Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỨC HÒA

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 128/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 22 - 5 - 2024.

V/v tranh chấp “Ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Cương.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Nguyễn Chí Lin.
  2. Bà Trần Thị Đổi.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lệ Quân - là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

Ngày 22 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1359/2023/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 12 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 86/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 42/2024/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Trương Phú Q, sinh năm 1985 (Xin vắng mặt).

Địa chỉ: Số 57, Ô6, khu B, thị trấn Hậu Ngh, huyện Đức H, tỉnh L.

Bị đơn: Bà Huỳnh Ngọc H, sinh năm 1986 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Số 57, Ô 6, khu B, thị trấn Hậu Ngh, huyện Đức H, tỉnh L.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ly hôn ngày 20 tháng 10 năm 2023 và những lời khai tiếp theo, nguyên đơn ông Trương Phú Q trình bày: Ông và bà Huỳnh Ngọc H chung sống với nhau vào năm 2007, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Hậu Ngh, huyện Đức H, tỉnh L. Trong quá trình chung sống, vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do cuộc sống không phù hợp, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau, không tìm được tiếng nói chung trong hôn nhân. Ông bà đã ly thân nhau từ năm 2021 cho đến nay. Nay, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được nữa nên ông xin ly hôn với bà Huỳnh Ngọc H.

Về con chung: Quá trình chung sống, ông bà có hai con chung tên Trương Đại Ph, sinh ngày 30/6/2007 và Trương Đại Qu, sinh ngày 08/7/2014. Hai con hiện đang sống chung với ông. Khi ly hôn, ông xin được quyền nuôi hai con, không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án, ông Trương Phú Q có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải, Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý, các văn bản tố tụng cần thiết, đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và các thủ tục theo pháp luật quy định nhưng bà Huỳnh Ngọc H vẫn vắng mặt, cũng không có văn bản ghi ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa, căn cứ các kết quả xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Ông Trương Phú Q khởi kiện yêu cầu được ly hôn với bà Huỳnh Ngọc H, bà H hiện thường trú và có mặt tại số nhà 57, Ô6, khu B, thị trấn Hậu Ngh, huyện Đức H, tỉnh L (được Công an thị trấn Hậu Ngh xác nhận) nên Tòa án nhân dân huyện Đức H thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, nguyên đơn ông Trương Phú Q xin vắng mặt; bị đơn bà Huỳnh Ngọc H đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, căn cứ vào khoản 1 điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

[2]. Về quan hệ hôn nhân: Ông Trương Phú Q và bà Huỳnh Ngọc H chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Hậu Ngh, huyện Đức H, tỉnh L, số đăng ký kết hôn 139 ngày 24/9/2007 nên hôn nhân giữa ông bà là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3]. Thấy rằng, trong quá trình chung sống, ông Q cho rằng do cuộc sống vợ chồng không phù hợp, bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung trong hôn nhân, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn. Mâu thuẫn giữa ông bà cũng không được gia đình hai bên và chính quyền địa phương giải quyết. Đối với bà H, từ khi thụ lý vụ án cho đến nay, mặc dù đã được tống đạt thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng theo quy định, biết được yêu cầu khởi kiện của ông Q nhưng bà H không đến Tòa án và cũng không có ý kiến gì phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của ông Q. Tại phiên tòa, bà H vẫn vắng mặt, chứng tỏ không có thiện chí để hàn gắn, trong khi vợ chồng mâu thuẫn nên đã ly thân nhau từ năm 2021 cho đến nay. Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy rằng, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, đời sống chung vợ chồng của ông bà không thể tiếp tục, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, xét yêu cầu ly hôn của ông Q và bà H là có căn cứ, phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4]. Về con chung và cấp dưỡng: Ông Q trình bày ông và bà H chung sống có hai con chung tên Trương Đại Ph, sinh ngày 30/6/2007 và Trương Đại Qu, sinh ngày 08/7/2014. Hai con hiện đang sống với ông Q. Khi ly hôn, ông Q xin được quyền nuôi hai con chung. Đối với bà H, dù đã được thông báo về yêu cầu của ông Q đối với con chung nhưng bà H vẫn không đến Tòa án, cũng không có văn bản phản hồi ý kiến gửi Tòa án.

Xét thấy, từ khi ông Q và bà H xa nhau đến nay, ông Q là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, ông vẫn đảm bảo sự phát triển bình thường của con chung. Ngoài ra, hai cháu Phú và Quý đều trên 07 tuổi, có nguyện vọng sống chung với cha. Do đó, Hội đồng xét xử thấy rằng cần tiếp tục giao hai con chung Phú và Qúy cho ông Q nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Ông Q không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi hai con chung, bà H cũng không có ý kiến phản hồi về việc cấp dưỡng nuôi con chung nên HĐXX không đề cập, xem xét đến.

[5]. Về tài sản chung: Ông Q trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết; bà H không có văn bản phản hồi ý kiến về tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu bà H có tranh chấp về tài sản chung thì sẽ khởi kiện trong một vụ án khác.

[6]. Về nợ chung: Ông Q trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết; bà H không có văn bản phản hồi ý kiến về nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu bà H có tranh chấp về nợ chung thì sẽ khởi kiện trong một vụ án khác.

[7]. Về án phí: Ông Q phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, 273, 483, Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 9, 5, 81, 82, 83, và 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Trương Phú Q đối với bà Huỳnh Ngọc H về việc “Ly hôn”.
    • - Về quan hệ hôn nhân: Ông Trương Phú Q được ly hôn với bà Huỳnh Ngọc H.
    • - Về con chung: Ông Trương Phú Q được quyền tiếp tục nuôi hai con chung tên Trương Đại Ph, sinh ngày 30/6/2007 và Trương Đại Q, sinh ngày 08/7/2014. Bà Huỳnh Ngọc H không phải cấp dưỡng nuôi hai con chung vì ông Q không yêu cầu. Cả hai bên đều có quyền và nghĩa vụ đối với con chung. Bên không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, bên trực tiếp nuôi con không được quyền ngăn cản. Khi cần thiết có thể yêu cầu thay đổi quyền nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con
    • - Về tài sản chung: Ông Trương Phú Q trình bày không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập, xem xét đến. Nếu bà H có tranh chấp về tài sản chung thì sẽ khởi kiện trong một vụ án khác.
    • - Về nợ chung: Ông Trương Phú Q trình bày không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập, xem xét đến. Nếu bà H có tranh chấp nợ chung thì sẽ khởi kiện trong một vụ án khác.
  2. Về án phí: Ông Trương Phú Q chịu 300.000đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm sung công quỹ nhà nước. Ông Q được khấu trừ 300.000đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0005543 ngày 05/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức H, tỉnh L để thi hành.

Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án để xin xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - TAND tỉnh L;
  • - VKSND huyện Đức H;
  • - UBND thị trấn Hậu Ngh;
  • - Chi cục THADS huyện Đức H;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Kim Cương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 128/2024/HNGĐ-ST ngày 22/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN về ly hôn

  • Số bản án: 128/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Q ly hôn H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger