Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 128/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 23-4-2024

“V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Sơn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Duy Bảo

Bà Bùi Thị Hoa

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Loan, Kiểm sát viên

Ngày 23 tháng 4 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An mở phiên tòa để xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 311/2023/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 10 năm 2023 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 97/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 04 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Chu Thị H, sinh năm 1988; Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Xóm K, xã Đ, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Địa chỉ hiện tại: 2-405 E, V E, thành phố N, tỉnh Chiba, Nhật Bản. Có đơn xin xử vắng mặt.
  2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1987; Địa chỉ: Xóm K, xã Đ, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt
  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Ngụ Thị T1, Địa chỉ: Xóm C, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An.Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, trình bày tại bản tự khai nguyên đơn chị Chu Thị H trình bày (Có chứng thực của Đ tại Nhật Bản): Chị và anh Nguyễn Văn T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 28/7/2010 tại Ủy ban nhân dân xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Thời gian đầu sau khi kết hôn, chị H và anh T chung sống với nhau rất hạnh phúc nhưng càng về sau càng nảy sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do chị H và anh T không tìm được tiếng nói chung trong mọi việc. Khoảng năm 2017, anh T đã sang Đài Loan xuất khẩu lao động. Năm 2019 chị H cũng sang Nhật Bản để xuất khẩu lao động, ổn định cuộc sống. Chính vì cuộc sống vợ chồng xa cách nên chị H và anh T không còn quan tâm đến nhau. Mặc dù hai bên đã rất cố gắng để hòa giải và hàn gắn tình cảm vợ chồng, hai gia đình cũng nhiều lần can thiệp nhưng mục đích hôn nhân không thể cứu vãn, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị H làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Văn T.

Về con chung: Chị Chu Thị H và anh Nguyễn Văn T có một con chung là Nguyễn Minh Q, sinh ngày 03/9/2014. Hiện nay, cháu đang sống cùng với ngoại là bà Ngũ Thị T2. Ly hôn, chị H có nguyện vọng Tòa án giao con chung cho chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng chị H và anh T không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chị Chu Thị H đang cư trú và làm việc tại Đài Loan nên chị không có điều kiện về Việt Nam để đến Tòa án yêu cầu giải quyết việc ly hôn. Do đó, chị ủy quyền cho anh Nguyễn Ngọc T3, địa chỉ: Số D, Đ, TP ., tỉnh Hải Dương nộp đơn khởi kiện, tài liệu, tạm ứng án phí và nhận các văn bản của Tòa án. Đồng thời, chị đề nghị Tòa án xét xử vụ án vắng mặt chị.

Đối với bị đơn là anh Nguyễn Văn T: Quá trình giải quyết vụ án, anh T đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Cuối năm 2023, anh T về nước. Tại bản tự khai anh trình bày: Về thời gian kết hôn và điều kiện kết hôn đúng như chị Chu Thị H đã trình bày. Sau khi kết hôn thì anh T đi Đài Loan đến năm 2013 anh T về Việt Nam, hai vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2014 anh T sang lại Đài Loan để tiếp tục làm ăn, chị H ở nhà kinh doanh đến tháng 9/2019 chị H đi xuất khẩu ở Nhật Bản. Từ đó vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vấn đề kinh tế, anh và chị H không liên lạc với nhau một thời gian dài. Đến thời điểm chị H làm đơn ly hôn thì anh và chị H mới liên lạc. Nay chị H làm đơn yêu cầu được ly hôn thì anh không đồng ý vì anh muốn giữ hạnh phúc cho con.

Về con chung: Anh T và chị H có một con chung là Nguyễn Minh Q, sinh ngày 03/9/2014. Hiện nay, anh T đã về Việt Nam nên cháu đang sống cùng với bố. Ly hôn, anh T có nguyện vọng Tòa án giao con chung cho anh trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Ngũ Thị T2 có ý kiến: Khi chị H và anh T đi xuất khẩu lao động năm 2019. Cháu Nguyễn Minh Q được bà chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi anh T về Việt Nam. Hiện cháu Q đang được bố đón về nuôi dưỡng. Nay chị H và anh T ly hôn, bà không yêu cầu chị H và anh T phải trả tiền công chăm sóc nuôi dưỡng cháu Q.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến: Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Việc thu thập chứng cứ và xét xử vụ án vắng mặt các đương sự bảo đảm tuân thủ đầy đủ quy định của pháp luật.

Về nội dung: Xét thấy vợ chồng chị H, anh T sống xa nhau đã lâu, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình cho Chu Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Văn T. Về con chung: Sau khi chị H và anh T đi xuất khẩu lao động, cháu Q ở với bà ngoại, được bà chăm sóc học tập đầy đủ, ổn định. Hiện nay chị H đang ở nước ngoài, anh T đã về nước, cháu Q đang ở với bố, cả 2 đều có nguyện vọng trực tiếp nuôi con. Xét thấy, anh T hiện đã ở Việt Nam, cháu Q có nguyện vọng ở với bố, đề nghị giao con cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Về cấp dưỡng nuôi con chung: không xem xét giải quyết. Về tài sản chung và nợ chung: chị H và anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Chu Thị H có địa chỉ trước khi xuất cảnh: huyện Y, tỉnh Nghệ An, hiện nay có địa chỉ cư trú tại 2 E, V E, thành phố N, tỉnh Chiba, Nhật Bản làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn T hiện có địa chỉ cư trú tại xã K, huyện Y, tỉnh Nghệ An nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại Điều 37, Điều tại 40, Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 122, Điều 123, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình.

[1.2] Về thủ tục hòa giải: Vụ án không tiến hành hòa giải được vì chị Chu Thị H không thể tham gia hòa giải do đang ở Nhật Bản và đương sự đề nghị không tiến hành hòa giải là phù hợp với quy định tại khoản 2 và khoản 4 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.3] Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn chị Chu Thị H có đơn khởi kiện xin ly hôn, văn bản nêu ý kiến, bản tự khai, đơn xin xét xử vắng mặt, sổ hộ chiếu và đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Bị đơn đã được Toà án triệu tập hợp lệ theo quy định pháp luật, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có ý kiến đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là hoàn toàn phù hợp, đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Chu Thị H, Hội đồng xét xử thấy rằng:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Chu Thị H và anh Nguyễn Văn T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn, là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, chị H và anh T sống với nhau hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh T và chị H đều đi xuất khẩu lao động, sống xa nhau vợ chồng không có tiếng nói chung, không quan tâm lẫn nhau, quan điểm sống của vợ chồng không phù hợp. Xét hiện nay tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Chu Thị H, căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cho chị Chu Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn T

[2.2]. Về con chung: Chị Chu Thị H và anh Nguyễn Văn T có một con chung là Nguyễn Minh Q, sinh ngày 03/9/2014, hiện đang ở với anh T. Ly hôn, chị H và anh T đều có nguyện vọng được nuôi con. Xét thấy, nguyện vọng của chị H và anh T đều là chính đáng. Tuy nhiên, hiện nay, chị H đang ở nước ngoài, anh T đã về Việt Nam. Nguyện vọng của anh T phù hợp với điều kiện thực tế về việc nuôi con và phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó, căn cứ vào các Điều 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của anh T. Giao con chung là Nguyễn Minh Q, sinh ngày 03/9/2014 cho anh T được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung cho đến lúc đủ 18 tuổi, trưởng thành.

Về cấp dưỡng nuôi con, anh T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Dành quyền khởi kiện cho anh T khi có yêu cầu.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Chu Thị H và anh Nguyễn Văn T không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Dành quyền khởi kiện về tài sản chung, nợ chung cho các đương sự trong một vụ án dân sự khác khi có yêu cầu.

[3] Về án phí sơ thẩm: Chị Chu Thị H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84; Điều 122; Điều 123; Điều 127 của Luật hôn nhân và gia đình 2014; Điều 37; Điều 40; khoản 4 Điều 147; khoản 1, khoản 4 Điều 207; khoản 1 Điều 228; khoản 1 Điều 273; Điều 469; khoản 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của Chị Chu Thị H.

  • - Về quan hệ hôn nhân: Chị Chu Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn T.
  • - Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Minh Q, sinh ngày 03/9/2014 cho anh Nguyễn Văn T được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến lúc đủ 18 tuổi, trưởng thành.

Về cấp dưỡng nuôi con: Anh T không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.

Sau khi ly hôn, chị Chu Thị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

  • - Về tài sản chung, nợ chung: Chị Chu Thị H và anh Nguyễn Văn T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Dành quyền khởi kiện liên quan đến chia tài sản chung, nợ chung cho các đương sự trong một vụ án dân sự khác khi các đương sự có yêu cầu.

  • - Về án phí: Chị Chu Thị H phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0004482 ngày 18/10/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.
  • - Về quyền kháng cáo: Chị Chu Thị H có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Anh Nguyễn Văn T, bà Ngũ Thị T2 có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết hợp lệ.
  • - Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Cục THADS tỉnh Nghệ An;
  • - UBND xã Diễn Trường, H. Diễn Châu;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Trần Quốc Sơn

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM

Trần Mai Khanh Hồ Bá Võ Vi Văn C

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN

TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 128/2024/HNGĐ-ST ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 128/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân gia đình
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger