Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN

TỈNH THÁI NGUYÊN

Bản án số: 128/2024/HS-ST

Ngày 28 tháng 5 năm 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Sơn.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Thúy Mai.

2. Ông Trần Hữu Hạnh.

Thư ký phiên tòa: Bà Ma Thị Huyền Nhung- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Bích Hường - Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 5 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 85/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 107/2024/QĐXXST-HS ngày 23/4/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Minh T, sinh ngày 21/5/2001, tại Thái Nguyên.

Tên gọi khác: không; Giới tính: Nam.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Tổ G, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.

Nghề Nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Chức vụ (Đảng, chính quyền, đoàn thể) trước khi phạm tội: Không; Con ông: Trần Văn H; Con bà: Lê Thị T1; Vợ: Phùng Bích P; Con: có 01 con; Tiền án, Tiền sự: không.

Nhân thân:

- Bản án số 339/2019/HSST ngày 28/11/2019 của Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội xử phạt Trần Minh T 10 tháng tù về tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản". (Chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/12/2020; Chấp hành xong án phí ngày 04/5/2021).

- Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 76516/QĐ-XLHC ngày 15/5/2019 của Công an thành phố T xử phạt Trần Minh T 750.000 đồng về hành vi "Trộm cắp tài sản".

Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T (bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/01/2024). Có mặt tại phiên tòa.

*Bị hại: Anh Nguyễn Đức N, sinh năm 1995.(Có mặt).

Địa chỉ: Xóm M, xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1982. (vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ dân phố B, phường B, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên.

2. Anh Trần Văn H1, sinh năm 1975. (Vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ G, phường C, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.

3. Anh Đỗ Thanh T2, sinh năm 1989. (Vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ A, phường C, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ ngày 14/12/2023, anh Nguyễn Đức N, sinh năm 1995, trú tại: Xóm M, xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên đến nhà Trần Minh T tại tổ G, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên để nhờ T làm thủ tục vay tiền qua app. Do T cần tiền để trả nợ nên đã nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản là 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Jupiter, màu vàng đen, BKS 20B1-497.82 của anh N để mang đi bán lấy tiền trả nợ. Khoảng 11 giờ cùng ngày, T nói dối anh N là mượn xe mô tô BKS 20B1-497.82 của anh N đi có công việc và được anh N đồng ý giao xe cho T, trong cốp xe có để giấy tờ xe. Sau khi mượn được xe mô tô BKS 20B1-497.82, T mang xe đến cửa hàng mua bán xe Quý Tùng của anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1982, tại tổ dân phố B, phường B, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên bán xe cho anh Q với giá 5.500.000 đồng. Số tiền bán xe được, T sử dụng để trả nợ và chi tiêu cá nhân hết. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, T về nhà gặp anh N và nói dối anh N là đã cho bạn mượn xe mô tô của anh N. Sau khi bị anh N giục trả xe thì T đã nói thật cho anh N biết việc T đã bán xe mô tô của anh N. Anh N đã đòi T trả lại xe mô tô BKS 20B1-497.82 cho mình nhưng T không trả được nên anh N đã trình báo sự việc đến Công an thành phố T.

Tại Kết luận định giá tài sản số 17/KL-HĐĐGTS, ngày 03/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T, kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số loại JUPITER màu vàng đen, số khung DY042800, số máy 1PB3-042824, BKS: 20B1-497.82; Đăng ký xe mang tên Đỗ Thanh T2, sinh năm 1989, địa chỉ: Tổ B, phường C, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. Tình trạng xe: Đã qua sử dụng có giá trị là 5.540.000 đồng.

Tại Cơ quan điều tra, Trần Minh T đã khai nhân rõ toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Về vật chứng của vụ án: 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số loại JUPITER màu vàng đen, số khung DY042800, số máy 1PB3-042824, BKS: 20B1-497.82; đã qua sử dụng. Đăng ký xe mang tên Đỗ Thanh T2, sinh năm 1989, địa chỉ: Tổ B, phường C, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. (Anh T2 bán cho anh Trần Văn H1, sau đó anh H1 bán xe cho anh N). Hiện chưa thu hồi được.

Phần dân sự: Quá trình điều tra, anh Nguyễn Đức N yêu cầu bị cáo Trần Minh T bồi thường cho anh N số tiền 15.000.000 đồng. T chưa bồi thường cho anh N. Phần dân sự chưa giải quyết xong.

Với hành vi nêu trên, tại bản cáo trạng số 90/CT-VKSTPTN ngày 27/3/2024, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố Trần Minh T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 của bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Trần Minh T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, bị cáo xác định bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố đối với bị cáo là đúng, không oan sai.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Nguyễn Đức N yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền là 8.000.000 đồng, bị cáo đồng ý với mức bồi thường trên và đã bồi thường cho bị hại số tiền là 2.000.000 đồng. Số tiền còn lại bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường là 6.000.000 đồng.

Kết thúc phần xét hỏi, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Trần Minh T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

- Áp dụng khoản 1, Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Trần Minh T từ 12 đến 15 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 06/01/2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải tiếp tục bồi thường cho anh Nguyễn Đức N số tiền 6.000.000 đồng.

- Về vật chứng: Vật chứng của vụ án là 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số loại JUPITER màu vàng đen, số khung DY042800, số máy 1PB3-042824, BKS: 20B1-497.82; đã qua sử dụng. (Đăng ký xe mang tên Đỗ Thanh T2). Hiện chưa thu hồi được nên không có cơ sở xử lý.

- Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự có giá ngạch theo quy định.

Phần tranh luận: Bị cáo, bị hại không có ý kiến tranh luận gì.

Người bị hại xin HĐXX xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Lời nói sau cùng bị cáo đã nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của mình, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho hưởng mức án thấp nhất và xin được cải tạo tại địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

[1.1]. Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòabị cáo và người tham gia tố tụng kháckhông có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[1.2]. Tại phiên tòa vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Văn Q, anh Trần Văn H1 và anh Đỗ Thanh T2 nhưng đã được Toà án triệu tập hợp lệ 02 lần, anh Nguyễn Văn Q, anh Đỗ Thanh T2 và anh Trần văn H2 đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Xét thấy sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên HĐXX căn cứ vào Điều 292 của BLTTHS quyết định tiếp tục xét xử vụ án.

[2]. Về nội dung vụ án: Căn cứ vào lời khai của bị cáo, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cùng các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập được khách quan có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Khoảng 09 giờ ngày 14/12/2023, anh Nguyễn Đức N điều khiển xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA JUPITER, màu vàng đen, BKS: 20B1-497.82 đến nhà bị cáo Ttổ G, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên để nhờ T vay tiền qua App, do đang nợ nần nên T đã nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản là chiếc xe mô tô của anh N. Để thực hiện ý định của mình, bị cáo T đã dùng thủ đoạn gian dối hỏi mượn chiếc xe mô tô BKS: 20B1-497.82 của anh Nguyễn Đức N để sử dụng làm phương tiện đi lại, mục đích để anh N tin tưởng giao xe rồi chiếm đoạt chiếc xe và đem đi bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Sau khi được anh N bàn giao xe, T đã mang xe của anh N đi bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. Tài sản bị cáo chiếm đoạt của anh N có giá trị là 5.540.000 đồng.

Hành vi của bị cáo Trần Minh T đã đủ yếu tố cấu thành tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 điều 174 của Bộ luật hình sự.

Nội dung điều luật quy định:

“1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng...thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng tháng đến 03 năm".

Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố bị cáo Trần Minh T theo tội danh và điều luật viện dẫn là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[3]. Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.

[4]. Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, thấy:

[4.1]. Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu. Bị cáo đã 01 lần bị xét xử về tội "Làm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản" và đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi "Trộm cắp tài sản". Tuy nhiên, bị cáo đã không lấy đó làm bài học để rèn luyện tu dưỡng bản thân mà vẫn tiếp tục phạm tội liên quan đến xâm phạm quyền sở hữu. Cho thấy ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo là rất kém nên cần cân nhắc về mức hình phạt đối với bị cáo.

[4.2]. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình, tại phiên toà, bị hại đề nghị Toà án xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo, bị cáo đã tác động để gia đình tự nguyện bồi thường thay cho bị hại số tiền là 2.000.000 đồng, số tiền bị cáo tác động để gia đình bồi thường cho bị hại bằng ¼ số tiền phải bồi thường. Nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

[5]. Về hình phạt chính: Xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được Nhà nước và Pháp luật bảo vệ. Vì vậy cần lên một mức án phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định, nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên toà, bị hại và bị cáo thống nhất thoả thuận, bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho bị hại số tiền là 8.000.000 đồng, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại số tiền là 2.000.000 đồng. Số tiền bị cáo tiếp tục phải bồi thường cho bị hại là 6.000.000 đồng.

[8]. Về vật chứng vụ án: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số loại JUPITER màu vàng đen, số khung DY042800, số máy 1PB3-042824, BKS: 20B1-497.82; đã qua sử dụng. (Đăng ký xe mang tên Đỗ Thanh T2). Hiện chưa thu hồi được nên không có cơ sở xử lý nên HĐXX không xem xét.

[9]. Xét đề nghị của đại diện tại phiên tòa về đường lối giải quyết vụ án và mức hình phạt là có căn cứ, cần được chấp nhận.

[10]. Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án hình sự sơ thẩm và dân sự có giá ngạch theo quy định.

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩ vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[11] Về các vấn đề khác:

- Đối với anh Nguyễn Văn Q là người mua xe mô tô BKS: 20B1-497.82 từ T. Quá trình điều tra xác định anh Q không biết xe mô tô trên là do T phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T không khởi tố đối với anh Q là đúng quy định của pháp luật.

- Quá trình điều tra cả T và anh N đều xác nhận T có cắm 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max màu vàng của anh N. Việc này anh N biết và đồng ý. T không có ý định chiếm đoạt chiếc điện thoại trên nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T không xử lý là đúng quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 299 của Bộ luật tố tụng hình sự:

[1]. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Minh T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản"

[2].Về hình phạt:

[2.1]. Về hình phạt chính: Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Minh T 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/01/2024.

Áp dụng Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tiếp tục tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án 28/5/2024.

[2.2].Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[3]. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều 584, Điều 586, Điều 589 Bộ luật dân sự. Buộc bị cáo bồi thường cho anh Nguyễn Đức N số tiền là 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

[4]. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí lệ phí tòa án: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự có giá ngạch sung quỹ Nhà nước.

[5]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên toà, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ

liên quan anh Nguyễn Văn Q, anh Trần Văn H1, anh Đỗ Thanh T2 vắng mặt tại phiên toà, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b, 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh TN; Sở Tư pháp;
  • - VKSND tỉnh TN; VKSND TPTN;
  • - Phòng PV06 Công an tỉnh TN;
  • - Công an TPTN;
  • - Chi cục THADS TPTN;
  • - Bị cáo; Bị hại, người có QLNVLQ;
  • - Lưu: VT; Bộ phận hình sự; hồ sơ vụ án.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thái Sơn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 128/2024/HS-ST ngày 28/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (tội phạm hình sự)

  • Số bản án: 128/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Tội phạm hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger