Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 128/2024/HSST

Ngày: 25 - 11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hà.

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Hà Thị Lan;

2/ Ông Phạm Xuân Khoa.

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Thúy – Thư ký Toà án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ tham gia phiên toà: Bà Chu Thanh Thủy – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 11 năm 2024, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, tiến hành xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 110/2024/TLST-HS ngày 18/10/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 115/2024/QĐXX ngày 21/10/2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Minh T; Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam;

Sinh ngày: 22/4/1985;

Nơi cư trú: Xóm T, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

Dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; trình độ văn hoá: 12/12; Nghề nghiệp: Công nhân; con ông Nguyễn Xuân C (đã chết) và con bà Lưu Thị S (đã chết); bị cáo có 8 anh, chị em, bị cáo T là con thứ tám trong gia đình. Có vợ là Ngô Thị L, sinh năm 1986. Trú tại xóm T, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên – là người có quyền lợi, nghĩa liên quan trong cùng vụ án.

Tiền án, tiền sự: Không.

Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. (Có mặt tại phiên tòa).

- Bị hại: Ông Hoàng Văn M, sinh năm 1968 (Thiệt hại 99% sức khỏe – sống thực vật);

Giám hộ hợp pháp cho người bị hại:

  • Bà Nguyễn Thị H (vợ ông M);
  • Anh Hoàng Minh T1 (con trai ông M);
  • Chị Hoàng Thị Quỳnh L1 (con gái ông M);
  • Chị Hoàng Thị Quỳnh N (con gái ông M);

Người được những người giám hộ hợp pháp của người bị hại uỷ quyền tham gia tố tụng:

Ông Hoàng Văn B, sinh năm 1966 (anh trai ông M);

Nơi cư trú: TDP A, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

(Có mặt ông M tại phiên tòa).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Chị Ngô Thị L, sinh năm 1986; (Có mặt tại phiên tòa).

Nơi cư trú: Xóm T, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên

- Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn S1, sinh năm 1963; Vắng mặt.

Nơi cư trú: TDP A, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Minh T có giấy phép lái xe hạng A1 do Sở Giao thông vận tải tỉnh T cấp ngày 13/12/2018 (có giá trị không thời hạn). Khoảng 6 giờ 10 phút, ngày 12/01/2024, T điều khiển xe mô tô BKS: 20L6-4241 (đăng ký xe tên Trần Văn T2, sinh năm 1982, trú tại C, C, P, là xe T mua của anh T2 nhưng chưa sang tên theo quy định), từ nhà đi làm tại mỏ than Phấn Mễ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. T điều khiển xe mô tô đi tại phần đường bên phải hướng Tuyên Quang - Thái Nguyên, đi với vận tốc khoảng từ 35 - 40km/h (theo T khai). Khoảng 6 giờ 35 phút cùng ngày, khi T đi đến Km151+500 QL37, đoạn thuộc TDP A, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, thì có một người mặc áo mưa màu đỏ điều khiển xe mô tô đi từ phía sau, cùng chiều vượt lên bên phải xe của T đang điều khiển, T quay sang phía bên phải nhìn khoảng 2-3 giây để quan sát người vượt xe của mình nên không chú ý phía trước, khi T nhìn lại phía trước cách xe mô tô của T khoảng 1-2m thì thấy một người đang đi bộ đang dắt theo 01 con chó sang đường từ hướng bên trái sang bên phải theo chiều đi của T (sau xác định là ông Hoàng Văn M, sinh năm 1968, trú tại TDP A, TT H, huyện Đ). Do khoảng cách quá gần, T không kịp xử lý, nên xe mô tô do T điều khiển đã đâm va vào ông M. Sau va chạm, xe mô tô BKS 20L6-4241 trượt đổ ở phần đường bên phải, cách vị trí va chạm khoảng 9,25 met về hướng Thái Nguyên.T và ông M bị ngã nằm trên mặt đường. Ông M bị thương nặng được mọi người đưa đi cấp cứu tại bệnh viện T3, ngày 13/01/2024, chuyển Bệnh viện H1 điều trị, tới ngày 05/02/2024 chuyển bệnh viện T3 điều trị tiếp, ra viện ngày 06/3/2024.

Sau khi xảy ra vụ việc, Phòng C1 Công an tỉnh T đã lập hồ sơ ban đầu, tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện xe mô tô, thu thập các tài liệu khác có liên quan.

Kết quả khám nghiệm hiện trường sau tai nạn: Trời sáng, mưa, mặt đường ẩm ướt. Hiện trường còn nguyên vẹn, xe mô tô nằm đổ ở vị trí cuối cùng sau khi xảy ra tai nạn. Đoạn đường dải nhựa bằng phẳng, mặt đường rộng 10,5m, hai bên đường có mặt cống thoát nước. (Khi khám nghiệm lấy mép đường bên phải hướng Tuyên Quang - Thái Nguyên làm chuẩn). Xe mô tô BKS: 20L6-4241 nằm đổ sườn trái, đầu hướng chếch vào mép đường bên phải, đuôi xe hướng Tuyên Quang, đo từ tâm trục bánh trước vào mép đường nhựa: 1,10m, tâm trục bánh sau vào mép đường: 2,0m. Có 01 dấu vết cày trượt đứt quãng của xe BKS: 20L6-4241 trên mặt đường dài 9,25m. Đo từ điểm đầu vết cày vào mép đường: 3,50m, điểm cuối vết cày nằm tại bàn để chân phía trước bên của xe mô tô. Đo từ điểm đầu vết cày đến cột Km 151+500 QL 37 là 30,30m.

Quá trình khám nghiệm hiện trường tiến hành tạm giữ xe mô tô BKS: 20L6-4241.

- Kết quả khám nghiệm phương tiện xác định: Xe mô tô nhãn hiệu Yamaha màu đỏ bạc, BKS: 20L6-4241.Đầu càng trước bên trái, tại vị trí đầu con ốc trục có tổ chức da lông bám dính, kích thước 3,0 x 2,0 cm, đo từ tâm vuông góc với mặt đất cao 27cm.

  • Tại vị trí cạnh trong ổ khóa càng xe bánh trước có bám dính tổ chức da kích thước 0,5 x 1cm, đo cách mặt đất cao 36cm.
  • Cạnh bên trái đầu chắn bùn phía trước có vết mài trượt màu đen KT 7,0 x 0,5cm. Đo điểm cao nhất vuông góc với mặt đất là 60cm.
  • Mặt ngoài phía trên cánh yếm bên trái có vết mài trượt màu đen KT 5,0 x 5,0 cm, có chiều từ trước về sau, đo điểm thấp nhất cách mặt đất 65cm.
  • Bên trong đèn tín hiệu phía trước và 01 phần góc đèn chiếu sáng bị vỡ KT 20 x 10cm, nắp trước tay lái bên trái bị mài trượt nhựa KT 4,0 x 2,0 cm có chiều từ trước về sau, từ phải sang trái.
  • Đầu tay nắm tay lái bên trái có vết trượt xước KT 3,0 x 4,0 cmcó chiều từ trước về sau, từ phải qua trái. Bàn để chân phía trước bên trái bị bẻ cong theo chiều từ trước về sau, từ dưới lên trên, có vết mài trượt rách cao su KT 2,0 x 1,0cm.(BL 39-40).

Sau khi bị tai nạn ông M bị thương tích nặng, hôn mê sâu, bất tỉnh. Xác định vụ việc có dấu hiệu tội phạm, ngày 06/02/2024 Phòng C1 Công an tỉnh T chuyển hồ sơ vụ việc đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ để giải quyết theo thẩm quyền.

Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 400/KLTTCT-TTPY ngày 10/6/2024 Trung tâm P kết luận đối với ông Hoàng Văn M:

  1. Các kết quả chính: Tổn thương não gây di chứng sống kiểu thực vật, ổ khuyết xương sọ đường kính >10cm, hiện tại có 01 sẹo mở khí quản và 02 sẹo phần mềm KT lớn.
  2. Kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, xác đinh tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Hoàng Văn M tại thời điểm giám định là 99% (Chín mươi chín phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại thông tư.

Kết quả xét nghiệm định lượng cồn trong máu đối với Nguyễn Minh T hồi 11 giờ 53 phút ngày 12/01/2024 tại Bệnh viện T3 là 1,32mmol/l (tương đương 6,08mg/100ml máu). Theo Bệnh viện T3 cung cấp: Tiến hành xét nghiệm nồng độ cồn trong máu bằng hệ thoogns máy xét nghiệm AU480 và hóa chất của Bệnh viện T3, các kết quả có giá trị nhỏ hơn hoặc bằng 1,76mmol/l tức là bình thường so với cơ thể người.

Kết quả xác định lại hiện trường vụ án của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ phù hợp với hiện trường, các dấu vết tài liệu do Phòng C1 Công an tỉnh T khám nghiệm.

Vật chứng vụ án: Xe môtô BKS: 20L6-4241 hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đại Từ chờ xử lý khi xét xử vụ án.

Về phần dân sự: Quá trình điều tra Nguyễn Minh T đã tự nguyện bồi thường cho gia đình ông M số tiền 160.000.000 đồng khắc phục hậu quả. Gia đình ông M không có yêu cầu đề nghị gì về phần dân sự và có đơn đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với T.

Với nội dung nêu trên, tại bản cáo trạng truy tố số: 115/CT- VKSĐT ngày 17/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ đã truy tố Nguyễn Minh T về tội “Vi phạm quy định về tham gia thông đường bộ” theo điểm b khoản 1Điều 260 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận:

Giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo như nội dung bản cáo trạng đã thể hiện đối với bị cáo Nguyễn Minh T tại điểm b khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự.

Nhân thân:bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.

Các tình tiết giảm nhẹ TNHS được hưởng: điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS;

Tình tiết tăng nặng TNHS: Không phải chịu.

Đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình, phạt bị cáo từ 15 - 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thử thách từ 30 – 36 tháng.

Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt cấm lái xe đối với bị cáo.s

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận đã bồi thường thiệt hại xong, bị hại không yêu cầu tiếp.

Vật chứng: Đề nghị trả lại bị cáo và chị L chiếc xe mô tôYAmaha, số loại Sirius, số máy 5c61026698, số khung: RLCS5C6106Y026698, màu sơn đỏ bạc, gắn BKS: 20L6 – 4241.

Án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Phần tranh luận và đối đáp.

Ý kiến của của bị cáo: Nhất trí với ý kiến luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không tranh luận.

Ý kiến đại diện theo ủy quyền của những người đại diện hợp pháp cho người bị hại: Nhất trí luận tội của VKS đưa ra. Đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo T được cải tạo tại địa phương, ngoài ra không tranh luận gì.

Người liên quan không có ý kiến tranh luận.

Kết thúc phần tranh tụng bị cáo, đại diện bị hại và người liên quan, đại diện VKS không đưa ra quan điểm đối đáp tranh luận gì thêm.

Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi Hội đồng xét xử nghị án: Bị cáo xác định việc truy tố và bị đưa ra xét xử là đúng tội, xin được hưởng lượng khoan hồng với mức án thấp nhất, được cải tạo tại địa phương để có cơ hội lao động đền bù thiệt hại đối với gia đình do mình gây ra.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Trong quá trình điều tra vụ án, các quyết định và các hành vi tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Tất cả các Quyết định tố tụng trong vụ án đều được lập, giao nhận cho những người tham gia tố tụng theo đúng trình tự mà pháp luật quy định. Các tài liệu, chứng cứ đã thu thập đều phản ánh đúng sự thật khách quan của vụ án, phù hợp với diễn biến của phiên tòa và có đủ cơ sở để chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[1.2]. Về sự ủy quyền của người tham gia tố tụng: Trong vụ án người bị hại bị thiệt hại 99% sức khỏe (sống thực vật), gia đình ông M có văn bản ủy quyền cho ông Hoàng Văn B tham gia tố tụng. Việc ủy quyền được lập thành văn bản. Do vậy, xác nhận việc ủy quyền thực hiện đúng quy định tại các Điều 85, Điều 86, Điều 87 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên được chấp nhận.

[1.4]. Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Người làm chứng trong vụ án vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử thấy rằng, trong hồ sơ đã có lời khai thể hiện quan điểm của họ; Kiểm sát viên, bị cáo cũng đề nghị xét xử vắng mặt những người này. Xét việc người làm chứng vắng mặt không gây trở ngại cho quá trình xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét căn cứ Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự, xét xử vắng mặt họ theo quy định của pháp luật.

[2]. Về hành vi bị truy tố, xét xử của bị cáo:

Tại phiên tòa, qua xét hỏi bị cáo Nguyễn Minh T khai nhận: Bị cáo có giấy phép lái xe hạng A1 số [...] do Sở giao thông vận tải tỉnh T cấp ngày 13/5/2018, có giá trị không thời hạn. Khoảng 6 giờ 35 phút, ngày 12/01/2024, Nguyễn Minh T điều khiển xe môtô BKS: 20L6-4241 đi trên Quốc lộ C hướng Tuyên Quang - Thái Nguyên (T khai đi với tốc độ khoảng 40km/h). Khi đi đến Km151+500 Quốc lộ C, đoạn thuộc tổ dân phố A, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, là đoạn đường thẳng, trời đang mưa phùn, T điều khiển xe mô tô đánh mắt nhìn sang bên phải, không chú ý quan sát phía trước, không giảm tốc độ và nhường đường cho người đi bộ sang đường nên khi T đang điều khiển xe mô tô trên phần đường của mình thì phát hiện phía trước cùng chiều cách khoảng 1-2 mét có ông Hoàng Văn M, đang dắt chó đi bộ từ bên trái sang bên phải đường theo chiều đi của T. Do khoảng cách quá gần, không kịp xử lý nên xe mô tô của T đã đâm va vào ông M, làm ông M bị tổn thương sức khỏe tỷ lệ 99%.

Về hậu quả của vụ tai nạn khiến ông Hoàng Văn M tuy không chết nhưng bị hại tổn thương não gây di chứng sống kiểu thực vật. Quá trình điều tra bị cáo xác định lỗi do mình gây nên vụ tai nạn đã vi phạm quy tắc về an toàn giao thông đường bộ.

[3]. Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn, lời khai của những người làm chứng, xác định lỗi gây nên vụ tai nạn giao thông làm người bị hại tổn thương não gây di chứng sống kiểu thực vật. Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định hành vi của Nguyễn Minh T đã vi phạm khoản 4 Điều 11 Luật giao thông đường bộ và khoản 6, khoản 11,Điều 5 Thông tư số 31/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng khi tham gia giao thông đường bộ.

Cụ thể nội dung:

Khoản 4 Điều 11 Luật giao thông đường bộ quy định:

“Điều 11. Chấp hành báo hiệu đường bộ

...

4... Những nơi không có vạch kẻ đường cho người đi bộ, người điều khiển phương tiện phải quan sát, nếu thấy người đi bộ, xe lăn của người khuyết tật đang qua đường thì phải giảm tốc độ, nhường đường cho người đi bộ, xe lăn của người khuyết tật qua đường bảo đảm an toàn”.

Khoản 6, khoản 11 Điều 5 Thông tư số 31/TT-BGTVT quy định:

“Điều 5. Các trường hợp phải giảm tốc độ

Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn trong các trường hợp sau:

...

6. Khi có người đi bộ, xe lăn của người khuyết tật qua đường;

...

11. Trời mưa...”

[4]. Bản cáo trạng số 115/2024/CT – VKSĐT ngày 17/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ đã truy tố tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự là hoàn toàn đúng tội, đúng pháp luật.

Nội dung điều luật quy định như sau:

“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm”:

b, Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên.”

[5]. Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, nhân thân và nguyên nhân động cơ dẫn đến việc phạm tội thì thấy:

Vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng, đây là hành vi của người điều khiển, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ, không chấp hành nghiêm chỉnh luật lệ giao thông đường bộ. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm hại đến sức khỏe của người khác, biểu hiện ý thức xem thường quy tắc của đời sống xã hội, kỷ cương pháp luật của Nhà nước. Xét đây là lỗi vô ý, xong việc đưa ra xét xử và xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự nhằm giáo dục và răn đe phòng ngừa chung trong toàn xã hội.

Nguyên nhân để xảy ra vụ tai nạn giao thông là do bị cáo Nguyễn Minh T điều khiển xe ô tô, không chú ý quan sát, không giảm tố độ và nhường đường cho người đi bộ qua đường nên đã đâm trực diện người bị hại dẫn đến hậu quả nêu trên.

[6]. Về việc áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định hình phạt:

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo T thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, đã khắc phục bồi thường thiệt hại. Do vậy, bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra đại diện của gia đình ông M có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo T, bị cáo cũng có đơn xin cải tạo được địa phương nơi cư trú xác nhận; bị cáo còn có bố đẻ là ông Nguyễn Xuân C tham gia kháng chiến được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhì nên còn được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ khác quy định tại khoản 2 Điều 51Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Minh T không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo Điều 52 Bộ luật hình sự.

[7]. Hội đồng xét xử nhận định về hình phạt cần áp dụng đối với bị cáo:

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi của bị cáo Nguyễn Minh T thì thấy: Vụ án thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, đây là hành vi của người điều khiển, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ, không chấp hành nghiêm chỉnh luật lệ giao thông đường bộ. Tuy nhiên, là lỗi vô ý, xong việc đưa ra xét xử về hình sự đối với hành vi vi phạm là cần thiết.

Xét đơn xin được cải tạo tại địa phương của bị cáo thấy: Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo không thể thấy trước hậu quả có thể xẩy ra, hành vi bị cáo thực hiện với lỗi vô ý, sau khi phạm tội tự giác khắc phục toàn bộ thiệt hại cho gia đình người bị hại, Tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của những người đại diện hợp pháp cho bị hại đề nghị HĐXX cho bị cáo được cải tạo tại địa phương để bị cáo còn lao động bù đắp thiệt hại về kinh tế cho mình gây ra. Về hành vi phạm tôi của bị cáo là nghiêm trọng, đáng lẽ phải bị xử phạt tù để làm gương răn đe chung. Tuy nhiên, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, ổn định và nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng, gia đình người bị hại cũng đề nghị cho bị cáo được cải tạo tại địa phương. Căn cứ về điều kiện cho hưởng án treo quy định khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ - HĐTP ngày 15/5/2018, của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 BLHS năm 2015, Nghị quyết số 01/NQ – HĐTP ngày 15/4/2022, về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018 thì bị cáo T có đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định của pháp luật.

[8]. Căn cứ những quy định nêu trên, xét có căn cứ để chấp nhận lời thỉnh cầu của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải xử phạt tù có thời hạn đối với bị cáo T mà cho được tự học tập, cải tạo ngoài xã hội dưới sự giám sát của chính quyền địa phương và gia đình nơi cư trú. Việc áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo đối với bị cáo cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội mà vẫn đáp ứng được yêu cầu phòng, chống tội phạm trong cộng đồng.

[9]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật hình sự thì: Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05.”. Xét thấy bị cáo là lao động chính trong ga đình, xe mô tô là phương tiện phổ thông hàng ngày bị cáo đi làm nên không áp dụng hình phạt cấm lái xe đối với bị cáo.

[10]. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đã trình bày luận tội đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử kết tội bị cáo như Cáo trạng đã truy tố, đề nghị mức hình phạt tù và đề xuất bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng của vụ án. Xét đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ của vụ án và diễn biến, kết quả tranh tụng tại phiên tòa cũng như nhận định của Hội đồng xét xử. Vì vậy, được chấp nhận.

[11]. Xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp khác: Liên quan đến chiếc xe mô tô của bị cáo gây tai nạn cho ông M. Tuy nhiên, tại phiên tòa người liên quan chị L xác định xe là tài sản chung vợ chồng và là phương tiện đi lại hàng ngày của gia đình nên đề nghị được hoàn trả. Hội đồng xét thấy, quá trình xác minh xe không phải là vật chứng trong vụ án khác, mặc dù tài sản trên bị cáo mua chưa sang tên theo quy định nhưng người bán xác định đã thanh toán xong nghĩa vụ. Do vậy, cần thiết trả lại cho gia đình bị cáo chiếc xe mô tô tôYAmaha, số loại Sirius, số máy 5c61026698, số khung: RLCS5C6106Y026698, màu sơn đỏ bạc, gắn BKS: 20L6 – 4241.

[12]. Về trách nhiệm dân sự:

Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo đã khắc phục bồi thường toàn bộ thiệt hại cho người bị hại (đại diện hợp pháp người bị hại) đã nhận số tiền 160.000.000đ; Tại phiên tòa đại diện hợp pháp người bị hại (ông B) được ủy quyền tham gia tố tụng, cũng xác định toàn bộ khoản tiền bồi thường toàn bộ nên không yêu cầu bồi thường thêm. Đối với việc đã bồi thường cần thiết ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của bị cáo và đại diện hợp pháp người bị hại là phù hợp với quy định tại các Điều 584, Điều 585, Điều 590 Bộ luật dân sự.

[13]. Án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại các điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết 326 của UBTVQH).

BC và đại diện hợp pháp người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  2. Hình phạt:

    2.1. Hình phạt chính: Áp dụng điểm b Khoản 1 Điều 260; điểm b, s Khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạt:

    Bị cáo Nguyễn Minh T 15 (Mười lăm) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (Ba mươi) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Giao bị cáo Nguyễn Minh T cho UBND xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, nơi bị cáo cư trú giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách bản án. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

    Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

    (Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo).

    Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của Bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.

    2.2. Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cấm lái xe đối với bị cáo.

  3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 584, Điều 585 của Bộ luật Dân sự;

    Xác nhận bị cáo đã bồi thường xong toàn bộ thiệt hại cho người bị hại số tiền 160.000.000đ (Một trăm sáu mươi triệu đồng).

  4. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47, Điều 48 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

    Trả lại bị cáo T và chị L chiếc xe mô tôBKS: 20L6 – 4241, nhãn hiệu Yamaha, số loại SIRIUS, màu sơn đỏ bạc, số khung RLCS5C6106Y026698, số máy 5C61026698

    (Vật chứng trên hiện đang được quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đại Từ, đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận giữa Công an huyện Đ với Chi cục thi hành án dân sự huyện Đại Từ ngày 22/10/2024).

  5. Án phí: Áp dụng Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Buộc bị cáo Nguyễn Minh T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.

  6. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự:

    Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, đại diện hợp pháp người bị hại (được ủy quyền), người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (chị L) tại phiên tòa sơ thẩm. Báo cho biết bị cáo, những người có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - Công an huyện Đại Từ;
  • - VKS nhân dân huyện Đại Từ;
  • - Thi hành án dân sự huyện Đại Từ;
  • - Sở tư pháp tỉnh Thái Nguyên;
  • - Cổng thông tin điện tử Tòa án;
  • - Bị cáo; Trại tạm giam Công an tỉnh TN;
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu: HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thu Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 128/2024/HSST ngày 25/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 128/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Minh Thái đã vi phạm khoản 4 Điều 11 Luật giao thông đường bộ và khoản 6, khoản 11,Điều 5 Thông tư số 31/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ giao thông vận tải quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng khi tham gia giao thông đường bộ.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger