Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẠ LONG

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 128/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 19 - 11 - 2024

V/v tranh chấp: ly hôn, tranh chấp

về nuôi con khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Nguyễn Thành Lâm.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Phạm Thị Hiền;
  2. Bà Phạm Thu Hà.

- Thư ký phiên toà: bà Hoàng Vân Anh, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long tham gia phiên tòa: ông Trần Mạnh Tiến - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 203/2024/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 8 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 233/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 10 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 233/2024/QĐST-HNGĐ ngày 31 tháng 10 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị Thúy H, sinh năm 1980; nơi thường trú: CH 1B – tầng 8, chung cư A tầng nhà A, tổ dân phố A, phường C, quận N, thành phố Hà Nội; vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt;

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Duy H1, sinh năm 1978; nơi thường trú: tổ A, khu G, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Chị Nguyễn Thị Thúy H và anh Nguyễn Duy H1 có đăng ký kết hôn ngày 03 tháng 01 năm 2003 tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện. Trước khi kết hôn, chưa ai có vợ, có chồng, cả hai có thời gian tìm hiểu nhau khoảng 01 (một) năm. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến đầu năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn. Quá trình chung sống, vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Thị Khánh L, sinh ngày 30/7/2003 (đã thành niên) và Nguyễn Mỹ A, sinh ngày 13/4/2013.

Quan điểm và yêu cầu khởi kiện của chị H: cho rằng nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, trong cuộc sống hàng ngày không có sự chia sẻ. Anh H1 thường có bạo lực về tinh thần đối với chị và thiếu trách nhiệm với gia đình, con cái, khiến cho tình cảm vợ chồng ngày càng xa cách. Mâu thuẫn vợ chồng được gia đình hai bên hàn gắn nhưng không có kết quả. Vợ chồng mặc dù vẫn sống chung một nhà nhưng không có tiếng nói chung, không quan tâm đến nhau. Do tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục chung sống nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H1. Về con chung: chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung Nguyễn Mỹ A cho đến khi con thành niên (đủ 18 tuổi); chị không yêu cầu anh H1 phải cấp dưỡng nuôi con. Còn con chung Nguyễn Thị Khánh L đã thành niên và phát triển bình thường nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Chị tự nguyện chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm. Hiện tại chị có đăng ký thường trú và sinh sống cùng 02 con tại Hà Nội theo địa chỉ trên. Anh H1 có ở cùng nhà nhưng không có đăng ký thường trú, tạm trú tại địa chỉ này. Vợ chồng đã sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau nữa. Hiện tại, anh H1 vẫn đăng ký thường trú tại tổ A, khu G, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Anh H1 biết rất rõ việc chị xin ly hôn tại Tòa án nhưng không đến Tòa án để làm việc.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhiều lần tống đạt hợp lệ và niêm yết các Giấy triệu tập để lấy lời khai, Thông báo về phiên họp kiểm ra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải cho anh H1, anh H1 biết nhưng vẫn cố ý vắng mặt không có lý do.

Tại Biên bản xác minh ngày 17 tháng 9 năm 2024 của Tòa án, ông Trần Xuân T, Tổ trưởng tổ A, khu G, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh cho biết: anh H1 có đăng ký thường trú tại địa chỉ này, (chủ hộ là anh trai anh H1 tên là Nguyễn Thanh H2). Hiện tại, anh H1 và chị H đi làm ăn xa, thỉnh thoảng anh H1 có về thăm gia đình. Anh H1 và chị H không thường xuyên sinh sống tại đây, nên quá trình chung sống, nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng ông không nắm được.

Tại Biên bản xác minh ngày 13 tháng 11 năm 2024 của Tòa án, Công an phường C cho biết: hiện tại, anh H1 có đăng ký thường trú tại tổ A, khu G, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, chủ hộ là anh Nguyễn Thanh H2).

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long có quan điểm:

  1. Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành đúng các quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
  2. Về quan điểm giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về tố tụng: việc thụ lý và giải quyết vụ án dân sự về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn giữa các đương sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Tòa án đã thực hiện đúng và đầy đủ trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử. Các đương sự được đảm bảo thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình theo đúng quy định của pháp luật. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai mặc dù đã được tống đạt hợp lệ các văn bản triệu tập của Tòa án, nguyên đơn có văn bản đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ là vẫn đảm bảo thực hiện đúng quy định tại các điểm a và b khoản 2 Điều 227, các khoản 1 và 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
  2. Về nội dung:
    1. Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị Thúy H và anh Nguyễn Duy H1 có đủ điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn hợp pháp. Quá trình chung sống với nhau một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh H1 để lấy lời khai và hòa giải đoàn tụ vợ chồng, anh H1 biết mà vẫn không đến trụ sở Tòa án để làm việc, điều đó thể hiện thái độ không quan tâm đến quan hệ hôn nhân, không tìm cách khắc phục mâu thuẫn, hàn gắn tình cảm vợ chồng. Tình cảm vợ chồng và quan hệ hôn nhân có đạt được hay không phải xuất phát từ ý chí và nguyện vọng của cả hai bên, cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc, nhưng chị H cho rằng mình thường bị anh H1 bạo hành về tinh thần, không còn tình cảm với anh H1, vợ chồng không quan tâm, chia sẻ với nhau, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử thấy có đủ căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của H.
    2. Về việc nuôi dưỡng con chung: chị Nguyễn Thị Thúy H và anh Nguyễn Duy H1 có 02 con chung, con lớn đã thành niên, có khả năng lao động và phát triển bình thường nên đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, con nhỏ trên 07 tuổi, đang sinh sống ổn định và có nguyện vọng ở cùng với mẹ (theo Biên bản ghi ý kiến của con ngày 20 tháng 9 năm 2024). Hội đồng xét xử thấy cần thiết giao con nhỏ cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng để đảm bảo sự phát triển bình thường, ổn định về tâm lý, thể chất và tương lai phát triển của con và phù hợp với quy định của pháp luật. Chị H không yêu cầu anh H1 phải cấp dưỡng nuôi con là hoàn toàn tự nguyện, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
    3. Về tài sản chung và nợ chung: đương sự không không yêu cầu, Hội đồng xét xử không giải quyết.

[3] Về án phí: Nguyễn Thị Thúy H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, các điểm a và b khoản 2 Điều 227, các khoản 1 và 3 Điều 228, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 56, Điều 58, các khoản 1 và 2 Điều 81, các điều 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm b khoản 1 Điều 3, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện xin ly hôn và việc nuôi dưỡng con chung của nguyên đơn - chị Nguyễn Thị Thúy H.

  1. Về quan hệ hôn nhân: cho chị Nguyễn Thị Thúy H được ly hôn anh Nguyễn Duy H1.
  2. Về việc nuôi dưỡng con chung: giao con chung Nguyễn Mỹ A, sinh ngày 13 tháng 4 năm 2013 cho chị Nguyễn Thị Thúy H được trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc và giáo dục cho đến khi con thành niên (đủ 18 tuổi).

    Anh Nguyễn Duy H1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung không ai được cản trở.

    Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

  3. Về án phí: chị Nguyễn Thị Thúy H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số: 0001090 ngày 14 tháng 8 năm 2024 của Chi cục thi hành án thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh; chị Nguyễn Thị Thúy H đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND TP. Hạ Long, T. Quảng Ninh;
  • - UBND phường Cao Xanh, TP. Hạ Long, T. Quảng Ninh;
  • - THADS TP. Hạ Long, T. Quảng Ninh;
  • - VKSND T. Quảng Ninh;
  • - TAND T. Quảng Ninh;
  • - Lưu HS; TA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thành Lâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 128/2024/HNGĐ-ST ngày 19/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 128/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger