Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 128/2023/HS-PT

Ngày: 22/12/2023

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Lê Vũ Huy Hoàng;
  • Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thành Hữu;
  • Bà Tôn Thị Thanh Thuý.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Ngọc Bích Trâm - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Lâm Dạ Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 22/12/2023, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 132/2023/TLPT-HS ngày 02/11/2023 đối với bị cáo Nguyễn Thị M do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 114/2023/HS-ST ngày 26/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.

- Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Thị M, sinh năm 1968 tại Sóc Trăng. Nơi đăng ký thường trú: số A đường L, khóm D, phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Nội trợ; Trình độ học vấn: 2/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn B và bà Lê Thị N; Chồng: Nguyễn Duy P (đã ly hôn); Con: Có 01 người con; Tiền án: 01 lần bị Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xử phạt 04 tháng tù về tội đánh bạc tại bản án hình sự phúc thẩm số 24/2018/HS-PT ngày 10/5/2018, chưa được xóa án tích; Tiền sự: Không; Nhân thân: có 02 tiền án là vào ngày 19 tháng 4 năm 1999 bị Tòa án nhân dân thị xã Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Đánh bạc tại bản án số 45/BA.99, đã được xóa án tích; vào ngày 27 tháng 7 năm 2007 bị Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng xử phạt 12 tháng tù về tội Đánh bạc tại bản án số 49/2007/HSST, đã được xóa án tích; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 06 tháng 7 năm 2023 cho đến nay. (có mặt)

- Những người dưới đây không liên quan đến kháng cáo Hội đồng xét xử phúc thẩm không triệu tập gồm: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Quách Mộng V, bà Trần Thị Sầu R, bà Văn Thị Bạch N1, bà Lê Thị Ánh H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 16 giờ 00 phút ngày 27 tháng 02 năm 2023, Công an phường C, thành phố S tiến hành kiểm tra hành chính nhà số A, đường L, khóm D, phường C, thành phố S do Nguyễn Thị M là người quản, lý sử dụng. Qua kiểm tra, lực lượng chức năng phát hiện Quách Mộng V, Văn Thị Bích N2, Lê Thị Ánh H và Trần Thị Sầu R đang có hành vi đánh bài tứ sắc ăn thua bằng tiền nên tiến hành lập biên bản.

Quá trình điều tra xác định: Quách Mộng V, Văn Thị Bích N2, Lê Thị Ánh H và Trần Thị Sầu R tham gia chơi đánh bài tứ sắc ăn thua bằng tiền tính theo chến, mỗi chến 200.000 đồng. Trước khi chơi mỗi người được chia 20 lệnh tương ứng với 02 thẻ nhựa hình tròn lớn và 10 thẻ nhựa hình tròn nhỏ; mỗi thẻ nhựa hình tròn lớn tương ứng với số tiền 50.000 đồng và mỗi thẻ nhựa hình tròn nhỏ tương ứng với số tiền 10.000 đồng. Khi chơi bốn người sẽ sử dụng một bộ tứ sắc gồm 112 lá, ba người được chia 20 lá bài, còn một người được chia 21 lá bài, số lá bài còn lại được dùng để kéo trong quá trình chơi. Trong một chến bài sẽ có nhiều ván bài, người thắng là người không còn bài rác trên tay, các bên không chung chi tiền trực tiếp cho nhau mà sử dụng các thẻ nhựa để chung chi với nhau. Khi một trong bốn người thua hết thẻ nhựa được chia từ đầu thì sẽ kết thúc một chến, các bên sẽ tính tiền thông qua giá trị thẻ nhựa đã được quy định từ đầu; khi bị bắt, bốn người đã chơi xong hai chến, đang chơi chến thứ ba. Các dụng dùng để phục vụ đánh bạc gồm bài tứ sắc và các thẻ nhựa do M cung cấp, mỗi chến bài người thắng sẽ trả cho M số tiền xâu từ 10.000 đồng đến 20.000 đồng.

Khi đến địa điểm đánh bạc, Quách Mộng V mang theo trên người số tiền 257.000 đồng và sử dụng số tiền này vào mục đích đánh bạc; Nguyễn Thị Sầu R1 mang theo trên người số tiền 38.000 đồng và sử dụng số tiền này vào mục đích đánh bạc; Văn Thị Bạch N1 mang theo trên người số tiền 2.504.000 đồng, sử dụng số tiền 200.000 đồng vào mục đích đánh bạc và cho Lê Thị Ánh H mượn số tiền 200.000 đồng; Lê Thị Ánh H khi đi đánh bạc không mang theo tiền nhưng mượn của N1 số tiền 200.000 đồng và sử dụng số tiền này vào mục đích đánh bạc. Do đó, tổng số tiền những người đánh bạc sử dụng vào mục đích đánh bạc là 695.000 đồng, số tiền này thu giữ trên những người đánh bạc.

Địa điểm đánh bạc tại nhà số A, đường L, khóm D, phường C, thành phố S là do M quản lý, sử dụng. Do cần tiền tiêu xài cá nhân nên M đã tổ chức cho V, R1, N1 và H đánh bài ăn thua bằng tiền nhằm thu lợi bất chính. Trước khi những người này đến tham gia đánh bạc, M cung cấp dụng cụ để phục vụ đánh bạc như bài tứ sắc, các thẻ nhựa, phòng kín và thu tiền xâu từ 10.000 đồng đến 20.000 đồng trên một chến. Khi bị lực lượng Công an bắt giữ, tại địa điểm M quản lý gồm có V, R1, N1 và H đang chơi bài tứ sắc ăn thua bằng tiền với tổng số tiền dùng để đánh bạc là 695.000 đồng. Khi bị bắt, M đã thu tiền xâu được số tiền 30.000 đồng.

* Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 114/2023/HS-ST ngày 26/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng quyết định:

  • - Căn cứ vào điểm đ khoản 1, 3 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  • - Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị M phạm tội “Tổ chức đánh bạc”.
  • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị M 01 (một) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện chấp hành án hoặc ngày bắt bị cáo chấp hành án. Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Thị M số tiền 20.000.000 đồng để nộp Ngân sách Nhà nước.
  • - Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

* Ngày 09/10/2023, bị cáo Nguyễn Thị M kháng cáo xin giảm hình phạt, cho hưởng án treo hoặc phạt tiền theo quy định của pháp luật.

* Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Thị M giữ nguyên nội dung kháng cáo, do gia đình khó khăn, phải nuôi con nhỏ, cha già bệnh tật.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2021) không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:

  1. [1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo và phạm vi xét xử phúc thẩm: Xét Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị M lập và nộp cho Tòa án cấp sơ thẩm vào ngày 09/10/2023 là đúng quy định về người kháng cáo, thời hạn kháng cáo, hình thức, nội dung kháng cáo theo quy định tại các điều 331, 332 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021). Do đó, căn cứ vào Điều 345 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021), Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét nội dung kháng cáo của bị cáo theo trình tự phúc thẩm.
  2. [2] Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, lời khai nhận của bị cáo, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm có căn cứ kết luận: Vào khoảng 16 giờ 00 phút ngày 27 tháng 02 năm 2023, tại nhà của bị cáo Nguyễn Thị M số 167/6, đường L, khóm D, phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng công an phát hiện, kiểm tra bắt quả tang Quách Mộng V, Văn Thị Bích N2, Lê Thị Ánh H và Trần Thị Sầu R đang đánh bài tứ sắc ăn thua bằng tiền. Bị cáo Nguyễn Thị M là người cung cấp các dụng dùng để phục vụ đánh bạc gồm bài tứ sắc và các thẻ nhựa, mỗi chến bài người thắng sẽ trả cho bị cáo M số tiền xâu từ 10.000 đồng đến 20.000 đồng và bị cáo M đã có tiền án về hành vi đánh bạc chưa được xoá án tích. Đến khi bị bắt M đã thu tiền xâu được 30.000 đồng. Do đó, Hội đồng xét xử sơ thẩm kết luận bị cáo Nguyễn Thị M phạm tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
  3. [3] Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị M về việc xin hưởng án treo, Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo bị xử phạt 01 năm tù; Cấp sơ thẩm xác định bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng; Bị cáo có 01 tiền án và có nhân thân xấu, trong các năm 1999, 2007 đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc. Theo quy định tại khoản 3 Điều 2 của Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo thì bị cáo không đủ điều kiện để được hưởng án treo. Do đó, kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo là không có cơ sở chấp nhận.
  4. [4] Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị M về việc xin giảm hình phạt, Hội đồng xét xử nhận thấy: Cấp sơ thẩm xác định bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Bị cáo kháng cáo xin giảm hình phạt, nhưng không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) mà cấp sơ thẩm chưa áp dụng đối với bị cáo hoặc tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà lẽ ra bị cáo được áp dụng nhưng cấp sơ thẩm chưa áp dụng đối với bị cáo. Do đó, kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo là không có cơ sở chấp nhận.
  5. [5] Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị M về việc xin áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền, Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo đã bị Toà án xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội đánh bạc tại Bản án số 45/BA.99 ngày 19/4/1999 của Toà án nhân dân thị xã Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng; Đến ngày 27/7/2007 bị cáo bị Toà án nhân dân thành phố Sóc Trăng xử phạt 12 tháng tù về tội đánh bạc tại Bản án số 49/2007/HSST. Mặt dù, đối với các bản án này đã được xoá án tích nhưng vào ngày 10/5/2018 bị cáo lại bị Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xử phạt 04 tháng tù về tội đánh bạc tại Bản án Hình sự phúc thẩm số 24/2018/HS-PT. Đối với bản án này đến ngày phạm tội lần này vào ngày 27/02/2023 chưa được xoá án tích mà lại tiếp tục tổ chức cho nhiều người tham gia chơi đánh bạc ăn thua bằng tiền để thu tiền xâu và đã bị Toà án nhân dân thành phố Sóc Trăng xử phạt 01 năm tù tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 114/2023/HS-ST ngày 26/9/2023. Nên việc bị cáo kháng cáo xin áp dụng hình phạt chính là phạt tiền thì theo quy định tại Điều 322 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) có quy định hình phạt tiền, nhưng không quy định hình phạt tiền là bắt buộc và quyết định phạt tiền đối với bị cáo là không nghiêm so với tính chấp hành pháp luật của bị cáo nên cấp sơ thẩm quyết định hình phạt tù đối với bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, tính chấp hành pháp luật và nhân thân của bị cáo. Do đó, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo xin phạt tiền là hình phạt chính.
  6. [6] Từ những nhận định phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ vào Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021), chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
  7. [7] Về án phí phúc thẩm: Do cấp phúc thẩm giữ nguyên quyết định về hình sự của bản án sơ thẩm nên bị cáo có kháng cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.
  8. [8] Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2021).

    Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị M về việc xin giảm hình phạt hoặc xin hưởng án treo hoặc áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền.

    Giữ nguyên Bản án Hình sự sơ thẩm số 114/2023/HS-ST ngày 26/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.

  2. Căn cứ điểm đ khoản 1, 3 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017); Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47; điểm a khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị M 01 (một) năm tù về tội “Tổ chức đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện đi chấp hành án hoặc ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.

    Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Thị M số tiền 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng để nộp Ngân sách Nhà nước.

  3. Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm b khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    - Bị cáo Nguyễn Thị M chịu án phí hình sự phúc thẩm là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

  4. Các phần quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  5. Bản án phúc thẩm này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT 1-TAND Tối cao (01);
  • - VKSND tỉnh Sóc Trăng (01);
  • - TAND thành phố Sóc Trăng (02);
  • - VKSND thành phố Sóc Trăng (01);
  • - CQĐT-Công an thành phố Sóc Trăng (01);
  • - CQTHAHS-Công an TP Sóc Trăng (01);
  • - Chi cục THADS thành phố Sóc Trăng (01);
  • - Bị cáo (01);
  • - CQTHAHS-Công an tỉnh Sóc Trăng (01);
  • - Phòng HSNV-Công an tỉnh Sóc Trăng (01);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng (01);
  • - PKTNV-THA-TAND tỉnh Sóc Trăng (01);
  • - Lưu HS, THS (04).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Lê Vũ Huy Hoàng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 128/2023/HS-PT ngày 22/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG về hình sự phúc thẩm

  • Số bản án: 128/2023/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 22/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khong chap nhan KC, giu nguyen an so tham
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger