|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG TỈNH THỪA THIÊN HUẾ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 127/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 28/9/2024
V/v Tranh chấp ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thúc Mỹ.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Hồ Thế Vinh.
- Bà Trần Thị Thu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tường Vy- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Vang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân Tiên- Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế (Số B Đường H, thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế) xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 112/2024/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 8 năm 2024 về việc “Tranh chấp xin ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1973; địa chỉ: Thôn H, xã V, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
Bị đơn: ông Nguyễn Hữu M, sinh năm 1977; địa chỉ: Thôn H, xã V, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị K trình bày như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị K và ông Nguyễn Hữu M quen biết nhau thông qua sự giới thiệu của hai bên gia đình, sau một thời gian tìm hiểu nhau thì kết hôn, đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế ngày 31/8/2007. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau được 21 năm tại Thôn H, xã V, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cải vã, xúc phạm lẫn nhau. Ông M có hành động bạo lực với bà Nguyễn Thị K. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà K xin được ly hôn với ông M.
- Về con chung: Bà Nguyễn Thị K khai vợ chồng có 03 con chung, trong đó 01 cháu đã qua đời. Còn lại 02 cháu Nguyễn Thị Thanh K1, sinh ngày 10/12/1995 và cháu Nguyễn Tuấn B, sinh ngày 20/02/2003. Hai con đã trưởng thành, trên 18 tuổi nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị K khai không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản ghi lời khai ngày 12/9/2024, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Nguyễn Hữu M trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: ông Nguyễn Hữu M và bà Nguyễn Thị K tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 31/7/2007 tại UBND xã V, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vợ chồng chung sống được một thời gian thì ông M vào N làm ăn, nghi ngờ bà K có quan hệ với người đàn ông khác nên vợ chồng thường xuyên gây gổ, cải vã. Nay bà K xin ly hôn thì ông M đồng ý, đề nghị Tòa án giải quyết cho vợ chồng ly hôn.
- Về con chung: ông Nguyễn Hữu Minh xác n vợ chồng có 03 con chung, trong đó 01 cháu đã qua đời. Còn lại 02 cháu Nguyễn Thị Thanh K1, sinh ngày 10/12/1995 và cháu Nguyễn Tuấn B, sinh ngày 20/02/2003 đã thành niên nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Ông Nguyễn Hữu Minh xác n vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi nghị án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký đều chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự, không có kiến nghị gì cần khắc phục.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của Bà Nguyễn Thị K, cho bà K được ly hôn ông M. Về con chung: Do hai con chung Nguyễn Thị Thanh K1, sinh ngày 10/12/1995 và cháu Nguyễn Tuấn B, sinh ngày 20/02/2003 đã thành niên nên không xem xét giải quyết. Về tài sản chung và nợ chung, bà K, ông M đều xác nhận không có, không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét. Về án phí: Buộc bà K phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, trên cơ sở kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị K và ông Nguyễn Hữu M chung sống với nhau, đã thực hiện đầy đủ các thủ tục về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam nên là hôn nhân hợp pháp.
Xét về yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị K, thấy rằng: Theo kết quả thu thập tài liệu, chứng cứ, lời khai của bà K, ông M, quá trình Tòa án điều tra, xác minh thu thập chứng cứ, có cơ sở xác định nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn vợ chồng là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên mâu thuẫn, vợ chồng thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau. Quá trình giải quyết, ông M cũng đồng ý ly hôn bà K. Nhận thấy vợ chồng ông M và bà K đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ theo khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà Nguyễn Thị K được ly hôn với ông Nguyễn Hữu M là đúng quy định pháp luật.
[3] Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Thanh K1 và Nguyễn Tuấn B đã thành niên, đủ 18 tuổi. Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị K và ông Nguyễn Hữu Minh xác n không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
[5] Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị K chịu án phí ly hôn 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, Điều 57 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị K, cho Bà Nguyễn Thị K được ly hôn ông Nguyễn Hữu M; quan hệ hôn nhân chấm dứt kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
- Về con chung: Các con chung Nguyễn Thị Thanh K1, Nguyễn Tuấn B đã thành niên, đủ 18 tuổi. Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà K, ông M không yêu cầu Tòa án không giải quyết nên không xem xét.
- Về án phí sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị K phải chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng; được khấu trừ hết số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà bà K đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Vang theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí 0004401 ngày 01/8/2024.
- Các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thúc Mỹ |
Bản án số 127/2024/HNGĐ-ST ngày 28/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 127/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Kha - Nguyễn Hữu Minh
