Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHỢ LÁCH

TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 128/2024/HNGĐ - ST

Ngay: 26/4/2024.

V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con".

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ LÁCH, TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Ngọc Tú.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phạm Gia Ảnh.
  2. Ông Trương Thanh Long.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Lách tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thanh Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 53/2024/TLST - HNGĐ ngày 26 tháng 02 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 09 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Bà Lê Thị N - Sinh năm: 1988; địa chỉ: 1 ấp P, xã V, huyện C, tỉnh Bến Tre; chỗ ở hiện nay: ấp L, xã L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng.

* Bị đơn: Ông Lê Hữu T - Sinh năm: 1987; địa chỉ: 1 ấp P, xã V, huyện C, tỉnh Bến Tre.

Các đương sự vắng mặt, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn trình bày:

Về hôn nhân: Năm 2010, bà Lê Thị N và ông Lê Hữu T có tiến đến hôn nhân. Hôn nhân giữa ông bà là tự nguyện, ông bà có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán và có đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng vào ngày 22/01/2010.

Sau khi kết hôn ông bà sống hạnh phúc gần 10 năm thì phát sinh mâu thuẫn mà nguyên nhân là do cuộc sống chung có nhiều bất đồng quan điểm nên ông bà hay cãi vả và đã sống ly thân từ năm 2022 đến nay.

Cho rằng tình cảm vợ chồng là không còn, không thể hàn gắn để đoàn tụ. Vì vậy, bà N yêu cầu được ly hôn với ông T. Bà không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng sau ly hôn.

Về con chung: Ông bà có 02 người con chung là Lê Thùy A - Sinh ngày 08/4/2011 và Lê Hoàng A1 - Sinh ngày 13/10/2012. Hiện nay 02 con đang sống với bà. Sau khi ly hôn bà yêu cầu được nuôi 02 con. Bà không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản, về nợ: Không có.

Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn trình bày:

Về hôn nhân: Ông đồng ý ly hôn với bà N.

Về con chung: Ông yêu cầu được nuôi con là Lê Hoàng A1 - Sinh ngày 13/10/2012. Bà N nuôi cháu Lê Thùy A - Sinh ngày 08/4/2011. Ông bà không phải cấp dưỡng nuôi con qua lại.

Về tài sản, về nợ: Không có.

Phát biểu ý kiến của Kiểm sát viên:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã tiến hành giải quyết vụ án theo đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng về trình tự, thủ tục tố tụng.

Về quan điểm giải quyết vụ án:

Về hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà N đối với ông T.

Về con chung: Giao cháu Lê Thùy A - Sinh ngày 08/4/2011 và Lê Hoàng A1 - Sinh ngày 13/10/2012 cho bà N tiếp tục nuôi dưỡng. Ghi nhận việc bà không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản, về nợ: Bà N, ông T khai không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào diễn biến tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Do các bên tranh chấp và nguyên đơn có đơn khởi kiện nên Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền và phù hợp với quy định khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Trong quá trình giải quyết vụ án, các đương sự có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Do vậy, việc Tòa án không thể tiến hành hòa giải và việc xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về hôn nhân: Việc kết hôn giữa bà Lê Thị N và ông Lê Hữu T là tự nguyện, ông bà có đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng vào ngày 22/01/2010. Đây là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật công nhận và bảo vệ. Tuy nhiên, sau khi kết hôn và chung sống hạnh phúc một thời gian thì đời sống hôn nhân có nhiều mâu thuẫn và ông bà đã sống ly thân từ năm 2022 đến nay.

Trong thời gian sống ly thân, giữa ông bà không có sự quan tâm đến nhau mà mạnh ai nấy sống. Trong quá trình giải quyết vụ án ông bà thống nhất ly hôn. Do vậy, cần chấp nhận việc thuận tình ly hôn giữa ông bà là phù hợp.

[3] Về con chung: Ông bà có 02 người con chung là Lê Thùy A - Sinh ngày 08/4/2011 và Lê Hoàng A1 - Sinh ngày 13/10/2012. Hiện tại 02 con đang sống với bà N.

Đối với cháu Lê Thùy A: Bà N và ông T thống nhất giao cháu A cho bà N tiếp tục nuôi dưỡng nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Đối với cháu Lê Hoàng A1: Bà N và ông T đều có nguyện vọng nuôi cháu A. Hội đồng xét xử xét thấy, hiện tại cháu A1 đang sống với bà N và cháu có nguyện vọng được tiếp tục sống với bà. Do vậy, cần giao con cho bà N tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.

Ghi nhận việc bà N không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi 02 con chung.

[4] Về tài sản, về nợ: Bà N và ông T khai không có nên không xem xét giải quyết.

[5] Xét đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[6] Về án phí: Nguyên đơn phải nộp án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 55, 58, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 119 của Luật hôn nhân và gia đình;

Các điều 147, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Điều 26, 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Bà Lê Thị N được ly hôn với ông Lê Hữu T.

2. Về con chung: Giao cháu Lê Thùy A - Sinh ngày 08/4/2011 và Lê Hoàng A1 - Sinh ngày 13/10/2012 cho bà N tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, hiện nay con đang sống với bà N.

Ghi nhận việc bà N không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi 02 con chung.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con mà không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này. Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lợi dụng việc thăm con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm con của người không trực tiếp nuôi con.

Vì lợi ích của con chung cha, mẹ hoặc cơ quan có thẩm quyền có quyền yêu cầu Tòa án quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản, về nợ: Bà N, ông T khai không có nên không xem xét giải quyết.

4. Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn phải nộp 300.000đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đồng (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số 0001400 ngày 23/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre. Nguyên đơn đã nộp đủ án phí.

5. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Chợ Lách;
  • - Chi cục THADS huyện Chợ Lách;
  • - TAND tỉnh Bến Tre;
  • - UBND nơi đăng ký kết hôn;
  • - Lưu hsva, Vp.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Dương Ngọc Tú

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 128/2024/HNGĐ - ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ LÁCH, TỈNH BẾN TRE về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 128/2024/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ LÁCH, TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tòa án xét xử và chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger