Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 128/2024/DS – ST

Ngày: 23/5/2024

V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng,

thực hiện nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Đức Anh

Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Vũ Ngọc Tiến
  2. Bà Hà Thị Gái

Thư ký Tòa án: Bà Phạm Ngọc Phương - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 10.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Ngọc Thanh Trúc - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 156/2021/TLST-DS ngày 09 tháng 4 năm 2021 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng, thực hiện nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 77/2024/QĐXXST-DS ngày 23 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 156/2024/QĐST-DS ngày 14 tháng 5 năm 2024 giữa:

Nguyên đơn : Ngân hàng TMCP V

Địa chỉ trụ sở chính: 89 L, phường L, quận Đ, Thành phố Hà Nội

Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D – Chủ tịch HĐQT

Người đại diện theo ủy quyền: bà Nguyễn Thị Bích P (Theo Văn bản ủy quyền số 25/2020/UQ-HĐQT ngày 07/7/2020, Văn bản ủy quyền số 4912/2021/UQ-KHCH ngày 06/3/2021, Văn bản ủy quyền số 222.2022/VPB ngày 15/02/20222)

Địa chỉ: Tầng A, Tòa nhà A C, Phường D, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh (xin vắng mặt)

Bị đơn : Bà Nguyễn Thị Đ – sinh năm 1941

Hộ khẩu thường trú: 254/4/11 V, Phường D, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (xin vắng mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

- Ông Lê Minh T – sinh năm 1972

Địa chỉ : 1 T, Phường E, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh (xin vắng mặt)

- Bà Trần Thị Lệ H – Sinh năm 1990

Địa chỉ : Căn hộ C, tầng B, Block E – The Park Residence, phân khu số 12, Nguyễn Hữu T1, xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh (xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện ngày 06/03/2021, đơn thay đổi nội dung yêu cầu khởi kiện ngày 12/9/2023 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là Ngân hàng TMCP V có người đại diện theo ủy quyền là Bà Nguyễn Thị Bích P trình bày:

Ngân hàng TMCP V - Chi nhánh Q có ký hợp đồng vay vốn với bà Lê Thị Phổ T2 với nội dung như sau:

Hợp đồng cho vay số: PNT/15/1851/HĐTD/PL ký ngày ngày 19/9/2015, KUNN số 01/ PNT/15/1851/HĐTD/PL ký ngày 23/09/2015 với số tiền giải ngân 1.074.964.852 đồng, lãi suất 7,99%/năm cố định trong 12 tháng, sau đó được điều chỉnh 3 tháng/1 lần + biên độ 3%, thời gian vay: 300 tháng, mục đích vay: thanh toán tiền mua căn hộ số 02, Tầng B, Block B5 dự án The Park Residence thuộc phân khu số A, đường N, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tài sản thế chấp để đảm bảo cho hợp đồng cho vay trên là: Tất cả các quyền tài sản của Bên thế chấp phát sinh từ Hợp đồng mua bán căn hộ chung cư khu cao ốc căn hộ tại phân khu S, đường N, huyện N, Tp . – Giai đoạn 1 (T) số 0683/PHA2 ký ngày 16/06/2015 giữa Bên thế chấp và Công ty Cổ phần P1, bao gồm tất cả các Phụ lục, văn bản sửa đổi, bổ sung Hợp đồng này. Địa chỉ nhà ở: Căn hộ số: 02, Tầng B Block B thuộc Khu C tại P, Đường N, Xã P, Huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh.

Mặc dù, Ngân hàng đã tạo điều kiện về thời gian cho bà T2 trả nợ nhưng vẫn không có ý thức trả dứt nợ cho ngân hàng. Xét thấy bên vay không còn khả năng thanh toán nợ, do đó V1 đã chuyển toàn bộ khoản vay sang nợ quá hạn và thông báo chấm dứt việc thực hiện đối với hợp đồng cho vay trên, đồng thời tiến hành khởi kiện đương sự tại Toà án nhân dân có thẩm quyền để phát mãi tài sản thế chấp thu hồi nợ.

Tính đến ngày 23/05/2024, bà Lê Thị Phổ T2 đã thanh toán được cho V1 tổng số tiền: 522.427.920 đồng, trong đó thu gốc: 44.680.221 đồng, thu lãi: 477.747.699 đồng.

Tính đến ngày 23/05/2024, dư nợ của bà Lê Thị Phổ T2 tại V1 theo hợp đồng tín dụng trên như sau: Dư nợ: 1.863.690.624 đồng, trong đó, nợ gốc: 1.030.284.631 đồng, nợ lãi: 833.405.993 đồng.

Ngân hàng khởi kiện tại Tòa án yêu cầu giải quyết:

  1. Nguyễn Thị Đ là người thừa kế của bà Lê Thị Phổ T2 có trách nhiệm thanh toán cho V1 tổng số tiền nợ theo quy định tại các Hợp Đồng Tín dụng với tổng nợ là 1.863.690.624 đồng (Một tỷ tám trăm sáu mươi ba triệu sáu trăm chín mươi ngàn sáu trăm hai mươi bốn đồng), trong đó dư nợ gốc: 1.030.284.631 đồng, dư nợ lãi: 833.405.993 đồng (tính đến ngày 23/05/2024).

    Ngoài ra, bà Nguyễn Thị Đ phải thanh toán cho V1 số tiền lãi quá hạn phát sinh theo quy định tại các hợp đồng tín dụng đã ký từ ngày 24/05/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.

  2. Trường hợp bà Nguyễn Thị Đ không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên và lãi phát sinh, thì V1 có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là: Tất cả các quyền tài sản của Bên thế chấp phát sinh từ Hợp đồng mua bán căn hộ chung cư khu cao ốc căn hộ tại phân khu S, đường N, huyện N, Tp . - Giai đoạn 1 (T) số 0683/PHA2 ký ngày 16/06/2015 giữa Bên thế chấp và Công ty Cổ phần P1, bao gồm tất cả các Phụ lục, văn bản sửa đổi, bổ sung Hợp đồng này. Địa chỉ nhà ở: Căn hộ số: 02, Tầng B Block B thuộc Khu C tại P, Đường N, Xã P, Huyện N, Tp . để thu hồi toàn bộ khoản nợ vay. Hợp đồng thế chấp Quyền tài sản ký ngày 19/09/2015, số công chứng 011287, quyển số: 14 TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C. Đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 21/09/2015 tại Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản tại Thành phố Hồ Chí Minh.

    Ngân hàng chỉ yêu cầu bà Nguyễn Thị Đ trả nợ vay cho V1 trong phạm vi tài sản thừa kế (là sản thế chấp nêu trên)

* Tại biên bản lấy lời khai ngày 12/4/2024 bị đơn là bà Nguyễn Thị Đ trình bày: Bà là mẹ ruột của bà Lê Thị Phổ T2. Về quan hệ nhân thân của bà T2 hiện nay: cha bà T2 đã chết, bà T2 không có chồng con, hiện nay chỉ còn bà là mẹ ruột của bà T2 thuộc hàng thừa kế thứ nhất. Trong vụ án này đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng về số tiền gốc, lãi cũng như phương án xử lý tài sản thế chấp là căn hộ số: 02, T Block B thuộc Khu cao ốc căn hộ The Park Residence tại P khu số A, Đường N, Xã P, Huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh thì bà không có ý kiến.

Do tuổi đã cao, đi lại khó khăn nên bà xin được vắng mặt trong tất cả các buổi làm việc, hòa giải, xét xử của Tòa án nhân dân các cấp.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Trần Lệ H:

H là người thuê căn hộ do ông Lê Minh T quản lý cho thuê từ tháng 01/2022 cho đến nay. Bà không có ý kiến, liên quan và yêu cầu gì đến việc tranh chấp giữa Ngân hàng TMCP V với bà Lê Thị Phổ T2 đồng thời xin vắng mặt trong tất cả các buổi làm việc, hòa giải, xét xử của Tòa án nhân dân các cấp

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Minh T3: Sau khi bà T2 mất thì ông là người đang trực tiếp quản lý căn chung cư trên và hiện nay ông đang cho bà Trần Lệ H thuê. Số tiền thuê có được từ căn chung cư này vợ chồng ông dùng để chăm sóc, nuôi dưỡng mẹ của bà T2 là bà Nguyễn Thị Đ.

Việc Ngân hàng khởi kiện bà Đ để thực hiện nghĩa vụ thanh toán của bà T2 thì ông có ý kiến.

* Tại phiên tòa: Các đương sự có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 phát biểu:

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng quy trình tố tụng giải quyết vụ án. Những người tham gia tố tụng chấp hành đúng quy định pháp luật. Về thời hạn chuẩn bị xét xử có vi phạm về thời gian, đề nghị rút kinh nghiệm.

Về nội dung vụ án: Xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Xét nội dung đơn khởi kiện của Ngân hàng TMCP V yêu cầu bà Lê Thị Phổ T2 có nghĩa vụ trả tiền, xác định đây là vụ án dân sự về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Trong quá trình giải quyết vụ án, căn cứ kết quả xác minh thể hiện bà Lê Thị Phổ T2 đã chết ngày 07/10/2019. Thời điểm bà T2 chết được xác định trước khi Tòa án thụ lý vụ án nên bà T2 không thể là bị đơn trong vụ án này. Tuy nhiên, đến ngày 12/09/2023 Ngân hàng làm đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện, xác định bị đơn là bà Nguyễn Thị Đ (mẹ ruột của bà T2) và yêu cầu bà Đ thực hiện nghĩa vụ về tài sản do bà T2 chết để lại.

Xét thấy, do bà T2 đã chết trước thời điểm tòa án thụ lý vụ án, những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bà T2 hiện nay chỉ còn duy nhất bà Nguyễn Thị Đ nên căn cứ đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Tòa án xác định

Nguyễn Thị Đ là bị đơn và xác định lại quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng, thực hiện nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại”

Do bị đơn là bà Nguyễn Thị Đ có nơi cư trú tại Quận A Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 10 theo quy định tại khoản 3, khoản 14 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự

[2] Tất cả các đương sự trong vụ án bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án đều có đơn xin xét xử vắng mặt nên tòa án xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng theo quy định tại Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Xét các yêu cầu của nguyên đơn:

Xét yêu cầu trả nợ của Ngân hàng : Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị Đ thực hiện nghĩa vụ về tài sản do bà T2 chết để lại trong Hợp đồng cho vay số: PNT/15/1851/HĐTD/PL ký ngày ngày 19/9/2015, và Khế ước nhận nợ số 01/ PNT/15/1851/HĐTD/PL ký ngày 23/09/2015.

Xét thấy, Ngân hàng TMCP V - Chi nhánh Q có ký hợp đồng vay vốn với bà Lê Thị Phổ T2 với nội dung như sau:

Hợp đồng cho vay số: PNT/15/1851/HĐTD/PL ký ngày ngày 19/9/2015, KUNN số 01/ PNT/15/1851/HĐTD/PL ký ngày 23/09/2015 với số tiền giải ngân 1.074.964.852 đồng, lãi suất 7,99%/năm cố định trong 12 tháng, sau đó được điều chỉnh 3 tháng/1 lần + biên độ 3%, thời gian vay: 300 tháng, mục đích vay: thanh toán tiền mua căn hộ số 02, Tầng B, Block B5 dự án The Park Residence thuộc phân khu số A, đường N, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, do bà Lê Thị Phổ T2 vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu thanh toán số tiền tổng cộng Tính đến ngày 23/5/2024 là 1.863.690.624 đồng (Một tỷ tám trăm sáu mươi ba triệu sáu trăm chín mươi ngàn sáu trăm hai mươi bốn đồng), trong đó dư nợ gốc: 1.030.284.631 đồng, dư nợ lãi: 833.405.993 đồng.

Xét thấy, do bà T2 thực hiện không đúng việc trả nợ, vi phạm hợp đồng tín dụng đã ký nên việc Ngân hàng khởi kiện để buộc bà T2 có nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng tín dụng đã ký là có cơ sở. Tuy nhiên, do bà T2 đã chết nên bà Đ có nghĩa vụ thực hiện việc trả nợ thay cho bà T2.

Về số tiền nợ gốc, nợ lãi đã được Ngân hàng tính đúng theo hợp đồng đã ký giữa Ngân hàng và bà T2 và phù hợp với quy định tại Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng nên Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xác định dư nợ trong Hợp đồng tín dụng ký giữa bà T2 với Ngân hàng số tiền tổng cộng tính đến ngày 23/5/2024 là 1.863.690.624 đồng (Một tỷ tám trăm sáu

mươi ba triệu sáu trăm chín mươi ngàn sáu trăm hai mươi bốn đồng), trong đó dư nợ gốc: 1.030.284.631 đồng, dư nợ lãi: 833.405.993 đồng.

[4] Bà Nguyễn Thị Đ là mẹ ruột của bà Lê Thị Phổ T2 và được xác định là người duy nhất có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ về tài sản do bà T2 chết để lại trong vụ án này.

Tại khoản 2 Điều 615 Bộ luật dân sự có quy định : “Trường hợp di sản chưa được chia thì nghĩa vụ tài sản do người chết để lại được người quản lý di sản thực hiện theo thỏa thuận của những người thừa kế trong phạm vi di sản do người chết để lại”

Căn cứ quy định như trên thì nghĩa vụ về tài sản của bà Đ trả nợ cho bà T2 chỉ trong phạm vi tài sản do bà T2 chết để lại. Trong vụ án này, Ngân hàng xác định chỉ yêu cầu bà Đ thực hiện nghĩa vụ trong phạm vi tài sản thế chấp là các quyền về tài sản liên quan đến căn hộ chung cư mà bà T2 đã thế chấp trước đây với Ngân hàng.

[5] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc xử lý tài sản thế chấp trong trường hợp bị đơn không trả được nợ.

Tài sản thế chấp bảo đảm tiền vay của bà Lê Thị Phổ T2 là: Tất cả các quyền tài sản của Bên thế chấp phát sinh từ Hợp đồng mua bán căn hộ chung cư khu cao ốc căn hộ tại phân khu S, đường N, huyện N, Tp . - Giai đoạn 1 (T) số 0683/PHA2 ký ngày 16/06/2015 giữa Bên thế chấp và Công ty Cổ phần P1, bao gồm tất cả các Phụ lục, văn bản sửa đổi, bổ sung Hợp đồng này. Địa chỉ nhà ở: Căn hộ số: 02, Tầng B Block B thuộc Khu C tại P, Đường N, Xã P, Huyện N, Tp . để thu hồi toàn bộ khoản nợ vay. Hợp đồng thế chấp Quyền tài sản ký ngày 19/09/2015, số công chứng 011287, quyển số: 14 TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C. Đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 21/09/2015 tại Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Xét thấy, giao dịch thế chấp tài sản trên đã thực hiện đúng theo trình tự, thủ tục và các quy định của pháp luật nên phát sinh hiệu lực. Do bà T2 vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên cần áp dụng biện pháp xử lý tài sản đã được các bên thỏa thuận trong hợp đồng thế chấp nếu bà Đ không thực hiện việc nghĩa vụ trả nợ thay cho bà T2. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về yêu cầu khởi kiện này. Cụ thể, trường hợp nếu bà Đ không thanh toán nợ hoặc trả nhưng không đầy đủ, Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp như đã nêu ở trên.

Tuy nhiên, trong trường hợp này như đã phân tích thì bà Đ chỉ có nghĩa vụ về tài sản trong phạm vi tài sản do bà T2 chết để lại nên trường hợp phải phát mãi tài sản để thu hồi nợ thì số tiền phát mãi sẽ được xử lý như sau:

  • Trường hợp số tiền bán tài sản thế chấp thu được lớn hơn số tiền nợ phải trả thì số tiền dư còn lại được trả lại cho bà Nguyễn Thị Đ.
  • Trường hợp số tiền bán tài sản thế chấp thu được nhỏ hơn số tiền nợ phải trả thì bà Nguyễn Thị Đ chỉ phải trả trong phạm vi số tiền bán tài sản thế chấp thu được.

[6] Trong trường hợp cần phải phát mãi căn hộ này thì buộc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Trần Lệ H là người đang cư trú tại đây phải có nghĩa vụ rời khỏi căn nhà.

[7] Vấn đề khác: Do bà Nguyễn Thị Đ tuổi đã cao nên ông Nguyễn Minh T3 (là con rể của bà Đ) dùng số tiền thuê nhà này để phụng dưỡng chăm sóc bà. Trong vụ án này không ai có ý kiến hay yêu cầu về số tiền thuê nhà nên Tòa án không xem xét giải quyết trong vụ án.

[8] Về án phí: Do bà Nguyễn Thị Đ là người cao tuổi nên được miễn án phí. Trả lại cho Ngân hàng số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

[9] Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 tại phiên tòa là phù hợp với phần nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 3, khoản 14 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 238, Điều 235, Điều 266, Điều 271, khoản 1 Điều 273, của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ Điều 463, Điều 466, Điều 468, Điều 615 Bộ luật dân sự;

- Căn cứ khoản 2 Điều 3, Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

- Căn cứ Luật thi hành án dân sự.

Xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP V.
    1. Nguyễn Thị Đ có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP V số tiền nợ tính đến ngày 23/05/2024 theo Hợp đồng tín dụng số PNT/15/1851/HĐTD/PL ký ngày 19/9/2015 số tiền là 1.863.690.624 đồng (Một tỷ tám trăm sáu mươi ba triệu sáu trăm chín mươi ngàn sáu trăm hai mươi bốn đồng), trong đó dư nợ gốc: 1.030.284.631 đồng, dư nợ lãi: 833.405.993 đồng.
    2. Việc thanh toán tiền được thực hiện ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
    3. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, bà Nguyễn Thị Đ còn phải tiếp tục chịu các khoản tiền lãi trên số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức Lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản tiền nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh Lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì Lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh Lãi suất của Ngân hàng cho vay.

      Nghĩa vụ trả tiền của bà Nguyễn Thị Đ được xác định trong phạm vi tài sản của bà Lê Thị Phổ T2 chết để lại, tài sản này được xác định là đối tượng thế chấp trong Hợp đồng thế chấp Quyền tài sản ký ngày 19/09/2015, số công chứng 011287, quyển số: 14 TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C.

    4. Sau khi bà Nguyễn Thị Đ thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng TMCP V phải trả các giấy tờ (bản chính) liên quan đến tài sản thế chấp cho bà Nguyễn Thị Đ để làm thủ tục giải chấp tài sản đảm bảo.
    5. Trường hợp bà Nguyễn Thị Đ không thực hiện đúng thời hạn trả nợ thì Ngân hàng TMCP V được quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ là: Tất cả các quyền tài sản của Bên thế chấp phát sinh từ Hợp đồng mua bán căn hộ chung cư khu cao ốc căn hộ tại phân khu S, đường N, huyện N, Tp .. Giai đoạn 1 (T) số 0683/PHA2 ký ngày 16/06/2015 giữa Bên thế chấp và Công ty Cổ phần P1, bao gồm tất cả các Phụ lục, văn bản sửa đổi, bổ sung Hợp đồng. Địa chỉ nhà ở: Căn hộ số: 02, Tầng B Block B thuộc Khu C tại P, Đường N, Xã P, Huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh để thu hồi toàn bộ khoản nợ vay theo Hợp đồng thế chấp Quyền tài sản ký ngày 19/09/2015, số công chứng 011287, quyển số: 14 TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C. Đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 21/09/2015 tại Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản tại Thành phố Hồ Chí Minh.

      Trường hợp phải phát mãi tài sản để thu hồi nợ thì số tiền phát mãi sẽ được xử lý như sau:

      • Trường hợp số tiền bán tài sản thế chấp thu được lớn hơn số tiền nợ phải trả thì số tiền còn dư lại được trả lại cho bà Nguyễn Thị Đ.
      • Trường hợp số tiền bán tài sản thế chấp thu được nhỏ hơn số tiền nợ phải trả thì bà Nguyễn Thị Đ chỉ phải trả trong phạm vi số tiền bán tài sản thế chấp.
    6. Buộc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Trần Lệ H có nghĩa vụ rời khỏi Căn hộ số: 02, Tầng B Block B thuộc Khu C tại P, Đường N, Xã P, Huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh trong trường hợp phải phát mãi căn nhà này.
  2. Về án phí:

Án phí dân sự sơ thẩm bà Nguyễn Thị Đ được miễn nộp. Hoàn lại cho Ngân hàng TMCP V số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 23.788.188 đồng (hai mươi ba triệu bảy trăm tám mươi tám ngàn một trăm tám mươi tám đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số AA/2019/0050148 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

  1. Về quyền kháng cáo:

    Ngân hàng TMCP V, bà Nguyễn Thị Đ, bà Trần Lệ H, ông Nguyễn Minh T3 có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TANDTP -VKSNDTP;
  • - VSKND Quận 10;
  • - Chi cục THA Dân sự Quận 10;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Đức Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 128/2024/DS – ST ngày 23/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng, thực hiện nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại

  • Số bản án: 128/2024/DS – ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng, thực hiện nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger