trending_up Gợi ý tra cứu
  • history Mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc 2026
  • search Bản án mẫu tranh chấp đất đai
  • search Nghị định xử phạt hành chính đất đai
  • search Điều kiện hưởng lương hưu mới nhất 2026
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 128/2024/DS-ST

Ngày: 22 - 5 - 2024

V/v tranh chấp quyền sử dụng đất, hợp

đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Trúc.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Thái Hoàng Bo

Bà Phạm Thị Hà

- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Chí Đệ là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi tham gia phiên tòa: Bà Ngô Trà My – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 21, 22 tháng 5 năm 2024 tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi và điểm cầu thành phần trụ sở Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh C xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án thụ lý số: 389/2022/TLST-DS ngày 10 tháng 10 năm 2022 về tranh chấp quyền sử dụng đất, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 121/2024/QĐXXST-DS ngày 16 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

· Nguyên đơn:

  • + Ông Trần Văn T, sinh năm 1945; Địa chỉ cư trú: ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau.
  • + Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1948; Địa chỉ cư trú: ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Tăng Tấn L, sinh năm 1990; Địa chỉ cư trú: số A, đường Q, khóm E, phường E, thành phố C, tỉnh Cà Mau (văn bản ủy quyền ngà 19/10/2022), (có mặt);

- Bị đơn: Ông Phạm Văn D, sinh năm 1957; Địa chỉ cư trú: ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (có mặt);

2

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Bà Trần Như N – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh C (có mặt);

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Anh Trần Quốc T1, sinh năm 1970; Địa chỉ cư trú: ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (có mặt);
  • + Chị Diệp Mộng T2, sinh năm 1973; Địa chỉ cư trú: ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (có mặt);
  • + Anh Trần Quốc K; Địa chỉ cư trú: ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (vắng mặt);
  • + Bà Trần Thị T3; Địa chỉ cư trú: ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau(có mặt);
  • + Anh Phạm Văn T4; Địa chỉ cư trú: ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (vắng mặt);
  • + Chị Trần Thị Hồng D1; Địa chỉ cư trú: ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (vắng mặt);
  • + Bà Quách Thị N1, sinh năm 1950; Địa chỉ cư trú: khu phố Đ, T, huyện A, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt);
  • + Anh Nguyễn Việt L1, sinh năm 1982; Địa chỉ cư trú: khu phố Đ, T, huyện A, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt);
  • + Anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 1985; Địa chỉ cư trú: khu phố Đ, T, huyện A, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt);
  • + Anh Nguyễn Việt B, sinh năm 1991; Địa chỉ cư trú: khu phố Đ, T, huyện A, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt);
  • + Anh Nguyễn Việt A, sinh năm 1995; Địa chỉ cư trú: khu phố Đ, T, huyện A, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt);
  • + Anh Nguyễn Việt T5, sinh năm 1997; Địa chỉ cư trú: khu phố Đ, T, huyện A, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt);;
  • + Bà Lê Thị T6, sinh năm 1955; Địa chỉ cư trú: ấp B, xã Đ, thành phố C, tỉnh Cà Mau (vắng mặt);
  • + Chị Nguyễn Thị P, sinh năm 1972; Địa chỉ cư trú: khóm I, phường F, thành phố C, tỉnh Cà Mau (vắng mặt);
  • + Anh Nguyễn Thanh P1, sinh năm 1974; Địa chỉ cư trú: Khóm I, phường F, thành phố C, tỉnh Cà Mau (vắng mặt);
  • + Chị Nguyễn Thị T7, sinh năm 1971; Địa chỉ cư trú: ấp C, xã A, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu (vắng mặt);
  • + Chị Nguyễn Ngọc T8, sinh năm 1984; Địa chỉ cư trú: ấp X, xã H, thành phố C, tỉnh Cà Mau (vắng mặt);

2

  • + Chị Nguyễn Ngọc G, sinh năm 1986; Địa chỉ cư trú: ấp B, xã L, thành phố C, tỉnh Cà Mau (vắng mặt);
  • + Anh Nguyễn Thanh S, sinh năm 1990; Địa chỉ cư trú: khóm D, phường T, thành phố C, tỉnh Cà Mau (vắng mặt);
  • + Anh Nguyễn Vũ L2, sinh năm 1988; Địa chỉ cư trú: ấp B, xã Đ, thành phố C, tỉnh Cà Mau (vắng mặt);
  • + Chị Nguyễn Ngọc L3, sinh năm 1987; Địa chỉ cư trú: ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (vắng mặt);

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Vào khoảng năm 1976, ông T và bà H được ông Nguyễn Văn T9 (cha ruột bà H) tặng cho phần đất diện tích 35.100m², trong đó quản lý thực tế có 4.000m². Năm 1994, ông T được Ủy ban nhân dân huyện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khi được cấp đất thì nghĩ trong 35.100m² đã có 4.000m2 đất tranh chấp này. Đến năm 2022, nguyên đơn cho con phần đất tranh chấp để nối liền với một công đất đã sang nhượng của ông D, lúc này bắt đầu tranh chấp và ông D không đồng ý ký tên cho nguyên đơn làm sổ đỏ. Khi thực hiện việc đo đạc lại đất thì ông D cũng ký giáp ranh, thời điểm Văn phòng đăng ký đất đai trả kết quả mới phát hiện phần 4000m² này nằm trong trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông D.

Nay ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị H yêu cầu công nhận phần đất có diện tích 4.000m², đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau thuộc quyền sử dụng đất của ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị H. Đồng thời điều chỉnh giấy chứng nhận của ông D sang cho ông T, bà H đứng tên.

* Quá trình giải quyết vụ án ông D trình bày: Nguồn gốc đất tranh chấp của ông Nguyễn Văn T9 cho ông Nguyễn Văn T10, ông T10 chuyển nhượng cho ông Nguyễn Thanh V khoảng năm 1984-1985, đến khoảng năm 1997-1998 ông nhận chuyển nhượng của ông V toàn bộ diện tích 36.200m², giá chuyển nhượng 17 lượng vàng 24k, giao vàng cho ông V trong thời gian 3 năm. Sau khi nhận chuyển nhượng đất kinh tế khó khăn đã đi vay vốn Ngân hàng nên không phát hiện đất thiếu so với quyền sử dụng đất được cấp. Đến năm 2011, ông nhờ địa chính làm sổ đỏ, có đóng 1.950.000 đồng thuế trước bạ và mới phát hiện phần đất 4000m² nằm trong quyền sử dụng đất của ông nhưng lại do ông T quản lý, ông có báo chi bộ chính quyền địa phương nhưng kéo dài nhiều năm. Mãi đến năm 2015, mời địa chính xuống cặm ranh riêng thửa thì mới phát hiện chắc chắc tại thửa 474 diện tích 4000m² nằm trong quyền sử dụng đất của ông thì ông không thống nhất cặm ranh đối với thửa này. Đối với phần ranh đất ông D cũng xác định chỉ quản lý sử dụng đến ranh hiện tại, không quản lý sử dụng phần 4000m² tranh chấp này.

Do đó, đối với yêu cầu của ông T và bà H, ông D không đồng ý mà yêu cầu

3

ông T và bà H trả lại cho ông phần đất 4.000m². Trường hợp ông T và bà H muốn nhận đất thì phải trả lại cho ông giá chuyển nhượng theo hiện tại là 90.000.000 đồng/công lớn với số tiền hơn 270.000.000 đồng, nhưng chỉ yêu cầu 270.000.000 đồng, thuế trước bạ và thuế đất nông nghiệp đã đóng trong vòng 1997-1999 số tiền 30.000.000 đồng.

Đồng thời yêu cầu Tòa án xem xét hợp đồng chuyển nhượng giữa ông D và ông V, việc chuyển nhượng của ông V có làm giấy tay, ông D xác định thời điểm này ông V đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1994, trong giấy tờ ghi sang nhượng hết phần đất và khi sang nhượng hết đất ông V cũng có giao vị trí đất cho ông D canh tác, hai bên ông và ông V đều không phát hiện đất 4.000m² này do ông T canh tác.

* Ông Trần Quốc T1, bà Diệp Mộng T2 thống nhất trình bày: Thống nhất yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, phần đất giữa ông T, bà H và ông D đã có bờ ranh riêng biệt nên yêu cầu Tòa án công nhận đất cho nguyên đơn.

* Bà Trần Thị T3 trình bày: Thống nhất theo yêu cầu phản tố và ý kiến trình bày của bị đơn.

* Bà Quách Thị N1 trình bày: Khoảng 1984-1985, bà và chồng là ông V có nhận chuyển nhượng của ông T10 phần đất trên 26 công tầm lớn, giá 70.000.000 đồng, các bên không đo đạc nhưng có chỉ vị trí cụ thể. Năm 1994, ông V được cấp giấy chứng nhận, năm 1998 vợ chồng bà chuyển nhượng toàn bộ đất cho ông D giá 17 lượng vàng 24k, đã giao vàng xong và vợ chồng bà cũng giao toàn bộ phần đất cho ông D, vị trí cụ thể có bờ ranh riêng, đúng hiện trạng sử dụng và không tiến hành đo đạc nên việc ông D yêu cầu xem xét lại hợp đồng chuyển nhượng đất bà không đồng ý.

* Anh Nguyễn Việt L1, anh Nguyễn Việt H2, anh Nguyễn Việt B, anh Nguyễn Việt A, anh Nguyễn Việt T5 trình bày: Thống nhất với lời trình bày của bà Quách Thị N1.

* Bà Lê Thị T6 trình bày: Bà xác định bà và chồng là ông T10 có phần đất tại ấp T, xã T, huyện Đ, không nhớ diện tích, đất được cha mẹ của ông T10 tặng cho. Khoảng năm 1985-1986, vợ chồng bà sang nhượng toàn bộ đất cho vợ chồng ông V, khi sang nhượng giao diện tích đất theo thực tế sử dụng, lúc này đều có bờ ranh riêng biệt với ông T.

* Đối với anh Trần Quốc K, anh Phạm Văn T4, chị Trần Thị Hồng D1, anh Nguyễn Thanh P1, chị Nguyễn Thị P, chị Nguyễn Thị T7, chị Nguyễn Ngọc T8, chị Nguyễn Ngọc G, anh Nguyễn Thanh S, anh Nguyễn Vũ L2, chị Nguyễn Ngọc L3: Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho các đương sự hợp lệ nhưng các đương sự không có ý kiến hay yêu cầu gì và không tham gia hòa giải, xét xử tại Tòa án.

* Tại phiên tòa:

4

- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn giữ y yêu cầu khởi kiện xác định yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở. Bởi lẽ, phần đất do ông T và bà H trực tiếp quản lý, sử dụng ổn định, công khai từ năm 1976 đến nay không phát sinh tranh chấp nên cần công nhận cho nguyên đơn. Đối với yêu cầu phản tố của bị đơn là không có cơ sở, bởi vì bị đơn được cấp giấy nhưng không phù hợp với diện tích đất thực tế sử dụng và quá trình sử dụng ông D cũng xác định ranh chung với nguyên đơn giáp với phần đất tranh chấp mà nguyên đơn đang quản lý.

- Bị đơn ông D thay đổi một phần yêu cầu phản tố, ông chỉ yêu cầu ông T có trách nhiệm trả số tiền tương đương giá trị ông đã bỏ ra chuyển nhượng diện tích đất 4.000m² là 270.000.000 đồng và 30.000.000 đồng lệ phí trước bạ, thuế đất nông nghiệp, thuế đất vượt hạn điền. Ông không yêu cầu xem xét hợp đồng chuyển nhượng giữa ông và ông V. Bởi vì, ông T là người sử dụng phần đất mà ông được cấp giấy chứng nhận. Hiện tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông không thế chấp vay vốn tại đâu.

- Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu phản tố của ông D, bởi vì phần đất 4.000m² tại thửa số 474 do ông D nhận chuyển nhượng từ ông V và phần đất này được phía bên ông V kê khai cấp giấy chứng nhận, sau đó là cấp cho ông D. Ông T và bà H hoàn toàn không có việc kê khai, đăng ký cấp quyền sử dụng đất của phần đất nêu trên. Việc công nhận đất cho nguyên đơn ảnh hưởng đến quyền lợi ích hợp pháp của ông D, trong khi ông D được cấp đất đúng theo trình tự, thủ tục luật định. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 186, 189, 101, 166, 179, 202, 203 Luật đất đai không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng quy định Bộ luật tố tụng dân sự nên không có kiến nghị và đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng khoản 1 Điều 203 Luật Đất đai; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị H, công nhận phần đất có diện tích 4.000m2 tại ấp T, xã T, huyện Đ thuộc quyền sử dụng của ông Trần Văn T, bà Nguyễn Thị H. Nguyên đơn được quyền liên hệ cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Phạm Văn D về việc buộc ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị H trả số tiền tương đương giá trị đất 270.000.000 đồng và tiền thuế đất nông nghiệp, thuế đất vượt hạn điền và phí trước bạ 30.000.000 đồng.

Án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

5

[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Quách Thị N1, bà Lê Thị T6, anh Nguyễn Việt L1, anh Nguyễn Việt H2, anh Nguyễn Việt B, anh Nguyễn Việt A, anh Nguyễn Việt T5 đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; anh Trần Quốc K, anh Phạm Văn T4, chị Trần Thị Hồng D1, anh Nguyễn Thanh P1, chị Nguyễn Thị P, chị Nguyễn Thị T7, chị Nguyễn Ngọc T8, chị Nguyễn Ngọc G, anh Nguyễn Thanh S, anh Nguyễn Vũ L2, chị Nguyễn Ngọc L3 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai vẫn vắng mặt nên căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đương sự là phù hợp quy định.

Đối với Ủy ban nhân dân huyện Đ, trong thời gian chuẩn bị xét xử Tòa án đưa vào tham gia với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Tuy nhiên, liên quan đến việc có hay không điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông D thì căn cứ vào bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, cơ quan chuyên môn sẽ điều chỉnh hoặc tiến hành cấp đất theo quy định. Do đó, xét thấy không cần thiết để đưa Ủy ban nhân dân huyện Đ vào tham gia tố tụng trong vụ án này.

[2] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Ông T, bà H yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất; Ông D yêu cầu ông T, bà H trả giá trị đất, tiền thuế đất đòng thời yêu cầu xem xét hợp đồng chuyển nhượng giữa ông D với ông V và bà N1. Căn cứ vào khoản 3, khoản 9 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự thì yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn là tranh chấp quyền sử dụng đất, tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

[3] Về nội dung vụ án:

[3.1] Các đương sự đều xác định nguồn gốc phần đất tranh chấp diện tích 4000m², thửa số 561 tờ bản đồ 03 của cụ Nguyễn Văn T9 và cụ Võ Thị T11 khai phá, sau đó tặng cho ông Trần Văn T, bà Nguyễn Thị H. Phần đất trên hiện do ông T, bà H quản lý, sử dụng từ năm 1976 đến nay.

[3.2] Xét yêu cầu khởi kiện nguyên đơn thấy rằng:

Phần đất tranh chấp nguyên đơn đã quản lý sử dụng ổn định từ năm 1976 đến nay không phát sinh tranh chấp. Từ thời điểm ông T10 đến ông V và sau đó đến ông D quản lý phần đất cặp ranh đều không ai đặt ra tranh chấp phần đất nêu trên. Quá trình giải quyết vụ án, ông D cũng đều thừa nhận phần đất này do ông T, bà H sử dụng, giữa ông D với ông T và bà H có bờ ranh riêng biệt, khi ông D nhận chuyển nhượng đất của ông V và bà N1 các bên cũng không thực hiện đo đạc diện tích mà chỉ giao đúng vị trí thực tế sử dụng. Ông D hoàn toàn không biết phần đất tranh chấp nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông, điều này cho thấy, ông D đã xác định diện tích đất mà ông trực tiếp quản lý sử dụng đúng phần đất ông đã sang nhượng của ông V. Mặc dù ông D cho rằng năm 2011 đã phát hiện và yêu cầu ra địa phương nhưng không đưa ra cơ sở chứng minh. Ngược lại, tại biên bản xác minh đối với ông Phan Văn M, ông Trương Thành Đ, ông Phạm Văn N2 (BL 103, 104, 105) đều xác định không nhận được yêu cầu của ông D trước đó, mà chỉ cách nay khoảng 2-3 năm tức năm 2022 khi tiến hành đo đạc đất ông D mới phát hiện và yêu cầu đến địa phương giải quyết, thậm chí ông D vẫn ký xác

6

nhận ranh đất chung khi ông T, bà H tiến hành đo đạc đất vào năm 2022, vị trí ranh ông xác định là giáp với phần đất tranh chấp hiện nay. Điều này phù hợp với Văn bản số 498/CNVPĐKĐĐ ngày 23/4/2024 của Chi nhánh văn phòng Đ1 xác định ông D có tham gia xác định ranh giới, mốc giới thửa đất và ký xác nhận vào Bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất ngày 13/3/2022 và phù hợp với lời thừa nhận của ông D tại phiên tòa. Do đó, đủ cơ sở xác định phần đất tranh chấp thuộc quyền quản lý, sử dụng của ông T, bà H.

[3.3] Xét yêu phản tố của ông D thấy rằng:

Tại phiên tòa, ông D thay đổi một phần yêu cầu phản tố, ông không yêu cầu ông T, bà H trả lại phần đất tranh chấp, không yêu cầu xem xét hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông với ông V, bà N1 mà chỉ yêu cầu ông T, bà H trả lại số tiền 270.000.000 đồng tương đương giá trị đất ông đã bỏ ra nhận chuyển nhượng đất của ông V, bởi vì hiện tại ông T, bà H sử dụng phần đất này. Đồng thời yêu cầu ông T, bà H trả số tiền thuế đất nông nghiệp, thuế đất vượt hạn điền và phí trước bạ 30.000.000 đồng. Việc thay đổi yêu cầu của ông D là tự nguyện, không vượt quá yêu cầu phản tố ban đầu nên được chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, yêu cầu phản tố của ông D không có cơ sở để chấp nhận. Bởi lẽ, phần đất này ông D nhận chuyển nhượng đất từ ông V, bà N1 chứ không phải nhận chuyển nhượng đất từ ông T, bà H nên ông T, bà H không phải chịu trách nhiệm trả tiền từ hợp đồng chuyển nhượng đất giữa ông D và ông V. Đồng thời, hợp đồng các bên đã hoàn thành giao đất, giao vàng xong, ông D đã quản lý canh tác ổn định từ khi nhận chuyển nhượng đất đến nay mà không phát sinh tranh chấp. Mặc khác, ông D cũng không yêu cầu xem xét hợp đồng chuyển nhượng này nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét hợp đồng chuyển nhượng là phù hợp. Đối với số tiền thuế đất nông nghiệp, thuế đất vượt hạn điền và phí trước bạ 30.000.000 đồng, số tiền này ông D thực hiện nghĩa vụ của người sử dụng đất đối với các chính sách pháp luật của Nhà nước, số tiền này liên quan đến hợp đồng chuyển nhượng phần đất giữa ông và ông V, do đó ông yêu cầu ông T phải trả số tiền này là không phù hợp. Đồng thời ông cũng không đưa ra được cơ sở chứng minh số tiền ông bỏ ra đóng thuế trước bạ khi nhận chuyển nhượng đất của ông V là 30.000.000 đồng. Từ những cơ sở phân tích trên, yêu cầu của ông D và đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông D và đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông D chưa đủ cơ sở chấp nhận.

Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn công nhận phần đất diện tích 4.000m² cho ông T, bà H nên cần điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Phạm Văn D tại vị trí đất này là phù hợp.

[4] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[5] Án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26, điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định

7

về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị đơn phải chịu án phí có giá ngạch đối với số tiền yêu cầu không được Tòa án chấp nhận, tuy nhiên, ông D thuộc trường hợp được miễn án phí nên được xét miễn án phí theo quy định.

[6] Về chi phí tố tụng: Căn cứ khoản 1 Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn phải chịu chi phí tố tụng do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận với số tiền 6.096.000 đồng và có nghĩa vụ nộp lại để hoàn trả cho nguyên đơn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 244 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 203 Luật đất đai; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị H. Công nhận phần đất có diện tích 4.000m², thửa số 561, tờ bản đồ 03, đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau thuộc quyền sử dụng của ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị H.
  2. Có các phía tiếp giáp như sau:

    • - Hướng Đông giáp phần đất ông Phạm Văn D, điểm M2M3 = 50,68m, điểm M3M4 = 24,75m;
    • - Hướng Tây giáp đất ông Trần Văn T, điểm M1M5 = 73,52m;
    • - Hướng Nam giáp đất ông Trần Văn T, điểm M4M5 = 46,33m;
    • - Hướng Bắc giáp đất ông Phạm Văn D, điểm M1M2 = 64,30m;
  3. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Phạm Văn D, về việc buộc ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị H trả số tiền tương ứng giá trị phần đất 4.000m² là 270.000.000 đồng và số tiền thuế đất nông nghiệp, thuế đất vượt hạn điền và thuế trước bạ 30.000.000 đồng.

(Kèm theo mảnh đo đạc chỉnh lý thửa đất ngày 26/12/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ1).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật các đương sự có trách nhiệm đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để lập thủ tục đăng ký, kê khai, điều chỉnh, cấp giấy chứng nhận theo đúng quy định pháp luật.

4. Về án phí dân sự: Ông Phạm Văn D được miễn án phí;

8

5. Về chi phí tố tụng: Ông Phạm Văn D phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ số tiền 6.096.000 đồng (sáu triệu không trăm chín mươi sáu nghìn đồng), ông Phạm Văn D có nghĩa vụ nộp lại số tiền trên để hoàn trả cho ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị H.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong đối với tất cả các khoản tiền, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi đối với số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

7. Đương sự có mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN –CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(ĐÃ KÝ)

Nguyễn Ngọc Trúc

9

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 128/2024/DS-ST ngày 22/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp quyền sử dụng đất, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 128/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp quyền sử dụng đất, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: quyền sử dụng đất, đất sử dụng ổn định lâu dài, không phát sinh tranh chấp, một bên có giấy chứng nhận, một bên quản lý sử dụng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger