|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI TỈNH BẾN TRE |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 128/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 25/9/2024.
V/v “Tranh chấp ly hôn và nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng.
-
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Lâm.
Ông Trần Văn Hiệp. - - Thư ký phiên tòa: Ông Mai Nguyễn Minh Thuận – Thư ký Tòa án.
-
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại tham gia phiên toà:
Ông Nguyễn Văn Lanh- Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 40/2024/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 163/2024/QĐXXST-HN ngày 27 tháng 6 năm 2024, Thông báo dời phiên tòa số 71/TB – TA ngày 22/7/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 146/2024/QĐST-HN ngày 26 tháng 8 năm 2024 giữa:
- * Nguyên đơn: Chị L, sinh ngày 09/02/1991. (Xin vắng mặt).
- Địa chỉ: ấp R, xã N, huyện G, tỉnh Bến Tre.
- * Bị đơn: Anh V, sinh ngày 17/7/1985. (Vắng mặt)
- Địa chỉ: Ấp 3, xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 13/11/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên trình bày:
Chị và anh V cưới nhau vào năm 2016 trên tinh thần tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre. Quá trình chung sống có hạnh phúc, đến tháng 3/2017 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân bất đồng quan điểm sống. Chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn.
Về con chung: có con chung tên T, sinh ngày 23/10/2016 hiện đang sống với anh V. Chị L đồng ý để anh V tiếp tục nuôi con chung và chị không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có
* Vụ kiện đã được Tòa án mở phiên hoà giải nhưng không hoà giải được do anh V không đến. Do đó Tòa án không thể tiến hành lấy lời khai và hòa giải được.
* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
- Về tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Thẩm phán đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật về trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, các bên đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 71, 72, 73 BLTTDS. Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt, bị đơn vắng mặt không lý do, căn cứ Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử (HĐXX) tiến hành xét xử vắng mặt đương sự là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, thành viên HĐXX và Thư ký phiên tòa thể hiện sự vô tư, khách quan, độc lập khi xét xử và trình tự thủ tục phiên tòa diện ra đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự
- Về nội dung: Xét yêu cầu xin ly hôn, yêu cầu để bị đơn tiếp tục nuôi con chung và không cấp dưỡng của phía nguyên đơn là phù hợp với quy định tại các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình nên đề nghị HĐXX chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của kiểm sát viên. HĐXX nhận định:
- [1] Về tố tụng: Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai vẫn vắng mặt không rõ lý do. Căn cứ các Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
- [2] Về hôn nhân: Chị L và anh V kết hôn vào năm 2016 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 037/2017 ngày 02/6/2017 là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật công nhận và bảo vệ. Quá trình chung sống giữa chị L và anh V thời gian đầu có hạnh phúc, nhưng sau đó thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là bất đồng quan điểm. Ngoài ra, Tòa án đã tiến hành mời anh V để hòa giải nhằm cho các bên có cơ hội hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng anh V không đến dự. Điều đó cho thấy anh V không còn thiết tha đối với mối quan hệ hôn nhân với chị L, chứng tỏ hôn nhân giữa chị L và anh V đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên chị L hôn là biện pháp tốt nhất để trả tự do cho cả hai. Do đó, yêu cầu xin ly hôn của chị L là có cơ sở và phù hợp với quy định tại Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
- [3] Về con chung: Có con chung tên T, sinh ngày 23/10/2016 hiện đang sống với anh V. Hội đồng xét xử xét thấy: Chị L đồng ý để anh V tiếp tục nuôi con chung, để đảm bảo sự phát triển bình thường về thể chất và tinh thần cho cháu Vy, HĐXX ghi nhận chị L để anh V tiếp tục nuôi con chung và chị L không cấp dưỡng nuôi con chung.
- [4] Về tài sản chung, nợ chung: Chị L khai không có nên không xét đến.
- [5] Xét đề nghị của Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
- [6] Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Nguyên đơn phải nộp theo quy định của pháp luật về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 147, 227, 228, 271 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị L được ly hôn với anh V. Quan hệ hôn nhân theo giấy chứng nhận kết hôn số 037/2017 ngày 02/6/2027 của UBND xã B, huyện B chấm dứt kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
-
Về con chung: Có 01 con chung T, sinh ngày 23/10/2016. Anh V được
quyền nuôi con chung và chị L không cấp dưỡng nuôi con chung.
Chị L có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung sau này, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không giải quyết.
- Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, buộc chị L phải nộp được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị L đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0000736 ngày 03 tháng 01 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Đại.
-
Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có
quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được
bản án hoặc được tống đạt theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
* Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thanh Tùng |
Bản án số 128/2024/HNGĐ-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE về tranh chấp ly hôn và nuôi con
- Số bản án: 128/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Liễu xin ly hôn anh Vàng
