Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 1284/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 18 - 9 - 2024

V/v: “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Hoàng Thế Viễn

Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Văn Soan

bà Nguyễn Thị Lý

- Thư ký phiên tòa: ông Phan Gia Hưng – Thư ký tòa án, Toà án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp tham gia phiên tòa: bà Đinh Hương Liên – Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, xét xử sơ thẩm công khai, vụ án dân sự thụ lý số: 568/2024/TLST- HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 471/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 431/2024/QÐST-HNGĐ ngày 23 tháng 8 năm 2024.

Nguyên đơn: bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1974; thường trú: Xóm C, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: 4 L, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, (có mặt).

Bị đơn: ông Phạm Văn L sinh năm 1969; nơi cư trú: A L, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 10 tháng 5 năm 2024, bản tự khai, qua các lần làm việc tại Tòa án, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị V trình bày: ông Phạm Văn L với bà Nguyễn Thị V có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Nam Định, Giấy chứng nhận kết hôn số: 34/1992, ngày 10 tháng 11 năm 1992. Do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay nhận thấy không thể khắc phục được mâu thuẫn vợ chồng, tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc, nên bà V yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông L để ổn định cuộc sống. Bà V và ông L có 02 con chung tên là Phạm Thị Hồng T, sinh ngày 21 tháng 12 năm 1994 và Phạm Thị H, sinh ngày 09 tháng 9 năm 1998 (cả 02 con chung đã trưởng thành). Về tài sản chung, nợ chung: bà V không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.

Tòa án đã thông báo về việc thụ lý vụ án cho đương sự, triệu tập ông L tới Tòa án để tham gia tố tụng nhưng ông L đều vắng mặt không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Tòa án đã xác minh về tình trạng cư trú hiện nay của ông L và đã được Công an P, quận G xác minh hiện nay ông L vẫn đang cư trú tại địa chỉ: A L, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Do bà V vẫn xin được giải quyết ly hôn, nên Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và Giấy triệu tập tham gia phiên tòa cho ông L, nhưng tại phiên tòa này ông L vẫn vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Tòa án đã thực hiện đúng, đầy đủ trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn chưa thực hiện đúng quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Đối với yêu cầu của nguyên đơn xin được giải quyết ly hôn theo nội dung đã trình bày là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả làm việc tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số: 34/1992, ngày 10 tháng 11 năm 1992 do Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Nam Định cấp cho bà Nguyễn Thị V và ông Phạm Văn L đã xác định quan hệ hôn nhân giữa bà V và ông L là quan hệ hôn nhân hợp pháp được điều chỉnh bởi Luật hôn nhân và gia đình.

Yêu cầu xin ly hôn của bà V đối với ông L là quan hệ tranh chấp về hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết sơ thẩm của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt tại phiên tòa, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về nội dung:

Đối với yêu cầu ly hôn của bà V thì Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bà V yêu cầu Toà án giải quyết cho ly hôn, theo nguyên nhân chủ yếu là do vợ chồng không còn tình cảm, có mâu thuẫn trầm trọng. Như vậy là vợ chồng không còn thương yêu nhau, mục đích hôn nhân không đạt được Công an P, quận G xác minh hiện nay ông L vẫn đang cư trú tại Phường A, quận G. Việc ông L không tới Tòa án để ghi bản khai, tham gia các phiên hòa giải, phiên tòa cũng đã thể hiện ông L không mong muốn đoàn tụ với bà V. Hội đồng xét xử thấy rằng nên chấp nhận giải quyết cho ly hôn theo yêu cầu của nguyên đơn.

Bà V và ông L có 02 con chung tên là Phạm Thị Hồng T, sinh ngày 21 tháng 12 năm 1994 và Phạm Thị H, sinh ngày 09 tháng 9 năm 1998 (cả 02 con chung đã trưởng thành), nên Hội đồng xét xử không xét việc nuôi con sau khi ly hôn trong vụ án này.

Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung, nợ chung nên Hội đồng xét xử không xét về tài sản chung, nợ chung của đương sự trong vụ án này.

Từ những nhận định như trên Hội đồng xét xử thống nhất giải quyết cho bà V được ly hôn với ông L, cụ thể như sau:

Về quan hệ hôn nhân: bà V được ly hôn với ông L, quan hệ hôn nhân chấm dứt từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Về con chung: bà V và ông L có 02 con chung tên là Phạm Thị Hồng T, sinh ngày 21 tháng 12 năm 1994 và Phạm Thị H, sinh ngày 09 tháng 9 năm 1998 (cả 02 con chung đã trưởng thành)

Về tài sản chung, nợ chung: đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.

Bà V phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đ (ba trăm ngàn đồng) theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 150, Điều 203, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Căn cứ vào Điều 56, 57, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Căn cứ vào Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:

    Bà Nguyễn Thị V được ly hôn với ông Phạm Văn L.

    Quan hệ hôn nhân theo Giấy chứng nhận kết hôn số: 34/1992, ngày 10 tháng 11 năm 1992 do Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Nam Định cấp cho bà Nguyễn Thị V và ông Phạm Văn L chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

    Về con chung: bà V và ông L có 02 con chung tên là Phạm Thị Hồng T, sinh ngày 21 tháng 12 năm 1994 và Phạm Thị H, sinh ngày 09 tháng 9 năm 1998 (cả 02 con chung đã trưởng thành)

  2. Án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đ (ba trăm ngàn đồng) bà V phải chịu, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đ (ba trăm ngàn đồng) bà V đã tạm nộp án phí theo biên lai số: 0013618 ngày 13 tháng 5 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Gò Vấp. Bà V đã nộp đủ án phí.
  3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo các quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  4. Thi hành tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
  5. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND TPHCM;
  • - VKSND q. GV
  • - THA DS q. GV;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu VP, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký tên, đóng dấu)

Hoàng Thế Viễn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 1284/2024/HNGĐ-ST ngày 18/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 1284/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà V khởi kiện ly hôn ông L, Tòa án xử cho ly hôn.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger