Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LỤC NGẠN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 128/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 24-9-2024

V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN - TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đức Nhường.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Vũ Ngọc Côn .

2. Ông Giáp Văn Phẩm.

Thư ký phiên tòa: Bà Diệp Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Đào Duy Đông - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xét xử công khai sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 323/2024/TLST- HNGĐ ngày 06 tháng 8 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 128A/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 8 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 60/2024/QÐST-DS ngày 14 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lý Thị T, sinh năm 1981. Có mặt.

- Bị đơn: Anh Diệp Văn T1, sinh năm 1979. Vắng mặt.

Cùng địa chỉ: Thôn G, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 19/6/2024 và những lời khai tiếp theo nguyên đơn chị Lý Thị T, biên bản lấy lời khai của bị đơn anh Diệp Văn T1 nội dung vụ án như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lý Thị T và anh Diệp Văn T1 kết hôn với nhau vào năm 2002, trước khi kết hôn có được tìm hiểu nhau trên cơ sở tự nguyện và được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương. Chị T anh T1 có đi đăng ký kết hôn tại UBND xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Chị T anh T1 đều xác định vợ chồng chung sống ban đầu hòa thuận hạnh phúc nhưng sau đó đến khoảng năm 2018 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Chị T cho rằng nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi nhau làm cho cuộc sống không có hạnh phúc, không ai còn quan tâm đến ai nữa. Anh T1 cho rằng nguyên nhân mâu thuẫn là do vào năm 2018 anh T1 phát hiện chị T ngoại tình nên có gọi gia đình chị T đến để nói chuyện nhưng gia đình chị T đòi đánh anh T1 và đưa chị T về nhà, từ đó đến nay anh và chị T không liên lạc gì với nhau, trước đó anh T1 có gọi chị T về nhưng chị T có nói rằng không ở với thằng nghèo. Đến năm 2019 anh T1 có làm đơn lên Tòa án nhưng Tòa án trả lại đơn, anh T1 có gọi chị T về giải quyết nhưng chị T không về. Chị T anh T1 sống ly thân từ đó cho đến nay không còn ai quan tâm tới ai. Nay chị T thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng nên chị T yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh Diệp Văn T1. Anh Diệp Văn T1 cũng xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị T đề nghị ly hôn với anh thì đó là việc của chị T anh không liên quan anh đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Về con chung: Chị T anh T1 có ba con chung là cháu Diệp Thị X, sinh năm 2003, cháu Diệp Thị M, sinh ngày 18/01/2008 và Diệp Trà M1, sinh ngày 30/5/2013. Hiện nay, các con chung đang ở cùng chị T. Sau ly hôn chị T có nguyện vọng nuôi dưỡng hai cháu M và cháu M1, anh T1 anh đề nghị theo nguyện vọng của các cháu. Đối với cháu X đã trưởng thành nên chị T và anh T1 đều không đề nghị Tòa án giải quyết. Việc cấp dưỡng nuôi con chị T anh T1 không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, công nợ chung: Chị Lý Thị T và anh Diệp Văn T1 tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Hai con chung là cháu Diệp Trà M1 và cháu Diệp Thị M đều trình bày nguyện vọng được ở với chị T khi chị T anh T1 ly hôn.

Tại biên bản xác minh ngày 15/8/2024 đối với bà Lý Thị N cung cấp: Anh T1 và chị T có mâu thuẫn nhiều năm nay nhưng nguyên nhân cụ thể như nào thì ban quản lý thôn không nắm rõ được vì anh T1 chị T không báo đến chính quyền thôn để giải quyết.

Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Lý Thị T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn và tranh chấp về nuôi con với anh Diệp Văn T1, anh Diệp Văn T1 vắng mặt tại phiên tòa không lý do. Hội đồng xét xử công bố lời khai của anh T1 và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của các đương sự. Thẩm phán đã thực hiện đúng trình tự thủ tục tố tụng, xác định đúng thẩm quyền, quan hệ pháp luật, thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng nguyên tắc, trình tự tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định về quyền nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định về quyền nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lý Thị T. Cho chị Lý Thị T được ly hôn với anh Diệp Văn T1.
  2. Về con chung: Giao các con chung là cháu Diệp Thị M, sinh ngày 18/01/2008 và Diệp Trà M1, sinh ngày 30/5/2013 cho chị Lý Thị T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các con chung lần lượt đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra xem xét giải quyết.
  3. Về tài sản chung, công nợ chung: Do các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

4. Về án phí: Căn cứ Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc chị Lý Thị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn) tiền án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Lý Thị T có đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn, con chung với anh Diệp Văn T1. Bị đơn anh Diệp Văn T1 đang sinh sống và cư trú tại thôn G, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Hội đồng xét xử xác định: Về quan hệ pháp luật đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Về thẩm quyền: Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về việc vắng mặt của các đương sự: Tại phiên tòa, bị đơn anh Diệp Văn T1 vắng mặt, anh Diệp Văn T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai vắng mặt không có lý do. Căn cứ quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án vắng mặt anh Diệp Văn T1.

[3] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy: Chị Lý Thị T và anh Diệp Văn T1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang vào ngày 18 tháng 01 năm 2002. Trước khi kết hôn hai bên được tự do tìm hiểu và được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương. Như vậy xác định đây là hôn nhân hợp pháp.

[4] Trong quá trình chung sống hai bên đã phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên xảy ra cãi nhau, làm cho cuộc sống không hạnh phúc. Chị T anh T1 đã sống ly thân với nhau từ năm 2018 cho đến nay và không còn ai quan tâm tới ai. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T anh T1 là có thật. Sau khi thụ lý vụ án chị T cho rằng mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, không thể chung sống với nhau nữa. Quá trình giải quyết, chị T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị T được ly hôn với anh T1. Bị đơn anh Diệp Văn T1 cũng xác định vợ chồng có mâu thuẫn, tình cảm vợ chồng không còn, chị T làm xin ly hôn với anh, anh đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

[5] Theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình thì vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình nhưng cả chị Lý Thị T và anh Diệp Văn T1 đã không thực hiện nghĩa vụ vợ chồng theo như các quy định đã nêu ở trên. Như vậy, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Lý Thị T và anh Diệp Văn T1 đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị Lý Thị T được ly hôn anh Diệp Văn T1. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về việc cho chị Lý Thị T được ly hôn với anh Diệp Văn T1 phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần được chấp nhận.

[6] Về con chung: Chị Lý Thị T và anh Diệp Văn T1 có ba con chung là cháu Diệp Thị X, sinh năm 2003, cháu Diệp Thị M, sinh ngày 18/01/2008 và Diệp Trà M1, sinh ngày 30/5/2013. Khi ly hôn chị T có nguyện vọng chăm sóc nuôi dưỡng cả hai con chung của vợ chồng là cháu X và cháu M, anh T1 đề nghị giải quyết con chung theo nguyện vọng của các con chung. Đối với cháu X đã trưởng thành nên chị T và anh T1 đều không đề nghị Tòa án giải quyết. Hội đồng xét xử xét thấy từ khi ly thân với nhau hiện nay các con chung đang ở cùng chị T và do chị T nuôi dưỡng phát triển ổn định, 02 con chung đều có nguyện vọng được ở cùng chị T. Do vậy, để đảm bảo sự phát triển ổn định của các con chung cần giao các con chung cho chị T là người trực tiếp nuôi dưỡng như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nguyện vọng của chị T, anh T1, phù hợp với nguyện vọng của các con chung, phù hợp với các Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Việc cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra xem xét, giải quyết vì các đương sự không yêu cầu.

[7] Về tài sản chung, công nợ chung: Do các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[8] Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 6, điểm a khoản 5, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, buộc chị Lý Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

[9] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ các Điều 6, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Lý Thị T được ly hôn với anh Diệp Văn T1.
  2. Về con chung: Giao các con chung là cháu Diệp Thị M, sinh ngày 18/01/2008 và Diệp Trà M1, sinh ngày 30/5/2013 cho chị Lý Thị T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các con chung lần lượt đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra xem xét giải quyết.

Sau khi ly hôn anh Diệp Văn T1 được quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở anh Diệp Văn T1 thực hiện quyền này.

Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

  1. Về án phí: Chị Lý Thị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí sơ thẩm theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006314 ngày 05 tháng 8 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị Lý Thị T đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
  2. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Án xử công khai sơ thẩm./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Lục Ngạn;
  • - Chi cục THADS huyện Lục Ngạn.
  • - UBND xã Quý Sơn, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang (Số 46/2002);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

(đã ký)

Nguyễn Đức Nhường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 128/2024/HNGĐ-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 128/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: fg
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger