Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 128/2025/DS-PT

Ngày: 25-3-2025

V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

  • - Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

    Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn A Đam

    Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thành Lập

    Bà Đinh Cẩm Đào

  • - Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Thế Bắc là Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.

  • - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Từ Thanh Thuỳ - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 591/2024/TLPT-DS ngày 20 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 200/2024/DS-ST ngày 29 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cái Nước bị kháng cáo.

  • - Nguyên đơn: Ông Lâm Văn T, sinh năm 1985

    Địa chỉ: Số A, đường N, khóm H, phường E, thành phố C, tỉnh Cà Mau.

    Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Du Thị B, sinh năm 1980 (theo văn bản ủy quyền ngày 01/4/2024, có mặt).

    Địa chỉ: Số G đường Đ, khóm D, phường I, thành phố C, tỉnh Cà Mau.

  • - Bị đơn: 1/ Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1990

    Địa chỉ: Ấp S, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau

    Người đại diện hợp pháp của ông N: Ông Phạm Xuân K, sinh năm 1977 (theo văn bản ủy quyền ngày 29/5/2024, có mặt).

    Địa chỉ: Số G đường C, phường E, thành phố C, tỉnh Cà Mau.

  • 2/ Bà Dương Hồng T1, sinh năm 1993

    Địa chỉ: Ấp S, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau

    Người đại diện hợp pháp của bà T1: Ông Hồ Vũ P, sinh năm 1980 (theo văn bản ủy quyền ngày 30/5/2024, có mặt).

    Địa chỉ: Đường N, khóm D, phường B, thành phố C, tỉnh Cà Mau).

Người kháng cáo: Ông Nguyễn Văn N, bà Dương Hồng T1 là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn ông Lâm Văn T và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn thống nhất trình bày:

Vào ngày 07/3/2022, ông T có cho vợ chồng ông Nguyễn Văn N và bà Dương Hồng T1 vay số tiền 1.600.000.000 đồng (một tỷ sáu trăm triệu đồng), lãi suất 02%/tháng, lãi trả đầu mỗi tháng, thời hạn vay là 3 tháng. Để đảm bảo cho hợp đồng vay nên vào ngày 07/3/2022, ông N có làm biên nhận cầm cố tài sản cho ông T, đến ngày 09/3/2022 ông N và bà T1 tiếp tục làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất phần đất thuộc thửa số: 252, tờ bản đồ số 14, có diện tích 1.953,6m² toạ lạc tại ấp B, xã L, thành phố C, tỉnh Cà Mau theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CR 275210, do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh C cấp ngày 26/4/2019 cho ông Lê Quốc T2, đã thay đổi chủ sử dụng sang tên ông Nguyễn Văn N ngày 12/01/2022. Ông T đã chuyển cho ông N số tiền 1.568.000.000 đồng, ông T giữ lại 32.000.000 đồng là lãi của tháng đầu.

Đối với phần đất ông N cầm cố và làm hợp đồng chuyển nhượng cho ông T thì trước đây là của ông Lê Quốc T2, sau đó ông T2 thế chấp cho ông Lê Hy Thế P1 và bà Nguyễn Thảo N1 để vay tiền nhưng ông T2 đã làm hợp đồng chuyển nhượng cho ông P1 và bà N1. Sau đó, ông P1 và bà N1 đã chuyển nhượng phần đất này cho ông Nguyễn Quốc N2 và bà Trần Tú M. Sau đó ông N2 và bà M đã chuyển nhượng lại cho ông Nguyễn Văn N và ông N đã được ghi nhận thay đổi chủ sử dụng từ ngày 12/01/2022. Đến ngày 09/3/2022 ông N và bà T1 làm hợp đồng chuyển nhượng lại cho ông T để đảm bảo cho hợp đồng vay.

Vào khoảng tháng 11 năm 2021 ông Lê Quốc T2 có tranh chấp với ông P1 và bà N1 và được Toà án nhân dân thành phố Cà Mau thụ lý vào ngày 26/11/2021 nhưng ông T không biết. Đến khoảng đầu năm 2023 ông T mới biết do Toà án nhân dân thành phố Cà Mau mời ông T làm việc và đưa ông T vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án, tuy nhiên ông T không yêu cầu Toà án giải quyết đối với số tiền ông N đã vay mà ông T và ông N tự thoả thuận.

Đến ngày 31/5/2023 Toà án nhân dân thành phố Cà Mau đã xét xử tại bản án số 123/2023/DS-ST tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn N và bà Dương Hồng T1 với ông T là vô hiệu, buộc ông T trả lại bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau khi bản án có hiệu lực ông T đã giao lại bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cà Mau. Từ khi vay cho đến nay ông N và bà T1 đã trả cho ông T tổng số tiền lãi là 244.000.000 đồng, chưa trả vốn.

Nay ông Lâm Văn T yêu cầu ông Nguyễn Văn N và bà Dương Hồng T1 có nghĩa vụ liên đới trả cho ông T số tiền nợ gốc là 1.600.000.000 đồng và tiền lãi là 837.520.000 đồng (tính từ ngày 09/3/2022 đến ngày 25/10/2024 là 31 tháng 16 ngày với lãi suất 20%/năm). Tổng vốn và lãi là 2.437.520.000 đồng, trừ đi số tiền lãi ông N đã đóng là 244.000.000 đồng, số tiền còn lại ông T yêu câu ông N và bà T1 phải có nghĩa vụ tiếp tục trả là 2.193.520.000 đồng (hai tỷ một trăm chín mươi ba triệu năm trăm hai mươi nghìn đồng).

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa ông Phạm Xuân K là người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn N trình bày:

Đối với yêu cầu khởi kiện của ông Lâm Văn T thì ông Nguyễn Văn N có ý kiến như sau:

Thứ nhất: Đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của N cầm cố và lập hợp đồng chuyển nhượng cho ông T là tài sản riêng của ông N. Ông N mượn tiền của ông T để kinh doanh mua bán xe ô tô cũ, không liên quan đến vợ ông N. Đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất bà T1 ký tên để đủ thủ tục chứ bà T1 không nhận tiền từ ông T. Việc ông N cầm cố giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T thì bà T1 không biết.

Thứ hai: Ông N và ông T là bạn bè với nhau, nên vào ngày 07/3/2022 ông N có vay ông T số tiền 1.600.000.000 đồng (một tỷ sáu trăm triệu đồng), không tính lãi suất, ông N có làm giấy cầm cố đất và hợp đồng chuyển nhượng để đảm bảo cho số tiền đã vay, sau đó ông N trả dần cho ông T được 244.000.000 đồng, số tiền nợ còn lại là 1.356.000.000 đồng. Trước khi mượn giữa ông N và ông T có thoả thuận về lãi suất tuy nhiên đến khi làm hợp đồng cầm cố thì ông T không tính lãi.

Thứ ba: Sau khi bản án của Toà án nhân dân thành phố Cà Mau có hiệu lực giữa ông T và ông N đã thoả thuận với nhau và có lập thành văn bản tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cà Mau, với nội dung: Theo bản án của Toà án nhân dân thành phố Cà Mau thì ông T2 có nghĩa vụ trả cho ông P1 và bà N1 số tiền 898.590.000 đồng, ông P1 và bà N1 có nghĩa vụ trả cho ông N số tiền 1.649.320.000 đồng. Do dó, ông N và ông T thoả thuận ông T sẽ nhận số tiền 898.590.000 đồng mà ông T2 trả cho ông P1 và bà N1, phần còn lại sẽ nhận từ ông P1 và bà N1 đến khi đủ 1.600.000.000 đồng, nhận tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cà Mau khi ông T2 và ông P1, bà N1 nộp cho Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cà Mau. Giữa ông N và ông T đã thoả thuận việc chuyển quyền yêu cầu thi hành án tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cà Mau, nay ông T khởi kiện để tiếp tục yêu cầu số tiền trên thì ông N không đồng ý.

Từ những lý do trên ông N không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông T đối với ông N và bà T1.

