Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 18

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 128/2025/HS-ST

Ngày: 02-12-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 18-THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết .

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Kim Phi;
  2. Bà Nguyễn Thị Lan.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 18-Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 18-Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Minh Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 18-Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 116/2025/TLST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 131/2025/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Trần Vương T, sinh ngày 01/4/1998, tại tỉnh Bình Dương; hộ khẩu thường trú: Tổ C, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương (nay là tổ C, khu phố C, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh); nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; con ông Trần Văn B, sinh năm 1974 và bà Dương Quý A, sinh năm 1970; bị cáo có vợ Nguyễn Thanh N, sinh năm 2000; có 01 con Trần Nguyễn Khả N1, sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân:

  • - Ngày 12/5/2015 bị cáo bị Công an phường T, tỉnh Bình Dương (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh) xử phạt hành chính số tiền 750.000 đồng với hành vi trộm cắp tài sản.
  • - Ngày 23/12/2015 bị cáo bị Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương (nay là Tòa án nhân dân khu vực 18-Thành phố Hồ Chí Minh) tuyên phạt 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/7/2019 và chấp hành xong án phí hình

2

sự sơ thẩm ngày 04/5/2016. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/01/2025 đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Đặng An T1, sinh ngày 15/9/1995, tại tỉnh Sóc Trăng; hộ khẩu thường trú: Ấp D, thị trấn L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng (nay là xã L, Thành phố Cần Thơ); chỗ ở: Khu phố P, phường H, thành phố B, tỉnh Bình Dương (nay là phường H, Thành phố Hồ Chí Minh); nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt nam; giới tính: Nam; con ông Đặng Văn T2, sinh năm 1963 và bà Lý Thị Á, sinh năm 1963; bị cáo có vợ Trương Thị Ngọc H, sinh năm 1997 (đã ly hôn); có 01 con Đặng Gia H1, sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/12/2024 đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

3. Phùng Đăng T3, sinh ngày 26/3/1997, tại Hải Phòng; hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Tổ C, khu phố A, phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường V, Thành phố Hồ Chí Minh); nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; con ông Phùng Văn T4, sinh năm 1962 và bà Nguyễn Thị T5, sinh năm 1964; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/01/2025 đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Đặng Văn T2, sinh năm 1963; HKTT: Ấp D, thị trấn L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng (nay là xã L, Thành phố Cần Thơ); chỗ ở: Nhà trọ Phạm Xuân T6, khu phố P, phường H, thành phố B, tỉnh Bình Dương (nay là phường H, Thành phố Hồ Chí Minh).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đặng An T1 và Phùng Đăng T3 là bạn bè quen biết ngoài xã hội và đều là các đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy. Nguồn ma túy mà T1 và T3 sử dụng là mua của Trần Vương T và đối tượng tên N2 (chưa rõ nhân thân, lai lịch).

Khoảng 17 giờ ngày 30/12/2024 T1 sử dụng điện thoại di động hiệu Redme C55 gắn sim thuê bao số 0876348587, đăng ký tài khoản zalo “Đ A T” của T1 liên hệ với tài khoản zalo tên “Vương Thanh” trên điện thoại di động hiệu Iphone Xmax gắn sim thuê bao số 0708223236 của T hỏi mua 700.000 đồng ma túy đá để đem về sử dụng thì T hẹn T1 đến khu vực ngã tư đường D thuộc khu phố C, phường T để bán. Sau đó T1 điều khiển xe môt tô hiệu Yamaha Sirius biển số 93T-6622 đến điểm hẹn gặp T mua được 01 gói nylon hàn kín chứa ma túy đá với giá 700.000 đồng rồi cầm gói ma túy đá trong lòng bàn tay trái điều khiển xe quay về phòng trọ. Đến khoảng 18 giờ 15 phút cùng ngày khi T1 điều khiển xe mô tô biển số 93T-6622 cầm theo ma túy đá về đến đoạn đường H 045 thuộc khu phố A, phường H thì bị lực lượng Công an phường H phối hợp với Công an thành phố B tuần tra, phát hiện nghi vấn nên đã tiến

3

hành kiếm tra. Qua kiểm tra lực lượng công an đã thu giữ 01 gói nylon hàn kín chứa chất tinh thể màu trắng thì T1 khai nhận đây là ma túy đá của T1 vừa mua được của Trần Vương T đem về để sử dụng nên lực lượng công an tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Đặng An T1. Sau đó vụ việc được chuyển giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B giải quyết theo thẩm quyền.

Vật chứng thu giữ: 01 đoạn nylon hàn kín bên trong có chứa tinh thể màu trắng (M1); 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển số 93T-6622; 01 điện thoại di động hiệu Redme C55 gắn sim thuê bao số 0876348587.

Ngày 31/12/2024 cơ quan Công an tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Vương T tại nhà không số, tổ F, đường D, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh), thu giữ được: 01 túy nylon màu trắng miệng kéo dính chứa tinh thể màu trắng (M2); 01 điện thoại di động hiệu iphone Xmax gắn sim thuê bao số 0708223236; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã tiến hành bắt người trong trường hợp khẩn cấp đối với Trần Vương T.

Theo kết luận giám định số 293/KL-PC09 (MT) ngày 08/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Mẫu chất tinh thể màu trắng (thu giữ của Đặng An T1) gửi giám định là ma túy, khối lượng M1=0,5531 gam, loại Methamphetamine; khối lượng còn lại sau giám định là 0,5120 gam loại Methamphetamine.

Theo kết luận giám định số 319/KL-PC09 (MT) ngày 07/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng (thu giữ tại nhà của Trần Vương T) gửi giám định là ma túy, khối lượng 9,5214 gam loại Methamphetamine; khối lượng còn lại sau giám định là 9,4482 gam loại Methamphetamine.

Tại Cơ quan điều tra T khai: T là đối tượng nghiện ma túy đá và không có nghề nghiệp ổn định. Nguồn ma túy mà T có để sử dụng là mua từ đối tượng tên B1 (chưa rõ lai lịch) ở khu vực ngã tư T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Khoảng đầu tháng 12/2024 T mua ma túy của B1 về để vừa sử dụng vừa bán lại cho người khác để kiếm lời. Sáng ngày 25/12/2025 T đến gặp B1 và mua 1.000.000 đồng ma túy đá rồi đem về nhà cất giữ; khoảng 18 giờ ngày 30/12/2024 T bán cho T1 01 gói ma túy đá với giá 700.000 đồng. Khoảng 05 giờ ngày 31/12/2024 T tiếp tục đến gặp B1 mua 3.500.000 đồng ma túy đem về nhà cất giữ và có lấy ra một ít sử dụng một mình. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày lực lượng công an tiến hành khám xét nhà của T và thu giữ được 9,5214 gam ma túy đá (loại Methamphetamine) mà T cất dấu nhằm mục đích sử dụng và bán cho người khác.

Đặng An T1 khai: Đặng An T1 và Phùng Đăng T3 là bạn bè quen biết nhau và cùng sử dụng trái phép chất ma túy từ đầu năm 2023. Trong khoảng thời gian từ đầu tháng 12/2024 đến ngày bị bắt T1 đã 03 lần điện thoại nhờ T3 mua giùm ma túy đem cho T1 về rồi cùng nhau sử dụng, cụ thể như sau:

4

  1. Lần 1: Khoảng đầu tháng 12/2024, T1 nhờ T3 mua giùm 300.000 đồng ma túy để sử dụng thì T3 đồng ý. Sau đó T3 liên lạc với N2 và mua được 01 gói ma túy đá với giá 300.000 đồng rồi cầm ma túy đến phòng trọ đưa cho T1 thì T1 lấy ra sử dụng hết cùng với T3.
  2. Lần 2: Khoảng 10 giờ ngày 12/12/2024 T1 nhờ T3 mua giùm 300.000 đồng ma túy để sử dụng thì T3 đồng ý. Sau khi mua được ma túy T3 đem đến phòng trọ đưa cho T1. Lúc này do có công việc T3 đi về nên T1 một mình sử dụng hết ma túy.
  3. Lần 3: Khoảng 19 giờ ngày 28/12/2024 T1 tiếp tục nhờ T3 mua giùm 300.000 đồng ma túy để sử dụng thì T3 đồng ý rồi mua ma túy đem đến phòng trọ đưa cho T1 thì T1 lấy ra sử dụng hết cùng với T3.

Theo đó cơ quan công an đã triệu tập Phùng Đăng T3 làm việc. Tại cơ quan công an T3 khai nhận toàn bộ hành vi mua giùm ma túy cho T1 và tổ chức sử dụng ma túy cùng với T1. Sau đó cơ quan cảnh sát điều tra thành phố B đã tiến hành bắt người trong trường hợp khẩn cấp đối với Phùng Đăng T3.

Đối với đối tượng tên N2 (chưa rõ lai lịch) có hành vi bán ma túy cho Phùng Đăng T3, đối tượng tên B1 (chưa rõ lai lịch) có hành vi bán ma túy cho Trần Vương T do chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên chưa có căn cứ giải quyết. Khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau.

Vật chứng thu giữ:

01 điện thoại di động hiệu Honor màu đen gắn sim thuê bao số 0896907062.

Xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển số 93T-6622 do bà Nguyễn Thị H2 (sinh năm 1973, địa chỉ: Tổ G, ấp X, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước) đứng tên đăng ký. Khoảng đầu năm 2014 bà H2 bán xe cho ông Đặng Văn T2, sinh năm 1963; địa chỉ: thị trấn L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng-là cha ruột của Đặng An T1 nhưng không làm hợp đồng mua bán. Sáng ngày 30/12/2024 T1 hỏi mượn xe của ông T2 để đi làm. Ngày 30/6/2025 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh B xử lý vật chứng giao trả xe cho ông Đặng Văn T2.

Bản Cáo trạng số 41/CT-VKS ngày 11/8/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 18-Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Trần Vương T về tội “mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; bị cáo Đặng An T1 về tội “tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255 và điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; bị cáo Phùng Đăng T3 về tội “tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 18-Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quan điểm và quyết định truy tố như Cáo trạng đối với các bị cáo và đề nghị:

- Về hình phạt:

5

Căn cứ điểm b, i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo T từ 10 (mười) năm đến 11 (mười một) năm tù.

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo T1 từ 08 (tám) năm đến 09 (chín) năm tù.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo T1 từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù.

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo T3 từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng đến 08 (tám) năm tù.

- Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Áp dụng các Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với 01 bì thư niêm phong ghi số 293/PC09/PC09 có chữ ký của Bùi Văn T7 (người chứng kiến) và hình dấu đỏ niêm phong của Phòng K Công an tỉnh B; 01 bì thư niêm phong ghi số 319/PC09 có chữ ký của Trần Vương T (người chứng kiến) và hình dấu đỏ niêm phong của Phòng K Công an tỉnh B; 01 sim thuê bao số 0708223236 (không kiểm tra được số seri); 01 sim thuê bao số [...] (không kiểm tra được số seri); 01 sim thuê bao số 08763485879 (không kiểm tra được số seri); 02 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá. Tất cả các vật chứng trên là công cụ, phương tiện được các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, đề nghị tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone X (máy bị trầy xước không kiểm tra được model, số IMEI, tại thời điểm giao nhận máy không khởi động được); 01 điện thoại di động hiệu Honor màu đen (máy bị trầy xước không kiểm tra được model, số IMEI, tại thời điểm giao nhận máy không khởi động được); 01 điện thoại di động hiệu Redme C55 (máy bị trầy xước không kiểm tra được model, số IMEI, tại thời điểm giao nhận máy không khởi động được). Đây là công cụ, phương tiện các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên đề nghị tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

Tại phiên tòa: Các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu, ăn năn, hối cải về hành vi đã gây ra. Các bị cáo không tranh luận gì về tội danh, điều khoản truy tố, mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đưa ra trong bản luận tội. Lời nói sau cùng: Các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố B, cơ quan Cảnh sát điều tra-Công an Thành phố H và Điều tra viên, Cơ quan Viện kiểm sát nhân dân khu vực 18, Kiểm sát viên, thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa trong quá trình điều

6

tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa không bị ai khiếu nại gì về việc tiến hành các hoạt động tố tụng, thu thập chứng cứ đối với vụ án nên toàn bộ hoạt động tố tụng, chứng cứ thu thập có trong hồ sơ đều hợp pháp.

[2] Lời khai của các bị cáo Trần Vương T, Đặng An T1 và Phùng Đăng T3 phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, các lời khai thống nhất với nhau về quá trình thực hiện hành vi phạm tội, phù hợp với kết luận giám định và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ những chứng cứ nêu trên có căn cứ kết luận:

Khoảng 18 giờ ngày 30/12/2024 tại khu vực ngã tư đường D thuộc khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh) bị cáo Trần Vương T đã có hành vi bán trái phép 0,5531 gam ma túy (loại Methamphetamine) cho bị cáo Đặng An T1 với giá 700.000 đồng. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của bị cáo Trần Vương T tại nhà không số, tổ F, đường D, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh), lực lượng công an thu giữ 9,5214 gam ma túy (loại Methamphetamine) mà T cất dấu nhằm mục đích bán lại cho người khác.

Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 30/12/2024 tại đoạn đường H thuộc khu phố A, phường H, thành phố B, tỉnh Bình Dương (nay là phường H, Thành phố Hồ Chí Minh) bị cáo Đặng An T1 đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,5531 gam ma túy (loại Methamphetamine) trên người nhằm mục đích để sử dụng. Trong khoảng thời gian từ đầu tháng 12/2024 đến ngày 28/12/2024 bị cáo Phùng Đăng T3 đã có hành vi 03 lần mua giùm ma túy cho bị cáo Đặng An T1 đem về để sử dụng. Trong đó có 02 lần (đầu tháng 12/2024 và ngày 28/12/2024) P mua giùm ma túy đem đến cho T1 rồi cùng T1 sử dụng hết ma túy mua được.

[3] Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi mua bán trái phép chất ma tuý, tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý và tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma tuý. Tuy nhiên, chỉ vì hám lợi, và nhằm thoả mãn nhu cầu cá nhân mà các bị cáo đã thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma tuý, tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý và tàng trữ trái phép chất ma túy với lỗi cố ý. Bị cáo T3 cung cấp ma tuý để T3 và T1 sử dụng, bị cáo T1 cung cấp địa điểm, dụng cụ sử dụng ma túy để T1 và T3 cùng sử dụng ma túy 02 lần. Bị cáo T bán ma tuý cho bị cáo T1, ngoài ra bị cáo T khai nhận trước đó đã bán ma túy cho một số đối tượng khác, lời khai của bị cáo T phù hợp với lời khai của bị cáo T1 tại phiên tòa là bị cáo T1 biết T có bán ma túy nên liên hệ T để mua ma túy; ngoài ra khi khám xét chỗ ở của bị cáo T phát hiện T cất dấu 9,5214 gam ma túy loại Methamphetamine để nhằm mục đích sử dụng và bán cho các con nghiện khác. Bị cáo Đặng An T1 bị bắt quả tang tàng trữ trái phép 0,5531 gam ma túy (loại Methamphetamine) trong người.

Bản kết luận giám định số 293/KL-PC09 (MT) ngày 08/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Mẫu chất tinh thể màu trắng (thu giữ của

7

Đặng An T1) gửi giám định là ma túy, khối lượng M1=0,5531 gam, loại Methamphetamine; khối lượng còn lại sau giám định là 0,5120 gam loại Methamphetamine; kết luận giám định số 319/KL-PC09 (MT) ngày 07/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng (thu giữ tại nhà của Trần Vương T) gửi giám định là ma túy, khối lượng 9,5214 gam loại Methamphetamine; khối lượng còn lại sau giám định là 9,4482 gam loại Methamphetamine. Hành vi của bị cáo Trần Vương T đã cấu thành tội “mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự. Hành vi của bị cáo Đặng An T1 đã cấu thành tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 và tội “tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự. Hành vi cảu bị cáo Phùng đăng T3 đã cấu thành tội “tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.

Do đó, Cáo trạng số 41/CT-VKS-HS ngày 11/8/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 18-Thành phố Hồ Chí Minh truy tố đối với các bị cáo như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[4] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo như sau: Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử cân nhắc giảm một phần hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Đối với bị cáo Đặng An T1 bị xét xử về hai tội nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 55 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt của hai tội đối với bị cáo.

[6] Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

Đối với 01 bì thư niêm phong ghi số 293/PC09/PC09 có chữ ký của Bùi Văn T7 (người chứng kiến) và hình dấu đỏ niêm phong của Phòng K Công an tỉnh B; 01 bì thư niêm phong ghi số 319/PC09 có chữ ký của Trần Vương T (người chứng kiến) và hình dấu đỏ niêm phong của Phòng K Công an tỉnh B; 01 sim thuê bao số 0708223236 (không kiểm tra được số seri); 01 sim thuê bao số [...] (không kiểm tra được số seri); 01 sim thuê bao số 08763485879 (không kiểm tra được số seri); 02 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá. Tất cả các vật chứng trên là công cụ, phương tiện được các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, là vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone X (máy bị trầy xước không kiểm tra được model, số IMEI, tại thời điểm giao nhận máy không khởi động được); 01 điện thoại di động hiệu Honor màu đen (máy bị trầy xước không kiểm tra được model, số IMEI, tại thời điểm giao nhận máy không khởi động được); 01 điện thoại di động hiệu Redme C55 (máy bị trầy xước không kiểm tra được model, số IMEI, tại thời điểm giao nhận máy không khởi động được). Đây

8

là công cụ, phương tiện các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

Đối với đối tượng tên N2 (chưa rõ lai lịch) có hành vi bán ma túy cho Phùng Đăng T3, đối tượng tên B1 (chưa rõ lai lịch) có hành vi bán ma túy cho Trần Vương T do chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên chưa có căn cứ giải quyết. Khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau.

[7] Ý kiến luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về phần tội danh, điều khoản áp dụng là có căn cứ phù hợp với các tình tiết của vụ án nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[8] Án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Trần Vương T phạm tội “mua bán trái phép chất ma túy); bị cáo Đặng An T1 phạm tội “tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “tàng trữ trái phép chất ma túy”; bị cáo Phùng Đăng T3 phạm tội “tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

1.1. Căn cứ điểm b, i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Vương T 10 (mười) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/01/2025.

1.2. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 255 và điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 55, Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Đặng An T1 08 (tám) năm tù về tội “tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”.Tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo T1 phải chấp hành hình phạt chung là 09 (chín) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 30/12/2024.

1.3. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Phùng Đăng T3 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/01/2025.

2. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước đối với: 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone Xmax (máy bị trầy xước không kiểm tra được model, số IMEI, tại thời điểm giao nhận máy không khởi động được); 01 điện thoại di động hiệu Honor màu đen (máy bị trầy xước không kiểm tra được model, số IMEI, tại thời

9

điểm giao nhận máy không khởi động được); 01 điện thoại di động hiệu Redme C55 (máy bị trầy xước không kiểm tra được model, số IMEI, tại thời điểm giao nhận máy không khởi động được).

Tịch thu tiêu hủy đối với: 01 bì thư niêm phong ghi số 293/PC09/PC09 có chữ ký của Bùi Văn T7 (người chứng kiến) và hình dấu đỏ niêm phong của Phòng K Công an tỉnh B; 01 bì thư niêm phong ghi số 319/PC09 có chữ ký của Trần Vương T (người chứng kiến) và hình dấu đỏ niêm phong của Phòng K Công an tỉnh B; 01 sim thuê bao số 0708223236 (không kiểm tra được số seri); 01 sim thuê bao số [...] (không kiểm tra được số seri); 01 sim thuê bao số 08763485879 (không kiểm tra được số seri); 02 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá.

(theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 10/9/2025 của Phòng Thi hành án dân sự khu vực 18-Thành phố Hồ Chí Minh).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Các bị cáo Trần Vương T, Đặng An T1, Phùng Đăng T3, mỗi bị cáo phải nộp số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - VKSND Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - VKSND khu vực 18;
  • - Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Phòng PV06 - CA Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Thi hành án dân sự Tp Hồ Chí Minh;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Tuyết

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 128/2025/HS-ST ngày 02/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 18-THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về mua bán trái phép chất ma túy; tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 128/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy; Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 18-THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Vương T phạm tộ "mua bán trái phép chất ma túy"; Đặng An T phạm tội "tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy" và "tàng trữ trái phép chất ma túy"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger