Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN DIỄN CHÂU

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 128/2024/HSST

Ngày: 28/08/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU- TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đình Lâm.
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thế Anh
  • Ông Hoàng Công Hải.
  • - Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Viết Hoàng Anh – Thư ký Toà án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thanh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 28 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu tỉnh Nghệ An đưa ra xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 113/2024/HSST ngày 01 tháng 8 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 160/2024/QĐXXST- HS ngày 13 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Trương Sỹ H; Tên gọi khác : không; Giới tính: Nam. Sinh ngày: 08/7/1991, tại xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: thôn X, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông Trương Sỹ C, sinh năm 1966 và bà Ngô Thị B, sinh năm 1967; Anh chị em ruột có 03 người, bị cáo là con thứ 3 trong gia đình. Vợ: Ngô Thị Châu A, sinh năm 1993 (đã ly hôn); con: có 02 con, lớn sinh năm 2014, nhỏ nhất sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/4/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N cho đến nay có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Nguyễn Văn B1; Tên gọi khác : không; Giới tính: Nam. Sinh ngày: 20/6/1993, tại xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: Xóm C, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1964 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1966; Anh chị em ruột có 02 người, bị cáo là con út trong gia đình. Vợ: Vương Thị L, sinh năm 1994; Con: có 02 con, lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/4/2024. Hiện đang bị tạm giam Công an tỉnh N cho đến nay có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 20 giờ 00 phút ngày 22/4/2024, Trương Sỹ H, gọi điện cho một người đàn ông tên T ở xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An nói: “Chú để cho cháu ba triệu rưỡi”. Ý của H là muốn mua số tiền 3.500.000 đồng (Ba triệu năm trăm nghìn đồng) tiền ma tuý hồng phiến. T trả lời: “Tí nữa có gì tau gọi”. Khoảng 20 phút sau, T gọi cho H và hẹn đến khu vực gần sân vận động xã D thuộc xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An để lấy ma tuý. Sau đó, H bắt xe ôm đến điểm hẹn rồi gọi lại cho T nói: “Chú ở mô đó, cháu đến đây rồi". T nói: “Đứng đó rồi tau đến”. Một lúc sau, T đi bộ đến, H đưa cho T số tiền 3.500.000 đồng (Ba triệu năm trăm nghìn đồng), T cầm tiền và đưa lại cho H 01 túi nilon màu trắng được quấn bên ngoài bằng băng keo màu đen, bên trong có chứa các viên ma tuý hồng phiến. Sau khi mua được ma túy, H cất giấu vào túi quần bên phải quần đang mặc rồi bắt xe lai về nhà. Về đến nhà, H chia thành 02 túi nilon màu trắng đều được quấn bên ngoài bằng băng keo màu đen, 01 túi Hưng cất giấu trong túi quần bò bên phải treo ở móc tủ quần áo phía trong phòng ngủ và 01 túi H cất giấu trong bao thuốc nhãn hiệu “THĂNG LONG” màu vàng, để trong túi quần đùi bên phải quần của H đang mặc. Đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, Nguyễn Văn B2 gọi điện cho H nói: “Anh có đồ không để em một triệu”. H hiểu ý của B1 muốn mua 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) ma tuý hồng phiến thì đồng ý và hẹn B1 đến phía sau trường tiểu học xã D để lấy ma túy. Sau đó, H lấy 08 viên ma tuý cất giấu trong túi quần bò bên phải treo ở móc tủ quần áo trong phòng ngủ cho vào 01 túi nilon màu đen rồi cất giấu gói ma tuý ở túi quần bên phải quần đang mặc, số ma tuý còn lại cất giấu như cũ. Sau đó, H bắt xe ôm đến điểm hẹn. Tại đây, H đã đưa cho B1 01 gói nilon màu đen, bên trong có 08 viên ma hồng phiến, B1 đưa cho H số tiền 1.000.000 đồng.

Vào hồi 18 giờ 10 phút ngày 23/4/2024, sau khi mua ma tuý của H thì B1 điều khiển xe máy mang biển kiểm soát 37F2 – 655.09 đi về nhà. Khi B1 đi đến đường Q thuộc thôn T, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An, thì bị tổ công tác Công an huyện D, tỉnh Nghệ An phối hợp với Đ1 đặc nhiệm phòng, chống tội phạm ma túy số 2 – Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển tiến hành kiểm tra phát hiện, bắt quả tang về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thu giữ tại lòng bàn tay trái B1 đang cầm 01 gói nilon màu đen, bên trong có 08 viên ma tuý hồng phiến. Sau đó, tổ công tác niêm phong vật chứng và dẫn giải B1 về trụ sở Công an huyện D, tỉnh Nghệ An để làm việc.

Hồi 21 giờ 00 phút ngày 23/4/2024, Công an huyện D tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Trương Sỹ H. Quá trình khám xét thu giữ: Tại vị trí bên trong túi quần đùi bên phải của H đang mặc 01 bao thuốc lá nhãn hiệu “THĂNG LONG" màu vàng, bên trong có chứa 01 túi nilon màu trắng được quấn băng keo màu đen, bên trong có chứa 10 viên ma túy hồng phiến; thu giữ bên trong túi quần bò bên phải đang treo trong phòng ngủ của H 01 túi nilon màu trắng được quấn băng keo màu đen, bên trong có chứa 33 viên ma túy hồng phiến Ngoài ra thu giữ của H số tiền 1.000.000 đồng và 01 điện thoại di động nhân hiệu Itel màu xanh.

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong lại ngày 23/4/2024 của Cơ quan CSĐT Công an huyện D và Bản kết luận giám định số 461/KL-KTHS (Đ2-MT) ngày 28/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Mẫu viên nén màu hồng (ký hiệu M1) thu giữ của Nguyễn Văn B1 gửi tới giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Số viên nén màu hồng có đặc điểm giống nhau thu giữ của Nguyễn Văn B1 có tổng khối lượng là 0,8 g (không phẩy tám gam); 02 mẫu viên nén màu hồng (ký hiệu M2, M3) thu giữ khi khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trương Sỹ H1 gửi tới giám định đều là ma túy, loại Methamphetamine. Số viên nén màu hồng có đặc điểm giống nhau thu giữ khi khám xét khẩn cấp chỗ ở T có tổng khối lượng là 4,25 g (bốn phẩy hai lăm gam).

* Đối với vật chứng liên quan đến vụ án đã thu giữ:

- Một phong bì thư bên trong chứa 0,5 gam ma túy Methamphetamine, ký hiệu M1; là 0,6 gam Methamphetamine, ký hiệu M2; 2,45 gam Methamphetamine, ký hiệu M3; 01 gói nilon màu đen, 02 túi nilon màu trắng bên ngoài được quấn băng keo màu đen, 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu “THĂNG LONG” màu vàng, và 02 phong bì thư niêm phong ban đầu.

- Một điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A16 màu trắng, máy đã qua sử dụng, bị bể màn hình trước, số Imeil: 864591057809892, số Imei2: 864591057809884 thu giữ của Nguyễn Văn B1.

- Một điện thoại di động nhãn hiệu itel màu xanh, máy đã qua sử dụng. Số UYEN Imeil: 355057091315086; số Imei2: 355057091315094 thu giữ của Trương Sỹ H.

Số vật chứng trên hiện đang được bảo quan tại kho vật chứng thuộc Chi Cục thi hành án dân sự huyện Diễn Châu.

Số tiền một triệu đồng thu giữ của Trương Sỹ H. Hiện đang gửi vào Kho bạc Nhà nước huyện Diễn Châu theo biên bản giao nhận tài sản số 10/2024/BBBG-CADC ngày 20/5/2024.

Tại bản cáo trạng số 133/CT-VKS-DC, ngày 31/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu đã truy tố bị cáo Trương Sỹ H về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 BLHS. Nguyễn Văn B1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.

Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm i, khoản 2, Điều 251; điểm c, khoản 1, Điều 249 điểm s, khoản 1 Điều 51 BLHS xử phạt: Bị cáo Trương Sỹ H mức án từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Nguyễn Văn B1 từ 18 đến 21 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về hoạt động “Điều tra” “Truy tố”, đồng thời đã giải thích và tạo điều kiện để các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thực hiện đúng và đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo Trương Sỹ H và Nguyễn Văn B1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai tại Ự NĂM 2024\VỤ BẢO. HƯNG MUA BAN TPCMT Vẻ TTMATUY\22" Cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu thu thập có tại hồ sơ vụ án; do đó đã có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 17 giờ 30 ngày 23/4/2024, tại khu vực trường tiểu học xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An, Trương Sỹ H đã bán cho Nguyễn Văn B1 08 viên ma túy methamphetamine có khối lượng 0,8 gam với giá 1.000.000 đồng. Mua được ma túy, B1 mang đến đường Q thuộc thôn T, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An thì bị công tác công an huyện D phối hợp với Đoàn đặc nhiệm phòng chống tội phạm ma túy số 2 Bộ tư lệnh Cảnh sát Biển phát hiện bắt quả tang. Khoảng 21 giờ cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện D tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trương Sỹ H, Cơ quan điều tra thu giữ 4,25 gam ma túy Methamphetamine. H khai mục đích cất giữ để bán kiếm lời.

Hành vi của Trương Sỹ H đã đủ yếu tố cấu thành tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” với khối lượng ma túy 5,05 gam theo điểm i khoản 2 Điều 251 BLHS. Hành vi của Nguyễn Văn B1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với khối lượng 0,8 gam theo điểm c, khoản 1 Điều 249 BLHS.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu đã truy tố các bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.

[3]. Đánh giá tính chất vụ án: Hành vi phạm tội của Trương Sỹ H thuộc loại tội phạm rất nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của Nguyễn Văn B1 là nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy mà còn là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an, ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Các bị cáo là người nghiện ma túy, bất chấp sự nghiêm cấm của luật pháp để thực hiện hành vi phạm tội miễn sao có lợi cho mình và nhằm thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của mình. Do đó cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra và cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung, bảo đảm trật tự kỷ cương xã hội.

[4]. Về việc đánh giá nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về tình tiết tăng nặng: Cả hai bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, do đó cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ tương ứng được quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần khi quyết định hình phạt cho bị cáo.

[5] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng có giá trị lớn. Hội đồng xét xử xét miễn hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

[6]. Đối với người đàn ông tên T là người đã bán ma túy cho Trương Sỹ 2015. H (theo lời khai của H). Tuy nhiên, do H không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không xác minh được.

[7]. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

Tịch thu tiêu hủy: Một phong bì thư bên trong chứa 0,5 gam ma túy Methamphetamine, ký hiệu M1; là 0,6 gam Methamphetamine, ký hiệu M2; 2,45 gam Methamphetamine, ký hiệu M3; 01 gói nilon màu đen, 02 túi nilon màu trắng bên ngoài được quấn băng keo màu đen, 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu “THĂNG LONG” màu vàng, và 02 phong bì thư niêm phong ban đầu.

[10]. Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[11] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm i, khoản 2, Điều 251, điểm s, khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự

Xử phạt.

1. Bị cáo Trương Sỹ H 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam là ngày 23/4/2024.

Căn cứ vào điểm c khoản 1, Điều 249; điểm s, khoản 1, Điều 51 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt.

2. Bị cáo Nguyễn Văn B1 18 (Mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam là ngày 23/4/2024.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự .

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì thư bên trong chứa 0,5 gam ma túy Methamphetamine, ký hiệu M1; là 0,6 gam Methamphetamine, ký hiệu M2; 2,45 gam Methamphetamine, ký hiệu M3; 01 gói nilon màu đen, 02 túi nilon màu trắng bên ngoài được quấn băng keo màu đen, 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu “THĂNG LONG” màu vàng, và 02 phong bì thư niêm phong ban đầu.

Tịch thu sung công: - 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A16 màu trắng, máy đã qua sử dụng, bị bể màn hình trước, số Imeil: 864591057809892, số Imei2: 864591057809884 thu giữ của Nguyễn Văn B1 đây là phương tiện dùng vào việc phạm tội.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu itel màu xanh, máy đã qua sử dụng. Số UYEN Imeil: 355057091315086; số Imei2: 355057091315094 thu giữ của Trương Sỹ H đây là phương tiện dùng vào việc phạm tội.

Số vật chứng trên hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng thuộc Chi Cục thi hành án dân sự huyện Diễn Châu. Theo biên bản giao nhận vật chứng và phiếu nhập kho số 24NK130 ngày 13 tháng 8 năm 2024 giữa Công an huyện D và C thi hành án huyện D.

Tịch thu sung công: Số tiền 1.000.000đ (Một triệu đồng) thu giữ của Trương Sỹ H. Hiện đang gửi vào Kho bạc Nhà nước huyện Diễn Châu theo biên bản giao nhận tài sản số 10/2024/BBBG-CADC ngày 20/5/2024 số tiền do phạm tội mà có.

- Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội 14. Buộc các bị cáo Trương Sỹ H, Nguyễn Văn B1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Những người TGTT;
  • - VKS huyện Diễn Châu;
  • - VKS tỉnh N
  • - TAND tỉnh Nghệ An;
  • - Công an huyện D;
  • - Chi cục THA dân sự h. Diễn Châu;
  • - THA hình sự,
  • - Sở tư pháp;
  • - Lưu hồ sơ + lưu trữ

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN. CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Đình Lâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 128/2024/HSST ngày 28/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN về mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 128/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm tội
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger