|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN TỈNH LẠNG SƠN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số 128/2024/HS-ST
Ngày 24-9-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Xuân Tĩnh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Ngô Thị Thục;
- Bà Phạm Thị Hòa.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lành Thị Thanh Nụ - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Bà Chu Hương Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 124/2024/HSST ngày 13 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 125/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2024 và Q đinh thay đổi hội thẩm số 35/2024/QĐ-TA ngày 23 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Hoàng Văn B (tên gọi khác: Không có), sinh ngày 14 tháng 7 năm 1996 tại huyện C, tỉnh Lạng Sơn; căn cước công dân số [...] cấp ngày 24-6-2021. Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn K, xã B, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn N và bà Hứa Thị H; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không có. Bị bắt tạm giam từ ngày 06-7-2024 đến nay, hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh L; có mặt.
- Bị hại: Ông Nguyễn Trọng K, sinh năm 1981; địa chỉ: Số A, ngách C, ngõ A đường P, thị trấn V, huyện T, thành phố Hà Nội; vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Ông Nguyễn Đức T; địa chỉ: Đường Q, thôn K, xã Y, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.
- Bà Hoàng Thị C; địa chỉ: Thôn K, xã B, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.
- Ông Hoàng Văn N; địa chỉ: Thôn K, xã B, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.
- Người làm chứng: Anh Nguyễn Văn T1; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Hoàng Văn B là người sử dụng ma túy, do không có nghề nghiệp ổn định, để có tiền tiêu sài cá nhân và mua ma túy về sử dụng, ngày 03-7-2024 Hoàng Văn B điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 12K4-0990 thực hiện hành vi trộm cắp sắt của ông Nguyễn Trọng K tại công trình đang xây dựng, địa chỉ đường B, khu Đô thị P, phường V, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn. Cụ thể ngày 03-7-2024 đã trộm cắp tài sản gồm các thanh sắt đặc, loại phi 10, phi 22 tại công trình đang xây dựng của ông Nguyễn Trọng K như sau: Lần 1, khoảng 02 giờ Hoàng Văn B điều khiển xe mô tô đi từ quán Internet “N" đường P, phường Đ, thành phố L đến trộm được 37 kg sắt rồi chở đến bán cho ông Nguyễn Đức T chủ cửa hàng thu mua phế liệu tại đường Q, thôn K, xã Y, huyện C, tỉnh Lạng Sơn, với giá 7.000đ/kg, được 260.000 đồng. Lần 2, khoảng 03 giờ quay lại công trình xây dựng lấy trộm được 33 kg sắt rồi cũng bán cho ông Nguyễn Đức T được 230.000 đồng. Lần 3, khoảng 03 giờ 30 phút, Hoàng Văn B tiếp tục quay lại lấy trộm được 98 kg sắt; khi đang chở đi bán đến khu vực đường L giao nhau với đường L, phường V, thành phố L thì bị người dân phát hiện, Hoàng Văn B để lại xe mô tô và số sắt trộm được rồi bỏ chạy.
Ngày 04-7-2024, Công an phường V, thành phố L triệu tập Hoàng Văn B đến làm việc, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nêu trên. Kết quả test nhanh chất ma túy trong cơ thể đối với Hoàng Văn B, cho kết quả dương tính với chất ma túy MOR (H). Ngày 09-7-2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Hoàng Văn B, phát hiện thu giữ 01 chiếc quần màu đen đã cũ; 01 áo khoác dài tay màu đen có mũ; 01 đôi dép nhựa màu đen; 01 mũ bảo hiểm màu tím và 01 xe mô tô (không đeo biển kiểm soát, có số máy LKCQ1P50FMG000200273, số khung VLKDCG035LK200237).
Tại bản kết luận định giá tài sản số 51/KL-HĐĐGTS ngày 04-7-2024 của Hội đồng định giá kết luận: 08 thanh sắt loại phi 22 tổng trọng lượng 58 kg, chưa qua sử dụng, có trị giá 899.000 đồng; 20 thanh sắt loại phi 10 tổng trọng lượng 40 kg, chưa qua sử dụng, có trị giá 620.000 đồng. Tại bản kết luận định giá tài sản số 52/KL-HĐĐGTS ngày 05-7-2024 của Hội đồng định giá kết luận: 70 kg sắt thanh các loại phi 10, phi 22 chưa qua sử dụng, có trị giá 1.085.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị cáo trộm cắp ngày 03-7-2024 là 2.604.000 đồng.
Quá trình điều tra Hoàng Văn B còn khai nhận, trước đó vào ngày 17-6 và 26-6-2024 còn được trộm cắp sắt tại công trình xây dựng của ông Nguyễn Trọng K, trong đó ngày 17-6-2024 trộm 03 lần, mỗi lần được khoảng 30 kg đến 40 kg sắt gồm những thanh sắt đặc dạng ống tròn, cũng bán cho ông Nguyễn Đức T được 1.000.000 đồng; ngày 26-6-2024 Hoàng Văn B điều khiển xe mô tô không có biển kiểm soát đi đến công trình xây dựng lấy trộm 02 lần được khoảng 70 kg sắt loại hình vuông (được buộc lại thành bó) và các ống tuýp, rồi đến bán cho ông Nguyễn Đức T được 600.000 đồng. Toàn bộ số tiền bán sắt các lần như trên Hoàng Văn B đã tiêu sài cá nhân hết. Tại cơ quan điều tra ông Nguyễn Đức T xác nhận trong 02 ngày trên được mua sắt với Hoàng Văn B nhiều lần với tổng số tiền 1.600.000 đồng như Hoàng Văn B khai nhận.
Căn cứ vào lời khai của bị cáo Hoàng Văn B và ông Nguyễn Đức T, Cơ quan điều tra đã ra quyết định trưng cầu định giá tài sản đối với số lượng sắt bị cáo trộm cắp các ngày 17-6 và 26-6-2024. Tại bản kết luận định giá tài sản số 64 KL-HĐĐGTS ngày 30-8-2024 kết luận: Khoảng 30 đến 40 kg sắt gồm các thanh sắt đặc, dạng ống tròn, có chiều dài, kích thước khác nhau và khoảng 70 kg gồm các loại sắt hình vuông được buộc lại với nhau thành từng bó, những ống tuýp sắt do không đủ căn cứ định giá, nên không xác định được giá trị. Do vậy, không có căn cứ để xử lý đối với Hoàng Văn B về hành vi trộm cắp trong các ngày 17-6 và 26-6-2024.
Tại bản Cáo trạng số 121/CT-VKS, ngày 12-9-2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Hoàng Văn B để Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn xét xử về tội Trộm cắp tài sản, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Đối với ông Nguyễn Đức T là người mua số sắt do bị cáo trộm cắp, sau đó ông Nguyễn Đức T bán lại cho người đàn ông thu mua sắt vụn qua đường (không rõ tên tuổi, địa chỉ) nên không thu hồi được. Khi mua sắt ông Nguyễn Đức T không biết các tài sản do trộm cắp mà có nên không có căn cứ xử lý.
Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Ông Nguyễn Trọng K không yêu cầu bị cáo Hoàng Văn B bồi thường giá trị của số sắt bị mất vào các ngày 17-6 và 26-6-2024. Chỉ yêu cầu bồi thường đối với giá trị số sắt bị mất trong ngày 03-7-2024, bị cáo chưa bồi thường.
Về vật chứng vụ án: Hiện còn thu giữ của bị cáo Hoàng Văn B, gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu WazeHunda biển kiểm soát 12 K4-0990 và 01 xe mô tô không rõ nhãn hiệu, không đeo biển kiểm soát; 08 thanh sát phi 22, tổng trọng lượng 58 kg; 20 thanh sắt phi 10, tổng trọng lượng 40 kg; 01 chiếc quần bò màu đen; 01 chiếc áo khoác dài tay màu đen có mũ; 01 đôi dép nhựa màu đen; 01 mũ bảo hiểm màu tím, hiện đang gửi giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lạng Sơn để bảo quản theo quy định.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu WazeHunda Biển kiểm soát 12 K4-0990, xác định người đứng tên chủ xe là ông Hoàng Văn P, sinh năm 1969 (đã chết), hiện nay con gái ông P là bà Hoàng Thị C, sinh năm 1989, trú tại thôn K, xã B, huyện C là người quản lý, sử dụng, ngày 02-7-2024 bà Hoàng Thị C cho bị cáo mượn xe, nhưng không biết đã sử dụng đi trộm cắp. Đối với chiếc xe mô tô không đeo biển kiểm soát, xác minh chiếc xe có biển kiểm soát 12 F9-2522, số máy LKCQ1P50FMG000200273, số khung VLKDCG035LK200237, người đứng tên chủ xe là ông Vy Văn T2, trú tại thôn B, xã Đ, huyện L. Năm 2008 ông Vy Văn T2 bán chiếc xe trên cho một cửa hàng mua bán xe máy ở thị trấn L, huyện L. Sau đó, ông Hoàng Văn N là bố đẻ của bị cáo Hoàng Văn B đã mua lại chiếc xe trên tại một cửa hàng mua bán xe máy cũ ở thành phố L (không nhớ địa chỉ), quá trình sử dụng đã bị rơi mất biển kiểm soát và giấy tờ xe; việc Hoàng Văn B sử dụng chiếc xe này đi trộm cắp tài sản ông Hoàng Văn N không biết.Tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Văn B khai và thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố là đúng, không oan.Đối với bị hại ông Nguyễn Trọng K vắng mặt tại phiên tòa, căn cứ lời khai trong hồ sơ thể hiện ông là chủ sở hữu tài sản sắt bị mất, nay yêu cầu bị cáo bồi thường giá trị bằng tiền số sắt bị mất trong ngày 03-7-2024 và yêu cầu được nhận lại số sắt hiện đang thu giữ.
Đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Hoàng Thị C và ông Hoàng Văn N đều vắng mặt tại phiên tòa. Nhưng các lời khai trong hồ sơ thể hiện không biết bị cáo mượn xe mô tô đi trộm cắp tài sản; nay đều đề nghị Tòa xem xét cho nhận lại xe mô tô để sử dụng.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn luận tội xác định đủ căn cứ kết luận bị cáo có hành vi trộm cắp tài sản trị giá 2.604.000 đồng. Nên giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hoàng Văn B phạm tội Trộm cắp tài sản; về tình tiết giảm nhẹ bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; không có tình tiết tăng nặng. Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 06 đến 09 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về phần dân sự, bị hại ông Nguyễn Trọng K yêu cầu bị cáo bồi thường trả lại trị giá sắt bị mất ngày 03-7-2024 mà không thu hồi được, nên cần buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại số tiền 1.085.000 đồng; còn số sắt thu giữ trả lại cho bị hại.
Về vật chứng vụ án, đối với hai xe mô tô đang tạm giữ của bị cáo; xác định chủ sở hữu là ông Hoàng Văn N và bà Hoàng Thị C, do các chủ xe không biết bị cáo dùng đi lại để trộm cắp tài sản nên đề nghị trả lại cho các chủ sở hữu; đối với số lượng sắt đang tạm giữ cần trả lại cho bị hại ông Nguyễn Trọng K như nêu trên; các đồ dùng còn lại thu của bị cáo, nhưng bị cáo không nhận lại đề nghị tiêu hủy, nên tịch thu tiêu hủy theo quy định.
Về án phí và quyền kháng cáo, bị cáo phải chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước; bị cáo, các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận, nhất trí với luận tội và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo Hoàng Văn B đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để bị cáo an tâm cải tạo sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng hình sự, các văn bản tố tụng được tống đạt hợp lệ và đầy đủ. Bị cáo, bị hại, đương sự khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Nên các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.
[2] Về tố tụng, tại phiên tòa vắng mặt bị hại ông Nguyễn Trọng K; những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Hoàng Văn N, Nguyễn Đức T, bà Hoàng Thị C nhưng đều có đơn xin vắng mặt; còn người làm chứng ông Nguyễn Văn T1 đã có lời khai trong hồ sơ, căn cứ Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, xét xử vắng mặt những người này là có căn cứ.
[3] Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, những người tham gia tố tụng khác và Kết luận định giá tài sản, cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, đủ căn cứ xác định vào ngày 03-7-2024 Hoàng Văn B ba lần trộm cắp tài sản là các thanh sắt đặc, loại phi 10, phi 22 tại công trình đang xây dựng ở đường B, khu Đô thị P, phường V, thành phố L của ông Nguyễn Trọng K, sau đó đem bán cho ông Nguyễn Đức T là người thu mua sắt vụn; đến lần thứ 3, khoảng 03 giờ 30 phút tiếp tục quay lại lấy trộm sắt, khi đang chở đi bán thì bị người dân phát hiện. Căn cứ kết luận định giá tài sản xác định số sắt của 3 lần bị cáo trộm cắp trị giá 2.604.000 đồng; nên đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, cụ thể người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng thì phạm tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự, nên Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người có năng lực hành vi, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự; tự nhận thức được hành vi trộm cắp chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng muốn có tiền tiêu sài cá nhân và mua ma túy về sử dụng đã cố ý thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự trên địa bàn thành phố L.
[5] Xét về nhân thân; tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, thấy: Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nhưng bản thân đã sử dụng ma túy, nên xác định bị cáo có nhân thân không tốt; bị cáo không có tình tiết tăng nặng; về tình tiết giảm nhẹ bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Từ những nhận định trên, thấy bị cáo phạm tội lần đầu, tài sản trộm cắp không lớn; tuy nhiên trong một đêm đã thực hiện 03 lần trộm cắp tài sản, ngoài ra bị cáo còn khai trước đó đã 02 lần trộm cắp sắp của bị hại. Nên cần xử phạt tù giam với mức hình phạt phù hợp, để bị cáo được cải tạo sau này trở thành công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội.
[7] Về hình phạt bổ sung, xét thấy bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng để bảo đảm việc thi hành án, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Hoàng Văn B.
[8] Về bồi thường dân sự: Bị hại ông Nguyễn Trọng K chưa nhận lại được tài sản bị mất ngày 03-7-2024 nay yêu cầu bị cáo bồi thường theo giá trị tài sản đã định giá, nên buộc bị cáo Hoàng Văn B phải bồi thường trị giá sắt không thu hồi được là 1.085.000 đồng cho bị hại, còn số sắt thu giữ được cần trả lại cho bị hại; đối với tài sản là sắt bị mất ngày 17-6 và 26-6-2024 bị hại không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.
[9] Về xử lý vật chứng: Đối với hai xe mô tô đang tạm giữ do bị cáo sử dụng đi lại để trộm cắp; xác định các xe mô tô này là của bà Hoàng Thị C, ông Hoàng Văn N cho bị cáo mượn, nhưng không biết dùng đi trộm cắp tài sản; qua xác minh đều không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng, nên không có căn cứ tịch thu mà cần trả lại cho các chủ sở hữu là đúng. Đối với số sắt đang thu giữ cần trả lại cho bị hại; còn các tài sản khám xét thu giữ, nhưng bị cáo không nhận lại và đề nghị tiêu hủy, nên tịch thu tiêu hủy là có căn cứ.
[10] Về án phí, quyền kháng cáo: Căn cứ khoản 2 Điều 136; các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo phải chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm đối với số tiền phải bồi thường cho bị hại để nộp ngân sách Nhà nước; bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định.
[11] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, mức hình phạt và các nội dung liên quan đến toàn bộ vụ án phải giải quyết là phù hợp có căn cứ pháp luật, nên được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38, 47, 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Căn cứ điểm c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136; các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
Căn cứ khoản 1 Điều 584; Điều 585; 589 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23; điểm a khoản 1 Điều 24 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
- Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn B phạm tội Trộm cắp tài sản. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn B 07 (bẩy) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ bị bắt tạm giam 06-7-2024.
-
Về bồi thường dân sự: Buộc bị cáo Hoàng Văn B phải bồi thường trị giá tài sản (sắt) bị thiệt hại cho bị hại ông Nguyễn Trọng K là 1.085.0000 đồng (một triệu không trăm tám mươi năm nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của bên được trả tiền về số tiền phải trả, nếu bị cáo chưa trả được tiền, thì còn phải chịu tiền lãi ứng với số tiền, thời gian chậm trả, theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
-
Về xử lý vật chứng:
Trả lại cho ông Nguyễn Trọng K: 08 (tám) thanh sắt phi 22, tổng trọng lượng 58 kg; 20 (hai mươi) thanh sắt phi 10, tổng trọng lượng 40 kg.
Trả lại cho bà Hoàng Thị C 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu WazeHunda biển kiểm soát 12 K4-0990; số khung UM7A191146, số máy FMH370191146.
Trả lại cho ông Hoàng Văn N và 01 (một) xe mô tô không rõ nhãn hiệu, không đeo biển kiểm soát; số khung VLKDCG35LK200273, số máy LKCQ1P50FMG000200273.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) chiếc quần bò màu đen; 01 (một) chiếc áo khoác dài tay màu đen có mũ; 01 (một) đôi dép nhựa màu đen; 01 (một) mũ bảo hiểm màu tím của bị cáo Hoàng Văn B.
(Vật chứng trên được thể hiện tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 13-9-2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra, công an thành phố L và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lạng Sơn).
- Về án phí: Buộc bị cáo Hoàng Văn B phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch, tổng cộng là 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng), để nộp ngân sách Nhà nước.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Xuân Tĩnh |
Bản án số 128/2024/HS-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 128/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: HOÀNG VĂN B - TRỘM CẮP TÀI SẢN
