Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 128/2025/HS-PT

Ngày 27 tháng 02 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Minh Thịnh

Các Thẩm phán: Ông Chung Văn Kết

Bà Bùi Thị Thu

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hồ Đức Thịnh – Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Ngọc Đoàn - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 02 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh và điểm cầu thành phần Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử phúc thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số 1073/2024/TLPT-HS ngày 01 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Ngọc T; Do kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 65/2024/HS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.

Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Nguyễn Ngọc T

(tên gọi khác G), sinh năm 1997, tại tỉnh Bình Thuận; Nơi cư trú: Thôn B, xã P, huyện B, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Đầu bếp; Trình độ văn hóa: 8/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Ngọc L và bà Phan Thị N; có vợ Nguyễn Thị H (Đã ly hôn) và 02 con; Tiền án, tiền sự và nhân thân: Không; bị bắt, tạm giam ngày 23/12/2023, hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B; có mặt.

Luật sư bào chữa cho bị cáo: luật sư Lê Văn T1, thuộc đoàn luật sư tỉnh B. Có mặt

(Ngoài ra trong vụ án còn có 36 bị cáo khác nhưng không có kháng cáo, kháng nghị, không liên quan đến kháng cáo nên tòa không triệu tập)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tối ngày 18/12/2023, Lê Minh T2 đến nhà Lê Văn T3 tại tổ dân phố B, khu phố T, thị trấn P, huyện T để tìm bạn gái là Giang Thị Kim U (sinh năm 2007, nơi cư trú khu phố H, thị trấn P). Đến nơi, Lê Minh T2 thấy Giang Thị Kim U đang ngồi nhậu chung với Lê Văn T3 và một số người khác nên tỏ ra ghen tức. Lê Minh T2 gọi U ra ngoài nói chuyện, thì xảy ra cãi vã nhau, Lê Minh T2 có đánh Uyên 02 tát tai rồi bỏ về, thấy Lê Minh T2 đánh Giang Thị Kim U nên Lê Văn T3 tức giận. Do đó khi về lại Phan Rí T4, thì giữa Lê Minh T2 và Lê Văn T3 thách thức đánh nhau bằng hình thức nhắn tin qua Facebook, gọi điện thoại qua lại và hẹn sẽ đánh nhau vào lúc 02 giờ 00, ngày 20/12/2023, tại khu vực Cầu N, trên đường Q nơi tiếp giáp giữa huyện B và huyện T, mỗi bên tự tập trung lực lượng. (BL: 824 -> 842, 1096 ->1123)

Trong ngày 19/12/2023, Lê Văn T3 liên hệ với Nguyễn Văn H1 (Hùng X điêu) để tham gia đánh nhau với nhóm Lê Minh T2. Nguyễn Văn H1 đồng ý rủ gọi thêm những đối tượng quen biết với mình ở thị trấn P, huyện T để cùng tham gia đánh nhau với nhóm Lê Minh T2, gồm: Hồ Văn T5 (Lượm em), sinh năm 2005, Huỳnh Đ (Đầu bự), sinh năm 2006, Trương Đình P, sinh năm 2004, Nguyễn Thiện T6 (B2), sinh năm 2005 và Nguyễn Minh Quốc B (Bờm anh), sinh năm 2003. Ngoài ra, Lê Văn T3 còn liên hệ với Nguyễn Thiên Kim T7 (Tinh H2), sinh năm 1997, nơi cư trú xã H, cùng huyện B tham gia đánh nhau với nhóm của Lê Minh T2. Sau đó Nguyễn Thiên Kim T7 rủ thêm khoảng 6 đối tượng khác (chưa rõ nhân thân, lai lịch) để tham gia cùng Lê Văn T3. Riêng Lê Văn T3 liên hệ rủ cùng đi đánh nhau nhiều đối tượng quen biết ở cùng thị trấn P, huyện T, gồm: Nguyễn Thành H3 (Tư đía) sinh năm 1997, Lê Văn H4 (H4 nhỏ) sinh năm 2001, Phạm Nhật P1 (B gơ), sinh năm 2004, Trần Phi T8, sinh năm 2005, Trần Duy H5 (Đầu láng) sinh năm 2002 và Phương Tiểu H6 (G1 ma), sinh năm 2004 cùng tham gia đi đánh nhau.(BL:824 -> 842, 1171, 1179, 1129 -> 1142, 1144, 1146, 1147, 1164, 1165)

Đến tối ngày 19/12/2023, Lê Văn T3 (Lộ) chuẩn bị 05 cây dao tự chế để sẵn tại nhà, Nguyễn Văn H1 chuẩn bị 02 cây xăm gạo và các hung khí khác như bom xăng làm bằng chai thủy tinh, gậy sắt, ba chĩa đem đến để gần quán T21 trong đường H thuộc thôn L, xã H; T cũng đem đến đây 02 cây ba chĩa rồi đến tập trung tại nhà Lê Văn T3. Nguyễn Thiên Kim T7 cùng 06 đối tượng đến tập trung bên phải đường Q hướng từ xã P ra, gần khu vực chuẩn bị đánh nhau.

Cũng trong ngày 19/12/2023, Lê Minh T2 đã trực tiếp gặp và liên hệ qua điện thoại di động rủ rê, tập hợp nhiều đối tượng ở cùng xã P, xã H, huyện B và xã H, huyện H, thị trấn P, huyện T để tham gia đánh nhau với nhóm Lê Văn T3, gồm: Trần Thanh P2 (X1) sinh năm 1989, Phan Nguyên Ngọc T9, sinh năm 1993, Dương T10, sinh năm 1993, Phạm Thiên T11 (B), sinh năm 2002, Nguyễn Hồng H7 (G2), sinh năm 2002, Đào Nhật Hữu H8 (B), sinh năm 2003, Võ Phạm Xuân H9, sinh năm 2000, Lê Văn T12 (M), sinh năm 2002, Đỗ Huỳnh Tấn T13 (H), sinh năm 1999, Đặng Tuấn A (A), sinh năm 1998, Dư Tấn V, sinh năm 2003, Nguyễn Tiến T14 (Cháy), sinh năm 2003, Nguyễn Thành V1, sinh năm 2003, Trần Quốc T15 (S), sinh năm 2000, Trần Khải M1, sinh năm 1998, nơi cư trú thôn C, xã H, huyện H, Phạm Văn S1, sinh năm 2006, nơi cư trú khu phố M, thị trấn P, huyện T. Sau đó, Đặng Tuấn A điện thoại rủ thêm Lê Văn T16 (Cá Thu), sinh năm 2000, Đỗ Huỳnh Tấn T13 rủ thêm Nguyễn Ngọc H10 (B1), sinh năm 2001, ở thôn B, Nguyễn Thanh T17, sinh năm 2004 và Lê Nguyễn Nhật K (S2), sinh năm 2005, cùng nơi cư trú thôn T, xã H, huyện B. Đến khoảng 22 giờ 00, ngày 19/12/2023, nhóm của Lê Minh T2 tập trung uống bia tại khu đất trống nuôi gà của gia đình ông Đoàn Đức C, phía sau chùa T22, giáp nhà trọ của Trần Thanh P2, thuộc thôn B, xã P. Khi đến tập trung tại đây, Lê Minh T2 mang đến nhiều hung khí, như: đao, kiếm tự tạo, cây ba chĩa... để ngoài hàng rào giáp đường đi gần nơi tập trung uống bia và đưa 50.000 đồng cho Đ1 Nhật Hữu H8 đi mua xăng về dùng chai thủy tinh làm bom xăng. Ngoài ra, Phan Nguyên Ngọc T9 điện thoại di động nhờ Đỗ Huỳnh Tấn T13 trên đường đến nơi tập trung ghé vào nhà T9 lấy 01 cái bao bên trong có 02 cây súng mang đến (trong đó có 01 cây súng dài 114cm, báng súng bằng gỗ dài 75cm, trong súng có 03 viên đạn và 01 cây súng ngắn màu đen dài 20cm, trên súng có ghi dòng chữ KUZEY-911), cả 02 cây súng trên là vũ khí có tính năng, tác dụng như vũ khí quân dụng và thuộc vũ khí quân dụng; Dương T10 đem đến 02 cây súng (trong đó 01 cây súng dạng ổ quay bằng kim loại màu trắng, số thân 21TH017493 là vũ khí có tính năng, tác dụng như vũ khí quân dụng và thuộc vũ khí quân dụng và 01 cây súng hơi lắp ráp thủ công cỡ nòng 5,5mm để bắn đạn mũ dù cỡ 5,5mm); Lê Văn T12 đem theo 01 cây súng ngắn, loại Rulô bắn đạn cao su thuộc nhóm công cụ hỗ trợ; Võ Phạm Xuân H9 chuẩn bị 03 chai bom xăng. Trong lúc uống bia Dương T10 và Đặng Tuấn A nói thời gian đánh nhau với nhóm Lê Văn T3 lúc 02 giờ 00 ngày 20/12/2023 là trễ nên Lê Minh T2 điện thoại di động gặp Lê Văn T3 hẹn lại thời gian đánh nhau lúc 01 giờ 00 ngày 20/12/2023, thì Lê Văn T3 đồng ý.(BL 824 -> 1078)

Đến khoảng 00 giờ 00, ngày 20/12/2023, Lê Minh T2 nói cho tất cả biết để cùng đến vực Cầu Nam bằng phương tiện xe mô tô. Khi đi, Lê Minh T2 cầm cây đao điều khiển xe chở Trần Quốc T15 cầm theo cây mác dài khoảng 60cm, Dương T10 điều khiển xe chạy một mình cầm theo 01 cây súng dạng ổ quay bằng kim loại màu trắng, thân súng có chữ 21TH017493; Phạm Thiên T11 cầm theo 01 cây súng ngắn màu đen dài 20cm, trên súng có ghi dòng chữ KUZEY-911 (của Phan Nguyên Ngọc T9 do Lê Nguyễn Nhật K mang đến) và 01 con đao tự tạo chở Phan Nguyên Ngọc T9 cầm theo 01 cây súng dài 114cm, báng súng bằng gỗ dài 75cm; Trần Thanh P2 cầm dao tự chế dài khoảng 20cm điều khiển xe chở Nguyễn Thành C1 cầm theo cây ba chĩa dài khoảng 2m; Nguyễn Ngọc T cầm theo cây dao tự tạo dài khoảng 50cm điều khiển xe chở Đặng Minh T18 cầm theo 01 cây súng hơi lắp ráp thủ công cỡ nòng 5,5mm, bắn đạn mũ dù cỡ 5,5mm (của Dương T10 mang đến); Lê Văn T16 để sẵn trên xe 01 đoạn cây gỗ dài khoảng 2m điều khiển xe chở chở Đặng Tuấn A cầm cây đao dài khoảng 1m; Lê Văn T12 cầm súng Ru- lô bắn đạn cao su điều khiển xe chở Nguyễn Hồng H7 cầm cây ba chĩa dài khoảng 2m; Võ Phạm Xuân H9 cầm theo 03 chai bom xăng; Nguyễn Thành V1 cầm theo 01 con dao Thái Lan dài khoảng 20cm điều khiển xe chở Nguyễn Tiến T14 cầm theo 01 con dao dài khoảng 50cm và Đào Nhật Hữu H8 cầm theo 01 con dao Thái lan cán màu đen; Đỗ Huỳnh Tấn T13 cầm theo cây mã tấu dài khoảng 1m điều khiển xe chở Nguyễn Ngọc H10 cầm theo cây ba chĩa dài khoảng 2m; Nguyễn Thanh T17 điều khiển xe chở Lê Nguyễn Nhật K mỗi người cầm theo 01 cây ba chĩa dài khoảng 2m; Phạm Văn S1 cầm 01 cây đao, cán gỗ dài khoảng 50cm và Trần Khải M1 cầm theo 01 con dao Thái lan; S1 và M1 không nhớ chính xác ai chở mình do ban đêm, đông người, tất cả đeo khẩu trang và trong số này có đối tượng không quen biết nhau. Nhóm của Lê Minh T2 gồm 24 đối tượng điều khiển xe mô tô chở nhau mang theo các hung khí trên từ phía sau chùa T22 ra đường Q một đoạn rồi tập trung trước quán M2, cách chùa T22 khoảng 01 km, sau đó tất cả để xe mô tô tại đây.(BL:826 ->842, 845 -> 859,861 -> 878, 889 -> 908)

Cùng thời gian trên, từ nhà Lê Văn T3 đến khu vực quán T21, cách nhà Lê Văn T3 khoảng 2 km, thì Phương Tiểu H6 điều khiển xe mô tô chở Nguyễn Văn H1, Lê Văn T3 và Nguyễn Thành H3; Trần Duy H5 điều khiển xe chở Lê Văn H4; Phạm Nhật P1 điều khiển xe chở Trần Phi T8. Lê Văn T3 mang theo 01 cây kiếm tự tạo, 04 cây còn lại đưa cho Trần Duy H5 cầm theo để phân phát cho đồng bọn; Nguyễn Văn H1 mang theo 02 cây xăm gạo; Nguyễn Thành H3 cầm cây ba chĩa dài khoảng 2m. Tại đây, nhóm của Lê Văn T3 gặp Hồ Văn T5 cầm dao tự tạo, Huỳnh Đ chuẩn bị 01 két vỏ chai hiệu PESI đã làm thành bom xăng; Trương Đình P, Nguyễn Minh Quốc B và Nguyễn Thiện T6 mỗi người cầm cây ba chĩa dài khoảng 2m; Trần Duy H5 cầm cây ba chĩa do Nguyễn Văn H1 đem đến trước đó. Trước khi đánh nhau, Nguyễn Minh D (Duy tô), sinh ngày 11/9/1994 ở khu phố M, cùng thị trấn Phan Rí C2 mặc dù không được ai rủ đi đánh nhau, nhưng khi đi ngang qua nhóm của Lê Văn T3 đang tập trung, thấy Nguyễn Văn H1 là người quen và D được H1 cho biết sắp đánh nhau với nhóm Phan Rí T4, B, thì D (T19) tự nguyện nhập vô nhóm H1 tham gia đánh nhau. D (T19) lấy 01 thanh sắt, dài khoảng 01m ở gần đó để làm hung khí đánh nhau. Ngoài ra, khi từ quán T21 ra đường Q, nhóm của Lê Văn T3 gặp nhóm của Nguyễn Thiên Kim T7 đã đến trước và chờ sẵn để cùng tham gia. Đồng thời, trước khi xảy ra đánh nhau, Lê Văn T3 bảo Phạm Nhật P1 điều khiển xe mô tô chạy về hướng Phan Rí T4 để nắm tình hình lực lượng của nhóm Lê Minh T2 như thế nào. Phạm Nhật P1 điều khiển xe mô tô đến trước khu vực Massage T, thấy nhóm của Lê Văn T3 khoảng hơn 20 người thì quay về báo lại cho Lê Văn T3 biết.(BL: 1111, 1112, 1201,1202)

Đến khoảng 00 giờ 45 phút ngày 20/12/2023, nhóm của Lê Minh T2 gồm 24 người đều đeo khẩu trang, chuẩn bị sẵn hung khí đi bộ theo đường Q từ Massage T băng qua Cầu N. Đồng thời, lúc này nhóm của Lê Văn T3 khoảng 20 người cũng cầm hung khí chuẩn bị sẵn từ hướng H theo đường Q đi xuống Cầu N. Khi gần đến quán C4, thuộc thôn L, xã H, huyện T thì 02 nhóm giáp mặt nhau ở cự ly khoảng 10m liền châm lửa ném bom xăng qua lại gây cháy. Tiếp đến 02 nhóm sáp vào nhưng chưa kịp dùng hung khí đánh nhau thì lúc này Phan Nguyên Ngọc T9 thuộc nhóm của Lê Minh T2 sử dụng súng có tính năng, tác dụng như vũ khí quân dụng và thuộc vũ khí quân dụng nhắm bắn 03 phát vào nhóm của Lê Văn T3, trong đó 01 phát trúng vào cánh tay trái, vùng nách trái của Nguyễn Văn H1 và 01 viên trúng vào vùng bụng của Lê Văn H4 làm cả hai bị thương tích nặng. Thấy nhóm của Lê Minh T2 có sử dụng súng và lực lượng bên mình có phần yếu thế hơn nên nhóm của Lê Văn T3 quay ngược lại bỏ chạy. Nguyễn Thành H3 lúc bỏ chạy bị vấp ngã xuống đường bị Nguyễn Ngọc T thuộc nhóm Lê Minh T2 dùng cây ba chĩa đâm trúng vào chân gây thương tích nhẹ. Nhóm của Lê Minh T2 rượt đuổi trên đường Q một đoạn khoảng 01 Km, thì quay lại.(BL: 826 -> 859,877, 880 -> 1077)

Nguyễn Văn H1 tử vong ngay sau đó, Lê Văn H4 bị thương được đưa đến Bệnh viện Đ2 cấp cứu, sau đó chuyển vào Bệnh viện Chợ Rẫy - Thành phố H tiếp tục cấp cứu và điều trị. Nguyễn Thành H3 bị thương tích nghẹ, không yêu cầu xử lý hình sự nhóm Lê Minh T2.

Nhóm của Lê Minh T2 quay về lại Massage T20 Nguyễn lấy xe mô tô chở nhau về lại bãi đất trống nhà của Nguyễn Đức C3. Tại đây, Phạm Thiên T11 đưa lại 01 cây súng ngắn màu đen dài 20cm, trên súng có ghi dòng chữ KUZEY-911 cho Phan Nguyên Ngọc T9, Lê Văn T12 cũng đưa cho T9 02 cây súng ngắn, trong đó có 01 cây súng ngắn màu đen Lê Văn T12 nói với Thạch lượm được tại nơi đánh nhau. Phan Nguyên Ngọc T9 đem cây súng dài 114cm, báng súng bằng gỗ dài 75cm bỏ vào túi vải cất giấu ngoài bờ ruộng gần nhà, còn 01 cây súng ngắn đưa cho Đặng Minh T18 và Dương T10 cất giấu. Trước khi lẩn trốn Phan Nguyên Ngọc T9 nhờ Nguyễn Quốc H11, sinh năm 1993, nơi cư trú thôn B, xã P đến bờ ruộng nơi T9 cất giấu súng giao nộp cho Công an và ném 02 cây súng đựng trong bịch ny lon màu đen trước nhà Nguyễn Văn L1, sinh năm 1970, nơi cư trú thôn B, xã P, trong đó có 01 cây súng bằng kim loại màu đen, dài 20cm trên súng có Logo hình con ngựa và 01 cây súng bằng kim loại màu đen, trên súng có ghi dòng chữ KUZEY-911 cùng 05 viên đạn. Đặng Minh T18 cho 01 cây súng do T9 đưa và 01 cây súng dạng ổ quay bằng kim loại màu trắng, thân súng có chữ 21TH01749302, 01 cây súng hơi lắp ráp thủ công cỡ nòng 5,5mm, bắn đạn mũ dù cỡ 5,5mm của Dương T10 bỏ vào 01 cái bao màu xanh cùng nhiều loại đạn các loại cất giấu sau nhà rồi nhờ Nguyễn Văn L2, sinh năm 1989, nơi cư trú thôn B, xã P đến lấy để đi vứt bỏ nơi khác. Nguyễn Văn L2 không biết trong cái bao đựng vật gì nhưng khi cơ quan Công an yêu cầu giao nộp, thì Nguyễn Văn L2 mới biết trong cái bao mà Đặng Minh T18 nhờ vứt bỏ có 05 cây súng và nhiều loại đạn khác nhau, Nguyễn Quốc H11 cũng giao nộp khẩu súng trên và Nguyễn Văn L1 cũng giao nộp 02 cây súng trên. Riêng các hung khí khác như đao tự tạo, ba chĩa, dao sau khi từ nơi Massage T về lại bãi đất trống nhà Nguyễn Đức C3, nhóm của Lê Minh T2 tập trung lại, rồi mạnh ai về nhà nấy, số hung khí này sau đó không rõ ai cất giấu nên không thu giữ được.

* Kết luận Giám định tử thi số: 34/KLGĐTT-TTGĐYKPYBT ngày 22/02/2024 của Trung tâm Giám định Y khoa - Pháp y tỉnh B, kết luận nguyên nhân chết của Nguyễn Văn H1 như sau:

1. Các kết quả chính:

- Kết quả khám nghiệm:

+ Vết thương khoảng gian sườn VIII – IX trên đường nách giữa bên trái hình bầu dục, xung quanh miệng vết thương màu nâu đen gây rách da cơ thành ngực trái, gãy đứt xương sườn số IX bên trái, thấu ngực trái làm thủng mép thùy dưới phổi trái, tràn máu khoang màng phổi trái lượng nhiều (khoảng 2000ml), thủng vòm cơ hoành trái kích thước (1 x 0,9)cm, xuyên thấu từ mặt dưới thùy trái gan kích thước (0,5 x 0,3)cm đến mặt trên thùy phải gan kích thước vết thương (0,6 x 0,3)cm, thủng vòm phải cơ hoành kích thước vết thương (0,5 x 0,3)cm, dập – tụ máu cơ liên sườn VIII – IX bên phải; Tìm thấy 01 dị vật bằng kim loại trong cơ liên sườn VIII – IX bên phải có hình trụ, dài 1,2 cm, đường kính 0,5 cm, một đầu tù, một đầu lõm 2mm. Vết thương có chiều hướng tác động từ trái sang phải với lực tác động rất mạnh, khả năng là do súng bắn gây ra. Đây là vết thương dẫn đến tử vong.

+ Vết thương xuyên thấu từ 1/3 dưới mặt ngoài cánh tay trái đường kính 0,6cm đến 1/3 dưới mặt trong cánh tay trái đường kính 0,6cm hình bầu dục làm rách da cơ cánh tay. Vết thương khả năng là do súng bắn gây ra, có chiều hướng tác động theo tư thế cơ năng của cơ thể với vật gây thương; lực tác động mạnh.

+ Sây sát da nông mặt mu bàn tay trái kích thước (1,5 x 0,8)cm, do vật tày gây ra, có chiều hướng tác động theo tư thế cơ năng của cơ thể với vật gây thương; lực tác động nhẹ.

- Xét nghiệm, giám định khác: Kết quả xét nghiệm mô bệnh học: Đứt thủng da, đứt thủng phổi, tràn máu phế nang, đứt thủng cơ hoành, đứt thủng gan; Xét nghiệm nồng độ cồn (Ethanol) trong máu: 0,20mg/100mL.

2. Kết luận: Kết luận nguyên nhân chết: Suy tuần hoàn cấp, suy hô hấp cấp dẫn đến tử vong do vết thương thấu ngực - bụng làm đứt thủng phổi trái, đứt thủng cơ hoành, đứt thủng gan.

* Kết luận giám định số: 354/KLTTCT-TTGĐYKPYBT ngày 02/5/2024 của Trung tâm Giám định Y khoa - Pháp y tỉnh B, kết luận thương tích của Lê Văn H4 như sau:

1. Các kết quả chính:

- Vết thương vùng bụng trái thấu bụng thủng đại tràng ngang, thủng thân tuỵ, đứt động mạch và tĩnh mạch lách, rách cực trên thận trái đã được phẫu thuật khâu đại tràng ngang và mở hậu môn nhân tạo qua da, cắt một phần tuỵ, cắt lách, khâu cực trên thận trái. Hiện để lại sẹo vết mổ đường trắng giữa bụng kích thước: (24 x 1)cm; sẹo vết mổ thành bụng trái kích thước: (4,5 x 0,8) cm; 02 vết sẹo vùng sườn phải kích thước: vết 1: (3 x 0,5)cm, vết 2: (2 x 0,8) cm; 02 vết sẹo vùng sườn trái kích thước: vết 1: (1,8 x 1,5)cm, vết 2: (3 x 1,5)cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 36% + 16% + 41% + 31% + 3% + 2% + 2% + 2% + 2%.

2. Kết luận: Căn cứ Thông tư số: 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lê Văn H4 tại thời điểm giám định là: 81% (tám mốt phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

Kết luận khác: Vết thương do đạn bắn gây ra; Nếu thương tích của Lê Văn H4 không được cấp cứu kịp thời có thể dẫn đến tử vong.

* Kết luận giám định số: 769/KL-KTHS ngày 23/02/2024 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh, như sau:

+ 11 (mười một) viên đạn (ký hiệu số 4 và số 6) gửi giám định là loại đạn cỡ (5,6 x 15,5mm), thuộc nhóm vũ khí thể thao. Loại đạn này sử dụng được cho một số loại súng quân dụng, thể thao và súng chế tạo thủ công cỡ nòng 6mm. Dùng súng phù hợp bắn đạn trên trúng cơ thể người có thể gây thương tích hoặc tử vong.

+ 02 (hai) viên đạn (ký hiệu số 5) và 02 (hai) viên đạn, 01 (một) vỏ đạn trong ổ quay của khẩu súng ổ quay màu đen (ký hiệu số 9) gửi giám định là 01 (một) vỏ đạn đã bắn và 04 (bốn) viên đạn cao su cỡ (9 x 22)mm, thuộc nhóm công cụ hỗ trợ. Loại đạn này được sử dụng cho các loại súng công cụ hỗ trợ, súng chế tạo thủ công cỡ nòng 9mm. Dùng súng phù hợp bắn đạn trên trúng cơ thể người có thể gây thương tích.

+ 41 (bốn mươi mốt) viên đạn (ký hiệu số 7) gửi giám định là đạn mũi dù cỡ 5,5mm, thuộc nhóm súng săn. Loại đạn này được sử dụng để bắn cho các loại súng hơi cỡ nòng 5,5mm. Dùng súng phù hợp bắn đạn trên trúng cơ thể người có thể gây thương tích hoặc tử vong.

- 06 (sáu) khẩu súng gửi giám định, trong đó có:

+ 01 (một) khẩu súng dài 114cm (ký hiệu số 8), 01 (một) khẩu súng ổ quay bằng kim loại màu trắng, số thân “21TH017493” (ký hiệu số 9) và 01 (một) khẩu súng ổ quay màu đen (ký hiệu 11) gửi giám định là 03 (ba) khẩu súng chế tạo thủ công để bắn với đạn cỡ (5,6 x 15,5)mm. Hiện tại 03 (ba) khẩu có đủ bộ phận và bắn được đạn nổ. 03 (ba) khẩu súng trên là vũ khí có tính năng tác dụng tương tự vũ khí quân dụng, thuộc vũ khí quân dụng. Dùng 03 (ba) khẩu súng trên bắn với đạn cỡ (5,6 x 15,5)mm trúng cơ thể người có thể gây thương tích hoặc tử vong.

+ 01 (một) khẩu súng ổ quay màu đen (ký hiệu số 9) gửi giám định là súng chế tạo thủ công bắn đạn công cụ hỗ trợ (9 x 22)mm và thuộc nhóm công cụ hỗ trợ. Hiện tại súng có đủ bộ phận và bắn được đạn nổ. Dùng súng trên bắn đạn cao su cỡ (9 x 22)mm trúng cơ thể người có thể gây thương tích.

+ 01(một) khẩu súng (ký hiệu số 10) gửi giám định là súng hơi lắp ráp thủ công cỡ nòng 5,5mm để bắn đạn mũ dù cỡ 5,5mm, thuộc nhóm súng săn. Hiện tại súng có đủ bộ phận và còn sử dụng được để bắn đạn ra khỏi nòng sùng. Dùng súng trên bắn đạn mũ dù cỡ 5,5mm trúng cơ thể người có thể gây thương tích hoặc tử vong.

+ 01 (một) khẩu súng ngắn ghi hiệu “KIMBER” (ký hiệu số 12) gửi giám định là súng bán tự động hiệu KIMBER bắn với đạn công cụ hỗ trợ cỡ (9 x 22)mm và thuộc nhóm công cụ hỗ trợ. Hiện tại súng có đủ bộ phận và bắn được đạn nổ. Dùng súng trên bắn đạn cao su cỡ (9 x 22)mm trúng cơ thể người có thể gây thương tích.

- 03 (ba) vỏ đạn (ký hiệu số 1) gửi giám định là vỏ đạn đã bắn của loại đạn cao su cỡ (9 x 22)mm, thuộc nhóm công cụ hỗ trợ. Loại đạn này sử dụng được cho các loại súng công cụ hỗ trợ, súng chế tạo thủ công cỡ nòng 9mm. 03 (ba) vỏ đạn trên được bắn ra từ khẩu súng ổ quay màu đen (ký hiệu số 9).

- 02 (hai) vật kim loại (ký hiệu số 2 và số 3) gửi giám định là 02 (hai) đầu đạn đã bắn bị biến dạng của loại đạn cỡ (5,6 x 15,5)mm, thuộc nhóm vũ khí thể thao. Loại đạn này sử dụng được cho một số loại súng quân dụng, thể thao và súng chế tạo thủ công cỡ nòng 6mm. 02 (hai) đầu đạn trên được bắn ra từ khẩu súng dài 114cm (ký hiệu số 8).

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 65/2024/HS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận đã quyết định:

Căn cứ: Điểm a, n khoản 1 Điều 123; Điều 38; Điều 58; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Nguyễn Ngọc T 13 (mười ba) năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 23/12/2023.

Ngoài ra, Toà án cấp sơ thẩm còn xử phạt các bị cáo khác mức án từ 01 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo đến tù chung thân; tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo vụ án theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm, vào ngày 08 tháng 10 năm 2024 bị cáo Nguyễn Ngọc T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm;

Bị cáo T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như án sơ thẩm quy kết, bị cáo chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì mức án 13 năm tù là quá nặng, bị cáo là lao động chính trong gia đình nuôi cha mẹ già, hiện nay bị cáo đã ly hôn và phải nuôi con nhỏ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

Căn cứ vào chứng cứ có tại hồ sơ và được xét hỏi công khai tại phiên tòa thì có đủ cơ sở để kết luận bị cáo T phạm tội “giết người” theo điểm a, n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo tham gia vụ án với vai trò đồng phạm giúp sức tích cực, do đó mức án 13 năm tù đối với bị cáo là thỏa đáng. Bị cáo kháng cáo nhưng không có tình tiết giảm nhẹ nào mới nên đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên Bản án sơ thẩm về hình phạt 13 năm tù đối với bị cáo.

Luật sư bào chữa cho bị cáo phát biểu:

Thống nhất quan điểm của kiểm sát viên về tội danh. Về mức hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử xem xét vì mức án 13 năm tù là có phần nghiêm khắc, hiện nay bị cáo hoàn cảnh gia đình khó khăn bị cáo là lao động chính nuôi cha mẹ già, vợ bị cáo đã ly hôn, nuôi 02 con nhỏ. Đặc biệt Tòa án cấp sơ thẩm chưa áp dụng tình tiết giảm nhẹ tích cực hợp tác với cơ quan điều tra trong quá trình giải quyết vụ án theo điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Các cơ quan tiến hành tố tụng tại giai đoạn sơ thẩm đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Do nghi ngờ, ghen tuông trong chuyện tình cảm với Giang Thị Kim U nên giữa Lê Minh T2 và Lê Văn T3 xảy ra mâu thuẫn với nhau dẫn đến Lê Văn T3 và Lê Minh T2 thách thức, tập hợp băng nhóm đánh nhau vào đêm ngày 19/12/2023 tại khu vực Cầu N, thuộc thôn L, xã H, huyện T, tỉnh Bình Thuận.

Lê Văn T3 rủ và tập trung được khoảng 20 đối tượng do nhờ Nguyễn Văn H1 và Nguyễn Thiên Kim T7 rủ thêm nhiều đối tượng khác chuẩn bị hung khí như dao tự chế, xăm gạo, bom xăng, gậy sắt, ba chĩa, kiếm tự tạo...tham gia cùng nhóm Lê Văn T3, bao gồm: Lê Văn T3, Nguyễn Thành H3, Phương Tiểu H6, Hồ Văn T5, Nguyễn Thiện T6, Trần Phi T8, Phạm Nhật P1, Nguyễn Minh Quốc B, Trương Đình P, Trần Duy H5, Lê Văn H4, Nguyễn Minh D và Huỳnh Đ.

Lê Minh T2 đã rủ rê, tập hợp tất cả 23 đối tượng gồm: Phan Nguyên Ngọc T9, Trần Thanh P2, Dương T10, Đặng Minh T18, Nguyễn Ngọc T, Đặng Tuấn A, Phạm Thiên T11, Lê Văn T12, Nguyễn Hồng H7, Võ Phạm Xuân H9, Đỗ Huỳnh Tấn T13, Nguyễn Thành C1, Nguyễn Ngọc H10, Đào Nhật Hữu H8, Trần Quốc T15, Nguyễn Tiến T14, Dư Tấn V, Trần Khải M1, Nguyễn Thành V1, Lê Văn T16, Nguyễn Thanh T17, Lê Nguyễn Nhật K và Phạm Văn S1. Trước khi đến nơi đánh nhau, nhóm của Lê Minh T2 chuẩn bị nhiều loại súng, trong đó có 03 khẩu súng có tính năng, tác dụng như vũ khí quân dụng và thuộc vũ khí quân dụng và nhiều hung khí khác như bom xăng, kiếm tự tạo, ba chĩa, dao Thái Lan...

Khoảng 00 giờ 45 phút ngày 20/12/2023, nhóm của Lê Minh T2 gồm 24 người đều đeo khẩu trang, chuẩn bị sẵn hung khí và nhóm của Lê Văn T3 khoảng 20 người cũng cầm hung khí chuẩn bị sẵn gặp nhau tại khu vực Cầu N, thuộc thôn L, xã H, huyện T ở cự ly khoảng 10 m, hai bên ném bom xăng qua lại gây cháy, tiếp đến 02 nhóm sáp vào nhưng chưa kịp dùng hung khí đánh nhau thì lúc này Phan Nguyên Ngọc T9 thuộc nhóm của Lê Minh T2 sử dụng súng có tính năng, tác dụng như vũ khí quân dụng và thuộc vũ khí quân dụng bắn 03 phát vào nhóm của Lê Văn T3, trong đó 01 phát đạn trúng vào cánh tay trái, vùng nách trái của Nguyễn Văn H1 và 01 phát đạn trúng vào vùng bụng của Lê Văn H4 làm cả hai bị thương tích nặng. Nguyễn Thành H3 bị Nguyễn Ngọc T dùng cây ba chĩa đâm trúng vào chân gây thương tích nhẹ khi hai nhóm rượt đuổi trên đường Q. Hậu quả: Nguyễn Văn H1 tử vong, Lê Văn H4 bị thương tích nặng, tỷ lệ tổn thương cơ thể 81%.

[3] Như vậy, chỉ vì một mâu thuẫn nhỏ trong cuộc sống mà các bị cáo sẵn sàng sử dụng vũ lực để giải quyết mâu thuẫn, các bị cáo rủ rê tập hợp nhiều người và chuẩn bị nhiêu loại hung khí và bom xăng, súng tự chế gây mất trật tự trị an và hậu quả làm Nguyễn Văn H1 tử vong, Lê Văn H4 bị thương tích nặng, tỷ lệ tổn thương cơ thể 81%. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc T phạm tội “Giết người” với tình các tiết định khung tăng nặng “Giết 02 người trở lên” “có tính chất côn đồ” theo điểm a, n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự là đúng pháp luật.

[4] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ của bị cáo Nguyễn Ngọc T thấy rằng: Khi quyết định hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đánh giá về nhân thân của bị cáo cũng như vai trò của bị cáo tham gia trong vụ án là đồng phạm, đồng thời cũng đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo theo quy định tại điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, từ đó xử phạt bị cáo mức án 13 năm tù là thỏa đáng. Bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp thêm được tình tiết giảm nhẹ nào mới, vì vậy Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên Bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo T.

[5] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát xét xử phúc thẩm đề nghị bác kháng cáo của bị cáo T và giữ nguyên Bản án sơ thẩm là có căn cứ chấp nhận.

[6] Quan điểm của luật sư bào chữa cho bị cáo đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là không có căn cứ chấp nhận

[7] Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo T phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.

[8] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Không chấp nhận

kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Ngọc T.

Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 65/2024/HS-ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận về quyết định hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Ngọc T.

Căn cứ: Điểm a, n khoản 1 Điều 123; Điều 38; Điều 58; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Nguyễn Ngọc T 13 (mười ba) năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 23/12/2023.

Bị cáo Nguyễn Ngọc T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao (1);
  • - VKSND cấp cao tại TP.HCM (1);
  • - TAND tỉnh Long An (2);
  • - VKSND tỉnh Long An (1);
  • - Cục THADS tỉnh Long An (1);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Long An (1);
  • - Công an tỉnh Long An (1);
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Long An (2);
  • - Lưu VP(3), HS(2).HDT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Minh Thịnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 128/2025/HS-PT ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự phúc thẩm (giết người)

  • Số bản án: 128/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Giết người)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 27/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Do kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 65/2024/HS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger