Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 128/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 30/8/2024

V/v: Ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trương Thị Anh;

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Danh Lơi;

Bà Mai Thị Viện.

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Trịnh Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

Đại diện VKSND tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh T - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 89/2024/HNGĐ-ST ngày 30/5/2024 về việc “Ly hôn”; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 82/2024/QĐ-ST ngày 26/7/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 98/2024/QĐ-ST ngày 14/8/2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị T1, sinh năm 1998
    Địa chỉ: Thôn A, làng L, xã H, huyện H, Thanh Hóa.
  2. Bị đơn: Anh Nguyễn Hữu T2, sinh năm 1990
    Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
    Nơi ở hiện nay: Đài Loan.

Tại phiên toà, vắng mặt chị T1 (có đơn xin xét xử vắng mặt); vắng mặt anh T2 không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn là chị Hoàng Thị T1 trình bày:

1. Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Hữu T2 kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 23/3/2016 tại Ủy ban nhân dân (UBND) xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính cách không hòa hợp, thường xuyên cãi vã, nên năm 2020 anh T2 đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng không thể tiếp tục kéo dài được nữa, nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Hữu T2.

2. Về con chung: Chị Hoàng Thị T1 và anh Nguyễn Hữu T2 không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

3. Về tài sản, công nợ chung: Chị Hoàng Thị T1 không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Chị T1 trình bày không biết địa chỉ cụ thể tại Đài Loan của anh Nguyễn Hữu T2 nên không thể cung cấp cho Tòa án. Chị cho biết anh T2 vẫn thường xuyên liên lạc với bố mẹ đẻ là ông Nguyễn Văn S, bà Hoàng Thị S1, trú tại Thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Đề nghị Tòa án tiến hành thu thập thêm thông tin từ bố mẹ đẻ của anh T2.

Tại Biên bản làm việc ngày 25/7/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa, bố đẻ của anh T2 là ông Nguyễn Văn S trình bày:

Vợ chồng ông bà là Nguyễn Văn S và Hoàng Thị S1 sinh được 05 người con, anh T2 là con thứ tư. Anh T2 và chị T1 được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương, có đăng ký kết hôn ngày 23/3/2016 tại UBND xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi kết hôn, anh T2 và chị Thư sinh s tại xã H, đến năm 2020 anh T2 đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Quá trình chung sống, anh T2 và chị T1 có phát sinh mâu thuẫn và đã sống ly thân. Hiện nay chị T1 khởi kiện xin ly hôn, ông không có ý kiến gì.

Quá trình sinh sống tại Đài Loan, anh T2 vẫn thường xuyên liên lạc về với gia đình, tuy nhiên ông không biết địa chỉ cụ thể của anh T2. Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa đã tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án cùng các văn bản tố tụng của Tòa án cho ông Nguyễn Văn S. Ông S đã ký nhận toàn bộ các văn bản và cam đoan sẽ có trách nhiệmn thông báo cho anh T2 qua điện thoại.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tại phiên tòa:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng và đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật tố tụng dân sự.

Quan điểm về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ: khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn chị Hoàng Thị T1.

Về án phí: Chị Hoàng Thị T1 phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

[1.1]. Về thẩm quyền của Tòa án:

Nguyên đơn chị Hoàng Thị T1 và bị đơn anh Nguyễn Hữu T2 cùng đăng ký hộ khẩu thường trú tại huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Anh Nguyễn Hữu T2 hiện nay đang sinh sống tại Đài Loan. Do trong vụ án có bị đơn có hộ khẩu thường trú tại tỉnh Thanh Hóa, hiện đang cư trú ở nước ngoài, căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

Trong quá trình xem xét thụ lý vụ án, Cục Q - Bộ C có văn bản số 8994/QLXNC-P3 ngày 03/5/2024 trả lời Công văn số 56/CV-TA ngày 22/4/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa, với nội dung: anh Nguyễn Hữu T2, sinh ngày 02/8/1990 đã xuất nhập cảnh 05 lần, xuất cảnh gần nhất ngày 28/10/2020, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước.

[1.2]. Về việc tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn:

Về địa chỉ cụ thể của anh T2 tại Đài Loan, chị T1 không cung cấp được. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành niêm yết công khai Thông báo Thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng tại địa phương nơi cư trú cuối cùng của anh T2 (xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa); Đồng thời tiến hành lấy lời khai của bố đẻ anh T2 là ông Nguyễn Văn S để làm rõ mối quan hệ hôn nhân giữa anh T2 và chị T1. Ông S cho biết anh T2 vẫn liên lạc bằng điện thoại với gia đình thường xuyên, nhưng không cung cấp được địa chỉ cụ thể của anh T2 tại Đài Loan. Do đó Tòa án giải quyết vắng mặt bị đơn (theo hướng dẫn tại Điều 10 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao).

[1.3]. Về sự vắng mặt của đương sự:

Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Hoàng Thị T1 có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Nguyễn Hữu T2 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ và niêm yết văn bản tố tụng hai lần nhưng vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Về hôn nhân: Chị Hoàng Thị T1 và anh Nguyễn Hữu T2 kết hôn trên cơ sở tự nguyện; có đăng ký kết hôn ngày 23/3/2016 tại UBND xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa là hôn nhân hợp pháp.

Trong lời khai và các tài liệu gửi đến Tòa án, chị T1 trình bày sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn.Năm 2020 anh T2 đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, từ đó tới nay vợ chồng sống ly thân, không quan tâm, liên lạc gì với nhau nữa. Xét mâu thuẫn đôi bên đã trầm trọng, tình cảm không còn, cuộc sống chung không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận cho chị T1 được ly hôn anh T2.

[2.2]. Về con chung: Chị Hoàng Thị T1 và anh Nguyễn Hữu T2 không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[2.3]. Về tài sản, công nợ chung: Chị T1 không yêu cầu Tòa án giải quyết, Hội đồng xét xử không xem xét. Anh T2 không có văn bản thể hiện quan điểm giải quyết về tài sản chung, công nợ chung nên sau này nếu anh T2 yêu cầu thì có quyền khởi kiện bằng vụ án khác.

[3]. Về án phí: Chị T1 là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp.

[4]. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; Điều 37; khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51; 56 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Hoàng Thị T1.
    • - Về hôn nhân: Cho chị Hoàng Thị T1 được ly hôn anh Nguyễn Hữu T2.
    • - Về con chung: Chị Hoàng Thị T1 và anh Nguyễn Hữu T2 không có con chung nên không xem xét giải quyết.
    • - Về tài sản, công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu, Tòa án không giải quyết.
  2. Về án phí: Chị Hoàng Thị T1 phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0000336 ngày 28/5/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa. Chị T1 đã nộp đủ tiền án phí.
  3. Quyền kháng cáo: Chị Hoàng Thị T1 vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Anh Nguyễn Hữu T2 vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hoá;
  • - Cục THADS tỉnh Thanh Hóa;
  • - UBND xã Hoằng Thắng;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đã ký

Trương Thị Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 128/2024/HNGĐ-ST ngày 30/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ về ly hôn

  • Số bản án: 128/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Thư yêu cầu ly hôn anh Trang
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger