|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU TỈNH SÓC TRĂNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 128/2024/DS-ST
Ngày: 23/8/2024
Về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Lâm Minh Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Thái Tín Hiền
Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Tâm, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Diệp - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 432/2023/TLST- DS, ngày 14 tháng 12 năm 2023 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 107/2024/QĐXXST-DS ngày 21 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng N2;
Địa chỉ trụ sở chính: Số B đường L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội.
Người đại diện hợp pháp: Bà Huỳnh Ngọc T là người đại diện theo ủy quyền (theo văn bản ủy quyền số 367/GUQ-NHNo-VC ngày 23/8/2024) (bà T có mặt).
Địa chỉ: Số D đường N, khóm A, phường A, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.
- Bị đơn: Ông Lâm Dù S; sinh năm: 1972 (vắng mặt)
Địa chỉ: Số B ấp T, xã L, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Nguyễn Thị K; sinh năm: 1978 (vắng mặt)
1
Địa chỉ: Số B ấp T, xã L, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.
2. Bà Lâm Thị N; sinh năm: 1996 (vắng mặt)
Địa chỉ: Số B ấp T, xã L, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.
3. Bà Lâm Thị N1; sinh năm: 1999 (vắng mặt)
Địa chỉ: Số B ấp T, xã L, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 31/8/2023 của nguyên đơn Ngân hàng N2 cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn – bà Huỳnh Ngọc T trình bày:
Ngày 22/06/2021, ngân hàng N2 Chi nhánh thị xã V, Sóc Trăng với ông Lâm Dù S đã ký kết Hợp đồng tín dụng số 7606LAV202100619. Theo Hợp đồng, ngân hàng N2 Chi nhánh thị xã V, T1 cho ông Lâm D Suốl vay số tiền 650.000.000 đồng đồng; mục đích vay: Nuôi tôm; lãi suất 10%/năm; thanh toán trả lãi hàng quý, trả nợ gốc 01 lần khi đến hạn; thời hạn vay là 12 tháng.
Hợp đồng tín dụng trên được bảo đảm bằng hợp đồng thế chấp sau:
- Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 149/112/2016/LH/HĐTC ngày 14/12/2016 và Hợp đồng sửa đổi bổ sung Hợp đồng thể chấp số 01/HĐSĐBS ngày 27/02/2020, được ký kết giữa ông Lâm Dù S và bà Nguyễn Thị K với Ngân hàng N2 Chi nhánh thị xã V, Sóc Trăng; tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như sau:
- + Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số V 604565, có diện tích 30.000m² (loại đất: Đất Ao(hồ), thửa số 222; tờ bản đồ số 01, tọa lạc ấp T, xã L, thị xã V, do UBND thị xã V, tỉnh Sóc Trăng cấp cho hộ bà Nguyễn Thị K ngày 21/11/2003.
Tính đến hết ngày 23/8/2024, tổng nợ của ông Lâm Dù S tại Ngân hàng N2 Chi nhánh thị xã V là: 950.718.492 đồng (trong đó nợ gốc: 650.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 214.072.602 đồng, nợ lãi quá hạn 86.645.890 đồng).
Ngân hàng N2 Chi nhánh thị xã V đã nhiều lần làm việc trực tiếp và có văn bản yêu cầu ông Lâm Dù S và bà Nguyễn Thị K thực hiện nghĩa vụ trả nợ nêu trên theo Hợp đồng tín dụng số 7606LAV202100619 ngày 22/06/2021, yêu cầu ông Lâm Dù S và bà Nguyễn Thị K thực hiện nghĩa vụ theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 149/112/2016/LH/HĐTC ngày 14/12/2016 và Hợp đồng sửa đổi bổ sung Hợp đồng thể chấp số 01/HĐSĐBS ngày 27/02/2020. Tuy nhiên, tính đến nay, ông Lâm Dù S và bà Nguyễn Thị K vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả toàn bộ nợ gốc, nợ lãi cho ngân hàng N2.
Nay ngân hàng N2 yêu cầu Tòa án giải quyết:
2
Buộc ông Lâm Dù S và bà Nguyễn Thị K phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng N2 toàn bộ số tiền 950.718.492 đồng (trong đó nợ gốc: 650.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 214.072.602 đồng, nợ lãi quá hạn 86.645.890 đồng). Đồng thời, yêu cầu ông Lâm Dù S và bà Nguyễn Thị K phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 7606LAV202100619 ngày 22 tháng 6 năm 2021, kể từ ngày 24/8/2024 cho đến khi ông Lâm Dù S và bà Nguyễn Thị K trả hết nợ gốc cho Ngân hàng N2.
Trường hợp ông Lâm Dù S và bà Nguyễn Thị K không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì ngân hàng yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp tài sản mà hai bên đã ký kết để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Lâm Dù S trình bày: Ông thừa nhận có vay Ngân hàng N2 – Chi nhánh thị xã V số tiền nợ gốc và tiền lãi phát sinh đúng theo yêu cầu khởi kiện của ngân hàng và đúng theo hợp đồng tín dụng số 7606LAV202100619 ngày 22 tháng 6 năm 2021 và thống nhất thanh toán số tiền nợ gốc và lãi suất phát sinh theo hợp đồng. Tuy nhiên, do điều kiện kinh tế khó khăn nên yêu cầu được trả dần số tiền nêu trên.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Nguyễn Thị K trình bày: Bà thống nhất với lời trình bày của ông Lâm Dù S, bà là vợ ông S, việc ông S vay vốn ngân hàng là để phục vụ sinh hoạt và kinh tế trong gia đình nên bà thống nhất cùng ông S thanh toán số tiền còn nợ cho ngân hàng nhưng do kinh tế khó khăn nên yêu cầu được trả dần số tiền mà ngân hàng yêu cầu.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa nêu quan điểm: Qua thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký phiên tòa cũng như Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, chứng cứ được thu thập đầy đủ đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho các đương sự. Nguyên đơn, đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật. Đối với bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt nên đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định. Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn ông Lâm Dù S và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị K phải trả nguyên đơn Ngân hàng N2 số tiền 950.718.492 đồng (trong đó nợ gốc: 650.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là
3
214.072.602 đồng, nợ lãi quá hạn 86.645.890 đồng) và ông S, bà K phải trả lãi phát sinh kể từ ngày 24/8/2024 theo lãi suất trong Hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký kết cho đến khi thanh toán hết nợ. Trường hợp ông Lâm Dù S và bà Nguyễn Thị K không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì ngân hàng có quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Đồng thời quyết định về nghĩa vụ chịu án phí, chi phí thẩm định đo đạc theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn ngân hàng N2 khởi kiện tranh chấp về hợp đồng tín dụng với bị đơn là ông Lâm Dù S có địa chỉ tại ấp T, xã L, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng. Do đó, theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.
[2] Bị đơn ông Lâm Dù S, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị K, bà Lâm Thị N, bà Lâm Thị N1 đã được triệu tập hợp lệ hai lần tham gia phiên tòa, đều vắng mặt không có lý do nên phải chịu hậu quả pháp lý về việc vắng mặt của mình. Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật và Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vụ án vắng mặt bị đơnvà người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
[3] Về nội dung: Việc thỏa thuận vay tiền của bị đơn ông Lâm Dù S tại Hợp đồng tín dụng số 7606LAV202100619 ngày 22/06/2021là tự nguyện, bình đẳng nhằm xác lập quyền và nghĩa vụ của các bên trong giao dịch dân sự, phù hợp với quy định tại các Điều 116, 117 của Bộ luật dân sự năm 2015, hình thức và nội dung hợp đồng phù hợp với quy định tại các Điều 119, 398, 463 của Bộ luật dân sự năm 2015. Đồng thời, các bên thỏa thuận lãi suất trong hạn 10%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn là phù hợp với quy định tại Điều 466, 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 và Điều 91, 95 của Luật các tổ chức tín dụng. Sau khi các bên ký kết hợp đồng, ông S còn nợ lại tiền nợ gốc là 650.000.000 và tiền lãi chưa thanh toán kể từ ngày 22/6/2021 cho đến nay nên đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ mà hai bên đã ký kết. Mặc dù Ngân hàng đã yêu cầu bị đơn ông Lâm D Suốl thanh toán nợ nhưng ông S không thanh toán theo hợp đồng mà hai bên thỏa thuận. Do vậy, bị đơn ông Lâm Dù S đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, là bên có lỗi trong việc thực hiện các thỏa thuận đã ký kết nên ngân hàng N2 yêu cầu bị đơn ông Lâm Dù S phải trả số
4
tiền nợ gốc và nợ lãi tính kể từ ngày ông S vi phạm nghĩa vụ trả nợ đến ngày xét xử 23/8/2024 số tiền là 950.718.492 đồng (trong đó nợ gốc: 650.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 214.072.602 đồng, nợ lãi quá hạn 86.645.890 đồng) và yêu cầu tiếp tục tính lãi phát sinh từ ngày 24/8/2024 theo lãi suất trong hợp đồng tín dụng số 7606LAV202100619 ngày 22/06/2021mà hai bên đã ký kết là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Xét về trách nhiệm liên đới: Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Nguyễn Thị K trình bày, bà là vợ ông Lâm Dù S, việc ông S vay vốn ngân hàng là để phục vụ kinh tế và nhu cầu thiết yếu trong gia đình nên bà thống nhất cùng ông S thanh toán số tiền còn nợ cho ngân hàng nhưng do kinh tế khó khăn nên yêu cầu được trả dần số tiền mà ngân hàng yêu cầu. Căn cứ vào khoản 1 Điều 27 và khoản 1 Điều 30 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về trách nhiệm liên đới của vợ chồng khi một bên vợ hoặc chồng thực hiện giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình nên việc Ngân hàng N2 yêu cầu bà Nguyễn Thị K liên đới cùng ông Lâm D Suốl trả tiền nợ vay ngân hàng là có cơ sở được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng N2, ông Lâm Dù S và bà Nguyễn Thị K đã ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 149/112/2016/LH/HĐTC ngày 14/12/2016, Hợp đồng sửa đổi bổ sung Hợp đồng thể chấp số 01/HĐSĐBS ngày 27/02/2020, dùng tài sản là thửa số 222 tờ bản đồ số 1, tọa lạc ấp T, xã L, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng, do Ủy ban nhân dân huyện V (Nay là Ủy ban nhân dân thị xã V) cấp cho hộ bà Nguyễn Thị K ngày 21/11/2003 để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ. Xét thấy, theo biên bản thẩm định tại chỗ đối với thửa đất thế chấp nêu trên đang tồn tại 01 căn chòi (nhà tạm) của ông Lâm Dù S và bà Nguyễn Thị K, có kết cấu: Mái lợp tôn ximăng, đòn tay tầm vong, cột đúc + gỗ, nền lót gạch men + tráng ximăng, vách lá, vách phía trước xây tường 10, nhà có chiều ngang 04m, chiều dài 6,5m, xây dựng năm 2022; 01 nhà vệ sinh có kết cấu: Mái lợp tôn ximăng, đòng tay tầm vong, nền lót gạch men, vách xây tường 10, chiều ngang 1,5m, chiều dài 1,8m, xây dựng năm 2022 và có 03 cây dừa loại A. Toàn bộ thửa đất nêu trên do hộ bà Nguyễn Thị K đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp và vợ chồng bà K ông S đang quản lý, sử dụng. Đồng thời, trong quá trình giải quyết vụ án, tất cả các thành viên trong hộ bà Nguyễn Thị K và người đang quản lý, sử dụng đất gồm bà Lâm Thị N và bà Lâm Thị N1 cũng không có phản đối cũng như không có ý kiến gì về việc ông S, bà K thế chấp quyền sử dụng đất. Mặt khác, Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 149/112/2016/LH/HĐTC ngày 14/12/2016, Hợp
5
đồng sửa đổi bổ sung Hợp đồng thể chấp số 01/HĐSĐBS ngày 27/02/2020 được ký kết giữa ngân hàng với bị đơn ông Lâm Dù S và bà Nguyễn Thị K phù hợp theo quy định tại Điều 317, 318 của Bộ luật dân sự 2015, nội dung hợp đồng thế chấp có quy định rõ về quyền và nghĩa vụ của bên thế chấp và bên nhận thế chấp, trong đó có nêu rõ tài sản gắn liền với đất cũng thuộc tài sản thế chấp và có đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 12 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm, nên Hợp đồng thế chấp có giá trị pháp lý và có hiệu lực thi hành.
[6] Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp với số tiền là 750.000 đồng, ông Lâm Dù S và bà Nguyễn Thị K phải chịu theo quy định tại khoản 1 Điều 157 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do nguyên đơn ngân hàng N2 đã tạm ứng thanh toán nên buộc ông Lâm Dù S và và bà Nguyễn Thị K phải trả lại số tiền này cho nguyên đơn.
[7] Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn ông Lâm Dù S và bà Nguyễn Thị K phải chịu án phí đối với yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[8] Toàn bộ quan điểm, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu là có căn cứ pháp lý và cơ sở thực tiễn như đã nhận định ở trên nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 157; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271, Điều 273, Điều 278 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ vào các Điều 116, 117, 119, 317, 318, 325, 398, 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự.
Căn cứ vào Điều 91 và Điều 95 của Luật các Tổ chức tín dụng.
Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
6
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ngân hàng N2 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng với bị đơn ông Lâm Dù S.
Buộc ông Lâm Dù S liên đới cùng bà Nguyễn Thị K thanh toán cho Ngân hàng N2 số tiền 950.718.492 đồng (trong đó nợ gốc: 650.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 214.072.602 đồng, nợ lãi quá hạn 86.645.890 đồng). Ông Lâm Dù S và bà Nguyễn Thị K phải liên đới trả lãi phát sinh kể từ ngày 24/8/2024 theo lãi suất trong Hợp đồng tín dụng số 7606LAV202100619 ngày 22/06/2021 mà hai bên đã ký kết cho đến khi thanh toán hết nợ.
2. Về xử lý tài sản thế chấp: Trường hợp ông Lâm Dù S và bà Nguyễn Thị K không thanh toán hoặc thanh toán không hết nợ, nguyên đơn ngân hàng N2 được quyền yêu cầu Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ, cụ thể: Thửa đất số 222 mục đích sử dụng: Ao (Hồ), diện tích 30.000m² thuộc tờ bản đồ số 01 tọa lạc ấp T, xã L, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số V 604565 do Ủy ban nhân dân huyện V, tỉnh Sóc Trăng (nay là Ủy ban nhân dân thị xã V, tỉnh Sóc Trăng) cấp cho hộ bà Nguyễn Thị K ngày 21/11/2003 và tài sản trên thửa đất gồm: 01 căn chòi (nhà tạm) của ông Lâm Dù S và bà Nguyễn Thị K, có kết cấu: Mái lợp tôn ximăng, đòn tay tầm vong, cột đúc + gỗ, nền lót gạch men + tráng ximăng, vách lá, vách phía trước xây tường 10, nhà có chiều ngang 04m, chiều dài 6,5m, xây dựng năm 2022; 01 nhà vệ sinh có kết cấu: Mái lợp tôn ximăng, đòng tay tầm vong, nền lót gạch men, vách xây tường 10, chiều ngang 1,5m, chiều dài 1,8m, xây dựng năm 2022 và có 03 cây dừa loại A để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 149/112/2016/LH/HĐTC ngày 14/12/2016, Hợp đồng sửa đổi bổ sung Hợp đồng thể chấp số 01/HĐSĐBS ngày 27/02/2020.
3. Án phí dân sự sơ thẩm và chi phí xem xét thẩm định tại chỗ:
3.1. Án phí dân sự sơ thẩm:
- - Bị đơn ông Lâm Dù S và bà Nguyễn Thị K liên đới chịu 40.521.555 đồng.
- - Nguyên đơn ngân hàng N2 không phải chịu án phí, hoàn trả cho ngân hàng N2 số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 10.626.918 đồng theo biên lai thu số 0000388 ngày 05 tháng 12 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.
3.2. Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Ông Lâm Dù S và bà Nguyễn Thị K phải liên đới chịu là 750.000 đồng. Do nguyên đơn ngân hàng N2 đã đóng tạm ứng số tiền này nên ông Lâm Dù S và bà Nguyễn Thị K có nghĩa vụ liên đới hoàn trả cho Ngân hàng N2 số tiền 750.000 đồng.
4. Về quyền kháng cáo: Đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi
7
tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lâm Minh Tuấn |
8
Bản án số 128/2024/DS-ST ngày 23/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 128/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