Tại bảng tự khai và biên bản hòa giải cùng ngày 30/5/2024 ông Hồ Vũ P là người đại diện theo ủy quyền của bà Dương Hồng T1 trình bày:

Bà Dương Hồng T1 không đồng ý với yêu cầu của ông T với lý do:

Phần đất của ông N cầm cố và lập hợp đồng chuyển nhượng cho ông T là tài sản riêng của ông N. Ông N cầm cố đất là do cá nhân ông N tự thực hiện, ông N nhận tiền từ ông T để ông N tự đi xử lý công việc riêng của ông N, không phục vụ cho công việc chung của gia đình. Bản thân bà T1 không có nhận tiền và cũng không có sử dụng tiền từ việc ông N cầm cố đất cho ông T. Việc bà T1 ký tên vào trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất do phòng C chứng thực ngày 09/3/2022, số chứng thực 3517, quyền số 02/2022 TP/CC-SCC/HĐGD là do phía Văn phòng Công

chứng nhận định sai về tài sản chung và tài sản riêng nên Văn phòng Công chứng yêu cầu bà T1 ký tên. Ông N chỉ nhờ bà T1 ký tên để hợp thức hoá việc cầm cố đất với ông T, việc cầm cố đất giữa ông N và ông T bà T1 không có bất cứ quyền lợi nào. Do đó, bà T1 không thống nhất cùng có trách nhiệm với ông N trả tiền cho ông T.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 200/2024/DS-ST ngày 29 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cái Nước quyết định:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Lâm Văn T đối với ông Nguyễn Văn N và bà Dương Hồng T1.

Buộc ông Nguyễn Văn N và bà Dương Hồng T1 có nghĩa vụ liên đới trả cho ông Lâm Văn T số tiền nợ 2.193.520.000 đồng (hai tỷ một trăm chín mươi ba triệu năm trăm hai mươi nghìn đồng), trong đó vốn là 1.600.000.000 đồng, lãi là 593.520.000 đồng.

Kể từ ngày ông T có đơn yêu cầu thi hành án, ông N và bà T1 không thi hành khoản tiền nêu trên thì ông N và bà T1 phải trả lãi đối với số tiền chậm thi hành theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ thi hành án, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 12/11/2024, ông Nguyễn Văn N, bà Dương Hồng T1 có đơn kháng cáo, yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm sửa toàn bộ bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Nguyên đơn, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn thống nhất trình bày: Giữ nguyên yêu cầu đơn khởi kiện, đồng ý với bản án dân sự sơ thẩm số 200/2024/DS-ST ngày 29/10/2024 của Toà án nhân dân huyện Cái Nước. Yêu cầu ông Nguyễn Văn N và bà Dương Hồng T1 có nghĩa vụ liên đới trả cho ông T số tiền nợ gốc là 1.600.000.000 đồng và tiền lãi là 837.520.000 đồng (tính từ ngày 09/3/2022 đến ngày 25/10/2024 là 31 tháng 16 ngày với lãi suất 20%/năm). Tổng vốn và lãi là 2.437.520.000 đồng, trừ đi số tiền lãi ông N đã đóng là 244.000.000 đồng, số tiền còn lại ông T yêu câu ông N và bà T1 phải có nghĩa vụ tiếp tục trả là 2.193.520.000 đồng (hai tỷ một trăm chín mươi ba triệu năm trăm hai mươi nghìn đồng). Không đồng ý với nội dung kháng cáo của các bị đơn.

- Bị đơn, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày: Không đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm số 200/2004/DS-ST ngày 29/10/2024 của Toà án nhân dân huyện Cái Nước với các lý do sau:

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông cầm cố và lập hợp đồng chuyển nhượng cho ông T là tài sản riêng của ông N. Ông N mượn tiền của ông T để kinh

doanh mua bán xe ô tô cũ, không liên quan đến vợ ông N. Đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất bà T1 ký tên để đủ thủ tục chứ bà T1 không nhận tiền từ ông T. Việc ông N cầm cố giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T thì bà T1 không biết.

Thứ hai: Ông N và ông T là bạn bè với nhau, nên vào ngày 07/3/2022 ông N có vay ông T số tiền 1.600.000.000 đồng (một tỷ sáu trăm triệu đồng), không tính lãi suất, ông N có làm giấy cầm cố đất và hợp đồng chuyển nhượng để đảm bảo cho số tiền đã vay, sau đó ông N trả dần cho ông T được 244.000.000 đồng, số tiền nợ còn lại là 1.356.000.000 đồng. Trước khi mượn giữa ông N và ông T có thoả thuận về lãi suất tuy nhiên đến khi làm hợp đồng cầm cố thì ông T không tính lãi.

Thứ ba: Sau khi bản án của Toà án nhân dân thành phố Cà Mau có hiệu lực giữa ông T và ông N đã thoả thuận với nhau và có lập thành văn bản tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cà Mau, với nội dung: Theo bản án của Toà án nhân dân thành phố Cà Mau thì ông T2 có nghĩa vụ trả cho ông P1 và bà N1 số tiền 898.590.000 đồng, ông P1 và bà N1 có nghĩa vụ trả cho ông N số tiền 1.649.320.000 đồng. Do dó, ông N và ông T thoả thuận ông T sẽ nhận số tiền 898.590.000 đồng mà ông T2 trả cho ông P1 và bà N1, phần còn lại sẽ nhận từ ông P1 và bà N1 đến khi đủ 1.600.000.000 đồng, nhận tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cà Mau khi ông T2 và ông P1, bà N1 nộp cho Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cà Mau. Giữa ông N và ông T đã thoả thuận việc chuyển quyền yêu cầu thi hành án tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cà Mau, nay ông T khởi kiện để tiếp tục yêu cầu số tiền trên thì ông N không đồng ý.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử tiến hành đúng theo quy định của pháp luật tố tụng và các đương sự cũng chấp hành đúng với quyền và nghĩa vụ của các đương sự được pháp luật quy định.

Về nội dung: Áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của người tham gia tố tụng, của Kiểm sát viên, HĐXX nhận định:

[1] Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Văn N và bà Dương Hồng T1 trong thời hạn luật định, hợp lệ nên được chấp nhận xem xét, giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Tại phiên toà nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu đơn khởi kiện, không có kháng cáo bản án sơ thẩm. Đối với các căn cứ kháng cáo bị đơn trình bày tại phiên toà nguyên đơn không đồng ý, yêu cầu giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[3] Xét thấy, tại phiên toà các người đại diện hợp pháp của bị đơn Nguyễn Văn N, bà Dương Hồng T1 là giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo, yêu cầu sửa bản án sơ thẩm.

[4] Qua xem xét các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ, lời trình bày của người đại diện hợp pháp cho bị đơn tại phiên toà hôm nay, Hội đồng xét xử xét thấy: Đối với số tiền vay, quá trình xét xử ông N xác định vào ngày 07/3/2022 giữa ông T và ông N có lập biên nhận cầm cố tài sản, đến ngày 09/3/2022 ông N và bà T1 làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông T được công chứng tại Văn phòng C1 mục đích để ông N vay ông T số tiền 1.600.000.000 đồng, ông N đã nhận đủ tiền từ ông T.

Đối với kháng cáo cho rằng vào ngày 07/3/2022, ông N có vay ông T số tiền 1.600.000.000 đồng (một tỷ sáu trăm triệu đồng), không tính lãi suất, ông N có làm giấy cầm cố đất và hợp đồng chuyển nhượng để đảm bảo cho số tiền đã vay, sau đó ông N trả dần cho ông T được 244.000.000 đồng, số tiền nợ còn lại là 1.356.000.000 đồng. Trước khi mượn giữa ông N và ông T có thoả thuận về lãi suất tuy nhiên đến khi làm hợp đồng cầm cố thì ông T không tính lãi. Qua xem xét các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của các đương sự tại phiên toà hôm nay, xét thấy: Tại bản án dân sự số 123/2023/DS-ST ngày 31/5/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau và bản tự khai ngày 24/4/2023 của bà Dương Hồng T1 gửi cho Tòa án nhân thành phố Cà Mau có nội dung ông N cần vốn làm ăn nên đã thế chấp quyền sử dụng đất nêu trên cho ông Lâm Văn T, ông N sinh năm 1985, địa chỉ khóm H, phường H, thành phố C để vay số tiền 1.600.000.000 đồng, với lãi suất 2%/tháng, sau khi xét xử sơ thẩm thì ông N, bà T1 không có kháng cáo bản án trên.

Từ đó cho thấy, trong quá trình giải quyết vụ án trước đây tại Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau vào năm 2023 thì ông N và bà T1 đều xác định số tiền ông N nợ ông T là tiền vay với lãi suất 02%/tháng. Đồng thời, theo sổ phụ chi tiết kiệm báo nợ/báo có của Ngân hàng TMCP Q đối với chủ khách hàng là ông Lâm Văn T thể hiện vào ngày 09/3/2022 ông T đã 05 lần chuyển vào tài khoản của ông N với số tiền là 1.568.000.000 đồng, đều này phù hợp với lời trình bày của nguyên đơn là khi chuyển tiền cho ông N thì ông T chỉ chuyển 1.568.000.000 đồng, còn 32.000.000 đồng là tiền ông N đóng lãi tháng đầu, đồng thời cũng phù hợp với lời trình bày của ông N và bà T1 vì lãi suất 2%/tháng đối với số tiền 1.600.000.000 đồng thì tiền lãi mỗi tháng là 32.000.000 đồng. Mặc khác việc ông N cho rằng giữa ông và ông T là bạn thân nên cho vay không tính lãi, xét thấy việc cho vay tiền giữa ông T và ông N có thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để làm tin, có đến Văn phòng Công chứng để chứng thực giao dịch đảm bảo khoản tiền vay, cho thấy các bên thực hiện giao dịch trên nguyên tắc pháp luật, nên việc các bị đơn trình bày ông T cho vay số tiền 1.600.000.000 đồng không có lãi suất là không phù hợp với thực tiễn, nên không có căn cứ chấp nhận.

Đối với kháng cáo của các bị đơn cho rằng khoản tiền vay là ông N vay sử dụng vào việc riêng, cá nhân ông N. Bà Dương Hồng T1 không biết, không có sử dụng tiền vay nên trách nhiệm trả nợ là của riêng ông N. Hội đồng xét xử xét thấy, hợp

đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có chữ ký của bà T1 và bà T1 biết rõ việc ông N vay tiền của ông T, cụ thể tại bản tự khai ngày 24/4/2023 của bà Dương Hồng T1 gửi cho Tòa án nhân thành phố Cà Mau có nội dung “Ngày 09/3/2022 ông N cần vốn làm ăn nên đã thế chấp quyền sử dụng đất nêu trên cho ông Lâm Văn T, sinh năm 1985, địa chỉ khóm H, phường H, thành phố C để vay số tiền 1.600.000.000 đồng, với lãi suất 2%/tháng. Khi thế chấp vay tiền, theo yêu cầu của ông T, tôi và ông N đã ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông T (thực tế là thế chấp vay tiền), ông T hứa sẽ hủy hợp đồng chuyển nhượng khi ông N trả đủ tiền vốn và lãi”. Như vậy, tại thời điểm ông N vay tiền của ông T thì bà T1 biết nhưng không có ý kiến phản đối gì đồng thời ký tên vào hợp đồng chuyển nhượng mục đích để ông N vay tiền. Khi ông N vay tiền của ông T thì hôn nhân giữa ông N và bà T1 đang tồn tại, giữa ông N và bà T1 không có thỏa thuận về việc phân chia tài sản chung, riêng trong thời kỳ hôn nhân. Tại phiên toà phúc thẩm các bị đơn không chứng minh được việc ông N và bà T1 đã ly thân, ông N sử dụng số tiền dùng vào việc riêng cá nhân ông N. Do đó, bản án sơ thẩm buộc bà T1 có nghĩa vụ liên đới trả nợ cùng với ông N là có cơ sở pháp luật.

Đối với nội dung kháng cáo cho rằng giữa ông T và ông N đã có thoả thuận thanh toán tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cà Mau. Hội đồng xét xử xét thấy: Theo Văn bản số 660 ngày 21/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cà Mau “Vào ngày 01/10/2023 ông N có gửi cho Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cà Mau một đơn yêu cầu nhận tiền bằng hình thức chuyển khoản có chữ ký của người làm chứng là ông Lâm Văn T địa chỉ: Khóm H, phường H, thành phố C, tỉnh Cà Mau. Theo đơn ông N yêu cầu khi cơ quan thi hành án thu được tiền của ông Lê Hy Thế P1 và bà Nguyễn Thảo N1 thì chi trả cho ông N bằng hình thức chuyển khoản vào tài khoản đứng tên ông Lâm Văn T. Ngoài ra các đương sự không có thỏa thuận nào khác”. Như vậy, theo văn bản trả lời của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cà Mau thì ông T chỉ gửi đơn yêu cầu đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cà Mau để yêu cầu chuyển tiền qua số tài khoản của ông T khi ông P1 và bà N1 trả tiền cho ông N, ngoài ra giữa ông T và ông N không có thỏa thuận nào khác. Đồng thời, theo quy định tại Điều 54 Luật Thi hành án dân sự, Nghị định số 33/2020 ngày 17/3/2020 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật Thi hành án dân sự thì việc thoả thuận chuyển giao quyền được thi hành án phải được lập thành văn bản có chữ ký xác nhận của bên chuyển giao và bên được chuyển giao. Do đó, việc đại diện theo uỷ quyền của ông N cho rằng giữa ông N và ông T đã thỏa thuận chuyển giao quyền được thi hành án theo quy định tại điểm i Điều 7 Luật thi hành án dân sự là không phù hợp.

Từ các nhận định trên, xét thấy, án sơ thẩm đã xem xét, đánh giá chứng cứ có căn cứ pháp luật nên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của các bị đơn. Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là phù hợp nên chấp nhận.

[5] Án phí phúc thẩm ông N, bà T1 phải chịu theo quy định.

[6] Các quyết định khác của án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn N, bà Dương Hồng T1; giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 200/2024/DS-ST ngày 29 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Lâm Văn T đối với ông Nguyễn Văn N và bà Dương Hồng T1.

    Buộc ông Nguyễn Văn N và bà Dương Hồng T1 có nghĩa vụ liên đới trả cho ông Lâm Văn T số tiền nợ 2.193.520.000 đồng (hai tỷ một trăm chín mươi ba triệu năm trăm hai mươi nghìn đồng), trong đó vốn là 1.600.000.000 đồng, lãi là 593.520.000 đồng.

    Kể từ ngày ông T có đơn yêu cầu thi hành án, ông N và bà T1 không thi hành khoản tiền nêu trên thì ông N và bà T1 phải trả lãi đối với số tiền chậm thi hành theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

  2. Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Buộc ông Nguyễn Văn N và bà Dương Hồng T1 phải chịu 75.870.000 đồng (bảy mươi lăm triệu tám trăm bảy mươi nghìn đồng), nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Nước khi án có hiệu lực pháp luật. Ông Lâm Văn T không phải chịu án phí, ông T có dự nộp số tiền tạm ứng án phí là 38.578.000 đồng (ba mươi tám triệu năm trăm bảy mươi tám nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0013091 ngày 17/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cái Nước được nhận lại khi bản án có hiệu lực pháp luật.
  3. Án phí dân sự phúc thẩm: Buộc ông Nguyễn Văn N, bà Dương Hồng T1 phải chịu mỗi người 300.000 đồng. Đã qua ông N đã dự nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0018863 ngày 14/11/2024, bà T1 đã dự nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0018950 ngày 29/11/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cái Nước, nay chuyển sang thu.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

  1. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
  • - Tòa án nhân dân huyện Cái Nước;
  • - Chi cục THADS huyện Cái Nước;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu án văn;
  • - Lưu VT, (TM:TANDTCM).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Nguyễn A Đam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 128/2025/DS-PT ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 128/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Anh Lâm Văn Trọng yêu cầu anh Nguyễn Văn Nam trả tiền vay và lãi suất theo quy định của pháp luật.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger