Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHONG THỔ

TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 128/2024/HS-ST

Ngày 25 tháng 9 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Vân Văn Kiều;
  2. Ông Đèo Văn Vĩnh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Khuyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Ông Đào Mạnh Hân - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 131/2024/TLST-HS, ngày 13 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 132/2023/QĐXXST-HS, ngày 13 tháng 9 năm 2024, đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Lù Mạnh H, tên gọi khác: Không có, sinh ngày 12/12/1993, tại huyện P, tỉnh Lai Châu. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở trước khi bị bắt: Bản H, xã K, huyện P, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; bố đẻ: Lù Văn N, sinh năm 1959; mẹ đẻ: Lò Thị N1, sinh năm 1964; gia đình bị cáo có 03 chị em, bị cáo là con thứ 3; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/6/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
  2. Họ và tên: Tao Văn P, tên gọi khác: Không có, sinh ngày 14/4/1993, tại huyện P, tỉnh Lai Châu. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở trước khi bị bắt: Bản C, xã K, huyện P, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; bố đẻ: Tao Văn M, sinh năm 1954; mẹ đẻ: Vũ Thị T, sinh năm 1958; vợ: Lò Thị I, sinh năm 1993; bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 1954, địa chỉ: Bản C, xã K, huyện P, tỉnh Lai Châu, vắng mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Tao Văn M, sinh năm 1954, địa chỉ: Bản C, xã K, huyện P, tỉnh Lai Châu, vắng mặt tại phiên tòa.

Chị Tao Thị H1, sinh năm 1991, địa chỉ: Bản C, xã K, huyện P, tỉnh Lai Châu, vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ, ngày 04/6/2024, do muốn có Heroine để sử dụng nhưng không có xe để đi mua Heroine nên Lù Mạnh H gọi điện cho Tao Văn P bảo P đến nhà H có việc. Khi P đến nhà H, H bảo P góp tiền để đi mua Heroine về sử dụng, P đồng ý và đưa cho H số tiền 100.000 đồng để H đi mua Heroine. H mượn xe của P để đi mua Heroine còn P đợi ở nhà H. H điều khiển xe của P đi mua được 01 gói Heroine với giá 350.000 đồng, gồm 100.000 đồng của P và 250.000 đồng của H. Khi H mua được H2 về đến nhà thì bị tổ công tác Công an xã K phát hiện bắt quả tang. Vật chứng thu giữ: 01 gói chất ma túy, loại chất bột màu trắng, được gói bằng mảnh nilon màu xanh và mảnh giấy bạc; 01 chiếc xe mô tô loại Honda Blade, biển kiểm soát: 25B1-872.83, kèm chìa khóa xe; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Mastel,; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F11. Lù Mạnh H khai nhận chất bột màu trắng là H2 do H mua của Nông Văn Ú, sinh năm 1977, địa chỉ: Bản N, xã B, huyện P, tỉnh Lai Châu, mục đích mua để H và P sử dụng.

Kết luận giám định số: 42/KL-GĐVV, ngày 05/6/2024, của Giám định viên tư pháp theo vụ việc, kết luận: Gói chất bột màu trắng thu giữ của Lù Mạnh HTao Văn P có khối lượng là: 0,32 gam. Bản Kết luận giám định số: 674/KL-KTHS, ngày 07/6/2024, của Phòng K Công an tỉnh L, kết luận: Mẫu chất bột, màu trắng gửi giám định là ma túy; loại Heroine.

Tại bản Cáo trạng số: 85/CT-VKSPT, ngày 13 tháng 9 năm 2024, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu đã truy tố các bị cáo Lù Mạnh H, Tao Văn P về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên Cáo trạng. Phần luận tội, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Các bị cáo Lù Mạnh H, Tao Văn P phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Về hình phạt, áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 17, 38, 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lù Mạnh H mức hình phạt từ 01 (Một) năm, 05 (Năm) tháng đến 01 (Một) năm, 08 (T1) tháng tù; xử phạt bị cáo Tao Văn P mức hình phạt từ 01 (Một) năm, 04 (Bốn) tháng đến 01 (Một) năm, 07 (B) tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo theo khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Về xử lý vật chứng, áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị xử lý: Tịch thu tiêu hủy: 0,286 gam Heroine còn lại sau giám định; 01 mảnh nilon màu xanh; 01 mảnh giấy bạc; 01 mảnh giấy trắng; vỏ niêm phong, là những vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy. 02 chiếc điện thoại di động do bị cáo H đã dùng để gọi bị cáo P đến đi mua Heroine nên cần tịch thu hóa giá nộp ngân sách Nhà nước. Đối với 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 25B1-872.83, kèm theo chìa khóa xe, là xe của chị Tao Thị H1. Do chị H1 không biết việc các bị cáo dùng làm phương tiện phạm tội, chị H1 có nguyện vọng xin lại chiếc xe nên cần trả lại xe cho chị H1.

tổng số Heroine thu giữ của các bị cáo đã gửi đi giám định, không hoàn lại mẫu vật giám định nên không đề cập xử lý. Về án phí, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng và không có tranh luận gì với luận tội của Kiểm sát viên. Lời nói sau cùng, các bị cáo đều xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện:

Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa ngày hôm nay phù hợp với nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang, các kết luận giám định, lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở để khẳng định: Hồi 20 giờ 50 phút, ngày 04/6/2024, tại nhà của Lù Mạnh H, thuộc bản H, xã K, huyện P, tỉnh Lai Châu, tổ công tác Công an xã K bắt quả tang Lù Mạnh HTao Văn P đang tàng trữ trái phép 01 gói chất ma túy, dạng chất bột màu trắng. Lù Mạnh HTao Văn P đều khai nhận chất bột màu trắng đó là H2 do H và P mua về để sử dụng. Qua kết quả trưng cầu giám định, xác định được: Số chất bột màu trắng thu giữ của Lù Mạnh H, Tao Văn P là ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,32 gam.

Các bị cáo đều là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, tính chất tội phạm nghiêm trọng. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Các bị cáo nhận thức được rõ H2 là một loại ma túy, chất gây nghiện có tác hại rất lớn và ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, là một trong những nguyên nhân gây mất trật tự xã hội và làm phát sinh tội phạm khác. Các bị cáo biết rõ hành vi Hưởngg trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ đã truy tố các bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

[3] Tình tiết có liên quan trong vụ án: Về nguồn gốc ma túy, Lù Mạnh H khai mua của Nông Văn Ú. Quá trình điều tra, Ú không thừa nhận bán Heroine. Ông Tao Văn M khai ông đã bỏ tiền ra mua chiếc xe mô tô biển kiểm soát: 25B1-872.83, đăng ký xe mang tên Tao Văn P. Chị Tao Thị H1 đã mua lại chiếc xe của bị cáo P. Do ông M, chị H1 không biết việc H và P lấy xe đi mua ma túy nên ông M, chị H1 không đồng phạm với các bị cáo trong vụ án này.

[4] Xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo:

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Các bị cáo đều là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, hiểu biết xã hội và kiến thức pháp luật có phần hạn chế. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về nhân thân: Các bị cáo phạm tội lần đầu, bị cáo Lù Mạnh H có bố, mẹ là dân công hỏa tuyến tham gia kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, Chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế được hưởng chế độ trợ cấp 01 lần. Bị cáo Tao Văn P có bố là dân công hỏa tuyến tham gia kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, Chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế được hưởng chế độ trợ cấp 01 lần.

[5] Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo, cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để giáo dục các bị cáo thành công dân có ích cho xã hội, đồng thời để góp phần nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật trong nhân dân và đảm bảo công tác phòng ngừa chung. Trong vụ án này, các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội có đồng phạm, tính chất đồng phạm giản đơn, các bị cáo đều là người thực hành, bị cáo H là người khởi xướng, trực tiếp đi mua, cất giấu ma túy, bị cáo P góp tiền, cung cấp phương tiện cho bị cáo H đi mua ma túy nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng theo quy định tại các Điều 17, 58 của Bộ luật Hình sự. Quan điểm luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy hoàn cảnh kinh tế gia đình các bị cáo khó khăn, các bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung với các bị cáo theo khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

[7] Về xử lý vật chứng: 0,034 gam Heroine trích trong tổng số Heroine thu giữ của các bị cáo đã được gửi đi giám định, không hoàn lại mẫu vật giám định, Hội đồng xét xử không xem xét. Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, xử lý vật chứng: 0,286 gam Heroine còn lại sau giám định là vật cấm lưu hành, 01 mảnh nilon màu xanh, 01 mảnh giấy bạc, vỏ gói, vỏ niêm phong, là những vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy. 02 chiếc điện thoại di động do bị cáo H đã dùng để gọi bị cáo P đến đi mua Heroine nên cần tịch thu hóa giá nộp ngân sách Nhà nước. Đối với 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 25B1-872.83, kèm theo chìa khóa xe, là xe của chị Tao Thị H1. Do chị H1 không biết việc các bị cáo dùng làm phương tiện phạm tội, chị H1 có nguyện vọng xin lại chiếc xe nên cần trả lại xe cho chị H1.

hình sự sơ thẩm cho các bị cáo theo điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố:

  1. Các bị cáo Lù Mạnh H, Tao Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
  2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 17, 38, 58 của Bộ luật Hình sự,

    Xử phạt bị cáo Lù Mạnh H: 01 (Một) năm, 07 (B) tháng tù.

    Xử phạt bị cáo Tao Văn P: 01 (Một) năm, 06 (Sáu) tháng tù.

    Thời hạn chấp hành hình phạt tù của hai bị cáo đều tính từ ngày các bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 05/6/2024.

  3. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Tịch thu tiêu hủy: 0,286 gam Heroine còn lại sau giám định; 01 mảnh nilon màu xanh; các vỏ niêm phong.

    Tịch thu hóa giá nộp ngân sách Nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu xanh, thu của bị cáo Lù Mạnh H; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F11 màu tím, thu của bị cáo Tao Văn P.

    Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Tao Thị H1: 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát: 25B1-872.83, kèm theo giấy đăng ký xe.

    (Toàn bộ vật chứng hiện đang được lưu tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu. Tình trạng vật chứng được mô tả cụ thể theo biên bảo giao nhận vật chứng, tài sản lập hồi 14 giờ 30 phút, ngày 20/9/2024, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu).

  4. Về án phí: Áp dụng các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Các bị cáo được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh;
  • - huyện Phong Thổ (CQĐT, THAHS);
  • - Trại Tạm giam CA tỉnh;
  • - CC THADS huyện Phong Thổ;
  • - Các bị cáo;
  • - Người có QLNVLQ;
  • - Lưu: HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Đỗ Thị Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 128/2024/HS-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 128/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bị cáo tàng trữ TP CMT
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger