TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 128/2024/HS-ST
Ngày 27 - 9 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Đức Thịnh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Cao Kim Hoàn.
- Bà Mai Thị Hiền.
Thư ký phiên toà: Bà Nông Thị Thuỳ - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Đức Hải- Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 119/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 126/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
PHÙNG ĐỨC T1
Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 09 tháng 4 năm 1964 tại thành phố L, tỉnh Lào Cai. Nơi cư trú: Tổ B, phường P, thành phố L, tỉnh Lào Cai; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Phùng Văn T và bà Lê Thị G (đều đã chết). Vợ: Nguyễn Thị Hồng V sinh năm 1970; Con: Có 02 con, lớn nhất sinh năm 1994, nhỏ nhất sinh năm 2005. Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Nhân thân: Năm 1999, bị cáo bị Toà án nhân dân tỉnh Lào Cai xử phạt 07 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo Bản án số 128/HSST ngày 07/9/1999, đã được xoá án tích. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/7/2024. Hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố L. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ, ngày 03/7/2024, Phùng Đức T1 đang ở nhà thì nảy sinh ý định đi mua ma túy về để sử dụng nên đã một mình điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 24B1 – 285. 86, đi đến khu vực đường liên thôn thuộc thôn T, xã T, thành phố L để tìm mua ma túy, tại đây Phùng Đức T1 gặp một người nữ giới không quen biết đang ngồi trên xe mô tô đỗ một mình ở ven đường thuộc thôn T, xã T. Phùng Đức T1 đến hỏi người nữ giới “có hàng không”. Người nữ giới không nói gì, Phùng Đức T1 lấy từ trong người ra 500.000 đồng đưa cho người nữ giới. Người nữ giới cầm tiền rồi đưa lại cho Phùng Đức T1 01 gói nilon màu hồng bên trong chứa ma túy Heroine. Phùng Đức T1 cầm gói ma túy trong lòng bàn tay trái, điều khiển xe mô tô đi về nhà. Đến khoảng 11 giờ 40 phút cùng ngày, khi Phùng Đức T1 đang trên đường liên thôn T, xã T, thành phố L thì bị tổ công tác Công an xã T, thành phố L phát hiện bắt quả tang. Quá trình kiểm tra, Tổ công tác đã mời anh Nguyễn Đình H, sinh năm 1958, nơi thường trú: thôn T, xã T, thành phố L chứng kiến việc kiểm tra. Trước sự chứng kiến của anh Nguyễn Đình H Phùng Đức T1 đã tự giác nhặt gói nilon, màu hồng từ dưới đất nơi vị trí Phùng Đức T1 đang đứng lên giao nộp cho tổ công tác và khai nhận do hoảng sợ Phùng Đức T1 đã thả gói ma túy từ lòng bàn tay trái xuống đất tại vị trí Phùng Đức T1 đang dừng đỗ xe, cục chất bột khô màu trắng là ma túy Heroine vừa mua được, tàng trữ để sử dụng cho bản thân. Ngoài ra còn tạm giữ của Phùng Đức T1 01 xe mô tô nhãn hiệu HODA, biển kiểm soát 24B1 – 285.86; 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO, màu đen đã qua sử dụng.
Tại biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, trích mẫu, tái niêm phong và giao nhận đối tượng giám định ngày 03/7/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L và Phòng K Công an tỉnh L xác định: 01 gói nilon màu hồng, bên trong chứa cục chất bột khô, màu trắng thu giữ của Phùng Đức T1 ngày 03/7/2024. Có khối lượng 0,296 gam; trích 0,031 gam để giám định, hoàn lại Cơ quan trưng cầu 0,265 gam.
Tại bản kết luận giám định số 271/GĐMT ngày 05/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh L đã kết luận: 0,296 (không phẩy hai trăm chín mươi sáu) gam cục chất bột khô, màu trắng thu giữ của Phùng Đức T1 ngày 03/7/2024 do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L gửi đến giám định là loại chất ma túy Heroine.
Cáo trạng số 119/CT-VKS ngày 04/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai truy tố Phùng Đức T1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy "theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phùng Đức T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng
2
điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phùng Đức T1 từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù. Không áp dụng phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu huỷ 0,265 gam ma tuý Heroine còn lại sau trích mẫu, tịch thu 01 xe máy là phương tiện phạm tội của bị cáo để nộp vào ngân sách nhà nước, tạm giữ 01 chiếc điện thoại của bị cáo để đảm bảo thi hành án.
Tại phiên tòa, bị cáo Phùng Đức T1 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai đã truy tố. Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với nội dung luận tội của Kiểm sát viên về tội danh và hình phạt mà chỉ có nguyện vọng xin lại chiếc xe máy. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố L, tỉnh Lào Cai; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo Phùng Đức T1 tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà. Do vậy có đủ cơ sở để kết luận:
Khoảng 11 giờ 40 phút ngày 03/7/2024 trên đường liên thôn T, xã T, thành phố L, Phùng Đức T1 đã có hành vi tàng trữ 0,296 gam ma túy Heroine để sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện bắt quả tang. Như vậy, đã có đủ căn cứ kết luận hành vi nêu trên của bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng; Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo sau khi phạm tội đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình, có bố và mẹ đẻ
3
đều được nhà nước tặng thưởng Huân chương Kháng chiến hạng Nhất và hạng Nhì; Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Về nhân thân: Năm 1999, bị cáo bị Toà án nhân dân tỉnh Lào Cai xử phạt 07 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”, đã được xoá án tích.
[4] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng: Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, có nhận thức và hiểu biết về pháp luật, mặc dù biết được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự trị an trên địa bàn thành phố L, vì vậy cần phải có mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ, phải lao động, học tập để trở thành người có ích cho xã hội.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có tài sản riêng, vì vậy Hội đồng xét xử không phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về vật chứng vụ án:
Đối với 0,265 gam Heroine còn lại sau trích mẫu giám định thuộc danh mục các chất Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu huỷ.
Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu đen là tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo, tuy nhiên bị cáo còn phải thi hành khoản tiền án phí. Vì vậy tiếp tục tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án.
Đối với 01 xe mô tô HONDA, biển kiểm soát 24B1 – 285.86 đã thu giữ của bị cáo; Xét thấy bị cáo đã dùng phương tiện này để đi mua ma tuý về sử dụng nên ý kiến của kiểm sát viên là có căn cứ, cần tịch thu, nộp vào ngân sách nhà nước.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
4
Tuyên bố bị cáo Phùng Đức T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Phùng Đức T1 01 (Một) năm tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 03/7/2024.
2. Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 0,265 gam Heroine còn lại sau trích mẫu giám định cùng toàn bộ niêm phong cũ được tái niêm phong bằng bì thư in sẵn của Phòng K Công an tỉnh L. Trên một mặt của bì niêm phong có ghi: “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ khi bắt quả tang Phùng Đức T1 ngày 03/7/2024 tại thôn T, xã T, thành phố L, tỉnh Lào Cai”.
Tịch thu 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, biển kiểm soát 24B1- 285.86; Số máy JA02E0214847, số khung RLHJA02071Y214808, xe cũ đã qua sử dụng, mất một bên gương, thân vỏ trầy xước và vỡ của Phùng Đức T1 để nộp vào ngân sách nhà nước.
Tiếp tục tạm giữ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu đen, số IMEI1: 863801065175439, có gắn thẻ sim để đảm bảo công tác thi hành án.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Phùng Đức T1 phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Phạm Đức Thịnh |
5
6
Bản án số 128/2024/HS-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 128/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phùng Đức T1 phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý"
