còn tiếng nói chung, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, kéo dài, tình cảm vợ chồng không còn nên mục đích hôn nhân không đạt được. Đối với anh Đậu Văn C, mặc dù mâu thuẫn vợ chồng đã lâu và anh biết việc chị Q yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn nhưng anh không đến làm việc theo triệu tập của Tòa án, thể hiện ý thức không mong muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân giữa hai người đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần căn cứ Điều 51, 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Như Q đối với anh Đậu Văn C là có cơ sở.

[2.2] Về con chung: Xét thấy, lâu nay anh Đậu Văn C là người trực tiếp chăm sóc con chung, còn bản thân chị Q hiện đang làm việc ở nước ngoài và chị có yêu cầu giao con cho anh C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng nên xét về điều kiện để gần gũi, chăm sóc con thì chị Q không thể đảm bảo bằng anh C. Vì vậy, để không làm ảnh hưởng đến tâm lý cũng như xáo trộn cuộc sống của cháu Đậu Anh T cần giao cháu T cho anh Đậu Văn C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp. Đồng thời, ghi nhận sự tự nguyện của chị Q về đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi cháu Đậu Anh T đủ 18 tuổi. Chị Nguyễn Như Q có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.

[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.

3. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 51, Điều 56, 57, 81, 82, 83, 123 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37; Điều 39; khoản 4 Điều 147 Bộ luật TTDS năm 2015; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Như Q, xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Như Q được ly hôn với anh Đậu Văn C.
  2. Về con chung: Giao con chung Đậu Anh T, sinh ngày 30/9/2015 cho anh Đậu Văn C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu T đủ 18 tuổi. Ghi nhận sự tự nguyện đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung của chị Nguyễn Như Q mỗi tháng 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) cho đến lúc cháu T đủ 18 tuổi tính từ ngày quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Chị Nguyễn Như Q có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.
  3. Về án phí: Buộc chị Nguyễn Như Q phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí mà chị đã nộp theo biên lai số 0000850 ngày 19/4/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh.
  4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

CÁC HỘI THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Tất Thể Bùi Văn H Hồ Đức Q1

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Cục THADS tỉnh Hà Tĩnh;
  • - UBND xã Kỳ Xuân;
  • - Đương sự;
  • - Lưu HS, TDS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hồ Đức Quang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 129/2024/HNGĐ-ST ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về tranh chấp hôn nhân và gia đình (ly hôn, nuôi con)

  • Số bản án: 129/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình (Ly hôn, nuôi con)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Q xin ly hôn Đậu Văn C
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger