Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LỤC NGẠN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 128/2024/HS-ST

Ngày: 15-10-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Ngọc Hà.
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Đồng.
  • Ông Lãnh Văn Việt.
  • - Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Minh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vĩnh, Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 10 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 113/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 129/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Lã Văn L, sinh ngày 06 tháng 4 năm 1996, tại huyện L, tỉnh Bắc Giang; Tên gọi khác: Không; Quê quán: Xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Nơi thường trú: Thôn V, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 6/12; Dân tộc: Nùng; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lã Văn H và bà Vy Thị M; Có vợ là Lý Thị T và 01 con;

Tiền án: Tại Bản án số 118/2023/HS-ST ngày 30/11/2023 của Toà án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang xử phạt Lã Văn L 07 (bảy) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 21/9/2023, phải bồi thường cho bị hại số tiền 5.000.000 đồng. Ngày 21/4/2024, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương, bị cáo chưa chấp hành trách nhiệm bồi thường dân sự.

Tiền sự: Không.

Bị cáo giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/7/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt).

- Bị hại:

Ông Nguyễn Quốc O, sinh năm 1960 (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).

Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Hỷ Văn N, sinh năm 1979 (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).
  2. Nơi cư trú: Thôn T, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

  3. Anh Vũ Văn K, sinh năm 1984 (vắng mặt).
  4. Nơi thường trú: Tổ dân phố số 3, thị trấn Kép, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.

    Nơi ở: Tổ dân phố số 1, thị trấn Kép, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lã Văn L là đối tượng có tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xoá án tích. Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 29/7/2024, L đi bộ từ thị trấn C hướng đi thành phố B. Khi đi đến cửa phòng khám Đ, thuộc tổ dân phố Q, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang, L phát hiện 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX biển kiểm soát 98E1-114.29 của ông Nguyễn Quốc O vẫn cắm chìa khoá điện và không có người trông coi nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Lâu tiến đến vị trí xe mô tô mở chìa khoá điện, sau đó dắt xe ra đường quốc lộ 31 điều khiển theo hướng L đi L để tìm chỗ tiêu thụ tài sản. Khi đi đến phòng trọ tại tổ dân phố số A, thị trấn K, huyện L, tỉnh Bắc Giang thì L có gặp anh Vũ Văn K hỏi vay số tiền 800.000 đồng, đồng thời để xe mô tô lại làm tin; anh K đồng ý và đưa tiền cho L. Sau khi nhận tiền Lâu tiêu xài cá nhân hết. Đến hồi 09 giờ cùng ngày ông O phát hiện bị mất tài sản.

Ngày 30/7/2024, ông Nguyễn Quốc O đã làm đơn trình báo đến Công an huyện L về nội dung sự việc và giao nộp 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 011444 (bản phô tô) để phục vụ công tác điều tra. Ngay sau khi tiếp nhận, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành trích xuất và sao lưu vào đĩa DVD dữ liệu tại camera an ninh tại phòng khám Đ liên quan đến vụ trộm cắp ngày 29/7/2024 để phục vụ điều tra. Ngày 30/7/2024 anh Vũ Văn K giao nộp 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Wave RSX biển kiểm soát 98E1-114.29 số khung 673292 số máy 5124533 để phục vụ công tác điều tra.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 88/KL-HĐĐGTS ngày 05/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda số loại Wave RSX màu đen đỏ xám trắng biển kiểm soát 98E1-114.29 số máy 5124533 số khung 673292 dung tích xi lanh 109cm³ có giá trị tài sản là 5.500.000 đồng.

Đối với Vũ Văn K khai nhận: Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 29/7/2024, khi K đang ở phòng trọ tại tổ dân phố số A, thị trấn K, huyện L thì có 01 nam thanh niên đến hỏi thuê phòng trọ và muốn mượn tiền 800.000 đồng, đồng thời nói để xe mô tô của mình lại làm tin nói đây là tài sản cá nhân, vài ngày sau sẽ trả tiền và chuộc lại xe. Khi K cho vay tiền không có ai biết chứng kiến nội dung sự việc, không có hợp đồng văn bản gì. Đến ngày 30/7/2024, K biết nội dung sự việc nên giao nộp xe mô tô để phục vụ điều tra. Do đó không có căn cứ để xử lý đối Vũ Văn K về tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.

  • * Từ những nội dung nêu trên, bản Cáo trạng số 126/CT-VKS ngày 28 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Lã Văn L về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1, Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
  • * Tại phiên tòa, bị cáo Lã Văn L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản Cáo trạng đã truy tố. Hội đồng xét xử đã công bố lời khai của những người vắng mặt. Bị cáo không có ý kiến gì về lời khai của những người này.

Sau phần xét hỏi, tại phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang vẫn giữ nguyên quan điểm như bản Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo Lã Văn L, đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt Lã Văn L từ 12 đến 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (ngày 31/7/2024). Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về án phí: Do bị cáo là dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nên miễn án phí cho bị cáo.

Bị cáo không có tranh luận gì đối với đại diện Viện kiểm sát.

Thực hiện lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, bị hại vắng mặt nhưng có đơn xin vắng mặt; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt. Hội đồng xét xử thấy trong hồ sơ đã có đầy đủ lời khai thể hiện quan điểm của những người này và sự vắng mặt của họ không gây ảnh hưởng đến việc xét xử. Căn cứ vào Điều 292 - Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người này.
  3. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay là phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L, phù hợp với lời khai của bị hại, kết luận định giá tài sản cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 29/7/2024, tại tổ dân phố Q, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Lã Văn L thực hiện hành vi trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Wave RSX biển kiểm soát 98E1-114.29 có giá trị là 5.500.000 đồng của ông Nguyễn Quốc O rồi mang đi bán lấy tiền tiêu sài cá nhân hết. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173-Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử thấy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173-Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng quy định pháp luật.
  4. Về tính chất của vụ án: Bị cáo là người có năng lực pháp luật hình sự đầy đủ, đã lợi dụng sơ hở của bị hại để thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do vậy cần phải xử lý nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự mới đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm nói chung. Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định mức án phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo.
  5. Về nhân thân bị cáo thấy: Bị cáo là người có nhân thân xấu, năm 2023 đã bị Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang xử phạt 07 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
  6. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thấy: Bị cáo đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
  7. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa, thấy rằng bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do đó, cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
  8. Về mức hình phạt đối với bị cáo: Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Để có tiền chi tiêu cá nhân, bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở chủ sở hữu để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Bản thân bị cáo đã bị xét xử về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học, tiếp tục phạm tội với lỗi cố ý. Điều đó thể hiện bị cáo là người khó cải tạo và coi thường pháp luật nên cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát để cải tạo bị cáo thành công dân tốt, có ích cho xã hội.
  9. Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự thì bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, do bị cáo không có công việc ổn định, là người dân tộc thiểu số sống ở vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ.
  10. Về những vấn đề khác: Đối với Vũ Văn K khi cho bị cáo vay tiền không có ai biết chứng kiến nội dung sự việc, không có hợp đồng văn bản gì, không biết tài sản do bị cáo trộm cắp mà có. Do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý đối Vũ Văn K về tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có là có căn cứ.

Đối với nguồn gốc xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Wave RSX biển kiểm soát 98E1-114.29, ông Nguyễn Quốc O khai nhận là anh Hỷ Văn N (là con rể ông O) cho mượn làm phương tiện đi lại. Tại phiếu trả lời xác minh xe biển số 98E1-114.29, Chủ xe Hỷ Văn N địa chỉ T, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang; màu sơn trắng xanh đen; số máy JC52E5124533 số khung RLHJC5228CY673292 dung tích xi lanh 109cm³. Kết quả tra cứu xe máy vật chứng: Không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng.

  1. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Nguyễn Quốc O đã nhận lại tài sản bị trộm cắp, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm. Anh Vũ Văn K không yêu cầu bị cáo trả lại anh số tiền 800.000 đồng. Do vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
  2. Về xử lý vật chứng: Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Wave RSX biển kiểm soát 98E1-114.29, quá trình điều tra xác định chiếc xe này là của anh Hỷ Văn N (là con rể ông O) cho ông O mượn làm phương tiện đi lại. Ngày 05/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã xử lý vật chứng trả lại chiếc xe mô tô cho anh Hỷ Văn N là có căn cứ. Nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
  3. Về án phí: Bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số sống ở vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn nên miễn cho bị cáo không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 292, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:

  1. 1. Về trách nhiệm hình sự: Xử phạt bị cáo Lã Văn L 01 (một ) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (ngày 31/7/2024). Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  2. 2. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lã Văn L.
  3. 3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Lục Ngạn;
  • - Cơ quan CSĐT Công an huyện Lục Ngạn;
  • - Chi cục THADS huyện Lục Ngạn;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - UBND xã nơi bị cáo cư trú;
  • - Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu: Văn phòng, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lương Thị Ngọc Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 128/2024/HS-ST ngày 15/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG về hình sự về tội trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 128/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lã Văn L - Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger