|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 128/2024/HNGĐ-ST Ngày: 27 – 9 – 2024 V/v tranh chấp HNGĐ Ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Võ Thị Ngọc M
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phạm Phước T
- Bà Nguyễn Thị P
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn L – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cao Lãnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 322/2024/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 7 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình - Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 509/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 8 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 547/2024/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị B, sinh năm 1987.
Địa chỉ: Ấp T, xã H, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của chị B: Ông Nguyễn Văn T – Luật sư Chi nhánh Văn phòng L thuộc Đoàn luật sư thành phố H.
Bị đơn: Anh Lê Hoàng A, sinh năm 1985.
Địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
(Chị B có đơn xin xét xử vắng mặt, ông T, anh Hoàng A vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, trong quá trình tố tụng chị Huỳnh Thị B là nguyên đơn trình bày:
- Về hôn nhân: Chị B và anh Hoàng A tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn vào ngày 04/6/2013 tại Ủy ban nhân dân xã H, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.
Sau thời gian chung sống hạnh phúc thì vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do không cùng quan điểm sống, không có tiếng nói chung nên hôn nhân không hạnh phúc. Từ sau khi sinh con vào năm 2014 thì vợ chồng đã sống ly thân với nhau, chị B dọn về quê sinh sống, còn anh Hoàng A vẫn sống cùng cha mẹ ở huyện C nhưng hay trốn tránh chị B và chính quyền địa phương. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Huỳnh Thị B yêu cầu được ly hôn với anh Lê Hoàng A.
- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Lê Huỳnh Thảo N, sinh ngày 21/01/2014. Hiện con chung đang sống với mẹ.
Khi ly hôn, chị B yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh Hoàng A cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Vợ chồng không nợ ai cũng không cho ai nợ, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Lê Hoàng A đã được tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án và được triệu tập xét xử hợp lệ, biết nội dung yêu cầu khởi kiện của chị B nhưng không có ý kiến, không tham gia hòa giải và không có mặt tại phiên tòa sơ thẩm.
Tài liệu chứng cứ trong hồ sơ do đương sự cung cấp gồm:
- Căn cước công dân Huỳnh Thị B (bản sao);
- Giấy chứng nhận kết hôn (bản chính);
- Giấy khai sinh Lê Huỳnh Thảo N (bản sao);
- Đơn đề nghị không tiến hành hòa giải, đối thoại tại Tòa án (bản chính);
- Đơn đề nghị được vắng mặt tại Tòa án (bản chính);
- Bản tự khai (bản chính);
- Thẻ Luật sư, Căn cước công dân Nguyễn Văn T (bản sao);
- Đơn yêu cầu Luật sư bảo vệ (bản chính);
- Hợp đồng ủy quyền (bản chính);
- Đơn yêu cầu Tòa án thu thập tài liệu chứng cứ (bản chính).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Chị Huỳnh Thị B có đơn yêu cầu được ly hôn, nuôi con với anh Lê Hoàng A. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật trong vụ án này là “Tranh chấp hôn nhân gia đình ly hôn, nuôi con”.
Anh Lê Hoàng A là bị đơn trong vụ kiện có địa chỉ tại huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Lê Hoàng A là bị đơn trong vụ kiện nhưng anh Hoàng A vẫn cố tình vắng mặt không có lý do và cũng không có ý kiến gì về việc xin ly hôn của chị B. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh Lê Hoàng A là phù hợp theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung vụ án:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị B và anh Hoàng A sống chung với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, thị xã L nay là thành phố L, tỉnh Đồng Nai vào năm 2013, do đó hôn nhân giữa chị B và anh Hoàng A là hợp pháp.
Theo chị B trình bày, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Đến thời gian sau, chị B và anh Hoàng A phát sinh nhiều mâu thuẫn, tranh cãi do bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Chị B và anh Hoàng A không còn chung sống với nhau cũng như không còn quan tâm, chăm sóc, yêu thương nhau.
Khi giải quyết vụ kiện, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và triệu tập anh Lê Hoàng A tham gia phiên hòa giải, phiên tòa nhưng anh Hoàng A vắng mặt không có lý do cũng như không có ý kiến hay biện pháp nào để hàn gắn tình cảm đối với yêu cầu ly hôn của chị Huỳnh Thị B. Xét thấy hôn nhân giữa chị B và anh Hoàng A đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị B yêu cầu ly hôn với anh Hoàng A là có căn cứ để chấp nhận.
Từ những căn cứ nêu trên đủ cơ sở để xác định hôn nhân giữa chị B và anh Hoàng A là mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của chị B.
- Về con chung: Xét từ khi chị B, anh Hoàng A sống xa nhau đến nay, chị B là người trực tiếp nuôi con chung Lê Huỳnh Thảo N; Bên cạnh đó, tại bản tự khai ngày 28/8/2024, cháu Thảo N có nguyện vọng được sống chung với mẹ là chị B.
Do đó, giao con chung tên Lê Huỳnh Thảo N, sinh ngày 21/01/2014 cho chị B tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp theo quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình. Anh Hoàng A không phải cấp dưỡng nuôi con do không có yêu cầu.
Anh Lê Hoàng A có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản.
- Về tài sản chung: Chị B trình bày vợ chồng không có tài sản chung, anh Hoàng A không có ý kiến về tài sản chung, không có yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về nợ chung: Chị B trình bày vợ chồng không có nợ chung, anh Hoàng A không có ý kiến về nợ chung, không có yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Chị Huỳnh Thị B phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại Điều 144 và khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39, Điều 144, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu của chị Huỳnh Thị B.
- Về hôn nhân: Chị Huỳnh Thị B được ly hôn với anh Lê Hoàng A.
- Về con chung: Chị Huỳnh Thị B được tiếp tục nuôi con chung Lê Huỳnh Thảo N, sinh ngày 21/01/2014.
Anh Lê Hoàng A không phải cấp dưỡng nuôi con do không có yêu cầu.
Anh Lê Hoàng A có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Chị Huỳnh Thị B phải chịu 300.000 đồng tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0008927 ngày 26 tháng 7 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh. Như vậy tiền án phí đương sự đã nộp xong.
Các đương sự được quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thị Ngọc Minh |
Bản án số 128/2024/HNGĐ-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp hôn nhân và gia đình - ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 128/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình - Ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
