Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Bản án số: 128/2024/HS-PT

Ngày 12-9-2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Vân Thúy

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Bích Thuỷ

Ông Phạm Hữu Trường

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Minh Ngọc - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Trương Ngọc Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 117/2024/TLPT-HS ngày 16 tháng 8 năm 2024;

Do Bản án hình sự sơ thẩm số 119/2024/HS-ST ngày 10 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng có kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 116/2024/QĐXXPT-HS ngày 28 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo có kháng cáo:

Phạm Việt A, sinh ngày 17/10/2006 tại Hải Phòng (thời điểm phạm tội 16 tuổi 06 tháng 13 ngày); nơi cư trú: Số E Đ, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Xuân N và Nguyễn Thị Ngọc B; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 14/9/2023; có mặt.

- Bị hại không kháng cáo:

  • + Anh Nguyễn Mạnh T, sinh ngày 12/6/2005; nơi cư trú: Thôn K, xã H, huyện A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt;
  • + Anh Lương Việt H, sinh ngày 19/4/2005; nơi cư trú: Tổ dân phố C, thị trấn A, huyện A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt;
  • + Anh Nguyễn Duy Q, sinh ngày 25/11/2007; người đại diện theo pháp luật của anh Q: Ông Đỗ Duy T1, sinh năm 1980; nơi cư trú: Thôn B, xã B, huyện A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt;

- Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Phạm Việt A: Ông Phạm Xuân N, sinh năm 1981; nơi cư trú: Số E Đ, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng; có mặt;

- Người tham gia tố tụng khác: Đại diện Đoàn TNCS Hồ Chí Minh phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng (nơi bị cáo Phạm Việt A sinh sống); địa chỉ: UBND phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng - Số B phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng; vắng mặt;

- Các bị cáo không kháng cáo: Trần Đức M, Nguyễn Bỉnh L, Trần Duy H1, Vũ Hoàng H2, Trần Anh Q1, Đỗ Hoàng B1, Trần Anh Q1 và Hoàng Mạnh C; vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo bản án hình sự sơ thẩm, nội dung vụ án như sau: Qua mạng xã hội Facebook, ngày 26/4/2023, Trần Đức M và anh Nguyễn Mạnh T gặp và đổi xe mô tô cho nhau. M đổi xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Anpha, BKS 15P1-027.75 cùng giấy tờ xe (bản gốc) của M cho anh T để lấy xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, BKS 15B3-511.05 cùng giấy tờ xe (bản phô tô) của anh T. Đến ngày 30/4/2023, gia đình M phát hiện việc đổi xe nên không đồng ý và yêu cầu M phải lấy lại xe đã đổi. M liên lạc với anh T để lấy lại xe thì anh T đồng ý với điều kiện M phải trả cho anh T 4.000.000 đồng do anh T đã bỏ ra để sửa chữa xe của M sau khi đổi. Do không có tiền, M đã nảy sinh ý định chiếm đoạt lại xe và nhắn tin cho Trần Anh Q1 và Nguyễn Bỉnh L nội dung sự việc và rủ đi cùng với M cướp lại xe, Q1 và L đồng ý. Khi M nhắn tin cho L thì L và Vũ Hoàng H2 đang ở nhà Đỗ Hoàng B1 (Số D P, phường V, quận N, thành phố Hải Phòng). L nói với H2 và B1 về việc M rủ đi cướp lại xe thì H2, B1 đồng ý. Khoảng 16 giờ cùng ngày, M nhắn tin cho anh T và hẹn gặp anh T vào lúc 23 giờ 45 phút cùng ngày tại khu vực AEON MALL (phường K, quận L, thành phố Hải Phòng) để đổi lại xe, giao tiền. Khoảng 17 giờ cùng ngày, Q1 gặp Phạm Việt A tại nhà anh Đ, sinh năm 2004, trú tại phường N, quận H, thành phố Hải Phòng. Q1 kể với Việt A về việc M rủ đi cướp xe thì Việt A đồng ý tham gia cùng.

Đến 23 giờ cùng ngày, anh T rủ anh Lương Việt H và Nguyễn Duy Q cùng đi đổi xe thì cả hai đồng ý. Anh Duy Q2 là người điều khiển xe mô tô Honda Wave A1, BKS 15P1-027.75 chở anh T ngồi giữa, anh H ngồi sau cùng đến khu vực A2 đợi M. Cùng thời điểm này M điều khiển xe mô tô Honda Airblade, BKS 15B3-511.05 chở Q2, còn Việt A điều khiển xe Yamaha Gravita BKS 15G1-052.45 cùng đến chân cầu vượt AEON MALL. Khi đến nơi, M bảo Việt A đi xe vào khu vực bãi gửi xe AEON MALL xem có nhóm của anh T không. Lúc này, Nguyễn Quang Phát s ngày 01/10/2005, trú tại số A Đà Nẵng, phường C, quận N, thành phố Hải Phòng gọi điện hỏi M đang ở đâu, thì M nhắn tin cho P: “đang đi có việc, có giúp thì lên” và gửi vị trí qua zalo cho P. P điều khiển xe mô tô đến chân cầu vượt AEON MALL. Việt A đi đến khu vực AEON MALL nhìn thấy anh Duy Q2 điều khiển xe mô tô Honda Wave A1, BKS 15P1-027.75 chở anh T và H nên quay lại báo cho M biết. Khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, M gọi điện bảo L và C đi ra gầm cầu vượt AEON MALL. Sau đó, L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade BKS 15S1-008.34 chở B1 và H2 từ

2

quán T2, C M, phường H, quận H, thành phố Hải Phòng về nhà B1. L đứng bên ngoài chờ, còn B1 và H2 đi lên phòng ngủ tầng 2 nhà B1 lấy 01 kiếm và 02 con dao mèo trên nóc tủ quần áo. H2 giấu 01 con dao mèo, B1 giấu 01 kiếm, 01 con dao mèo trong áo khoác rồi cả 3 ra chỗ M. Sau khi nhận được điện thoại của M thì C bảo M bị đánh và rủ Trần Duy H1 cùng đi, H1 đồng ý và cầm theo 01 chiếc điếu cày. C điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, BKS: 15B2 – 79921 của C chở H1 phía sau. C chở H1 đi đến khu vực ngã 5 sân bay C thì gặp L điều khiển xe mô tô chở H2 và B1. Tại đây H2 đưa cho H1 01 con dao mèo rồi cả nhóm cùng đi ra khu vực chân cầu vượt AEON MALL.

Do chờ lâu không thấy M nên anh T nhắn tin cho M ra khu vực cầu A, A, Hải Phòng để đổi lại xe. Khi thấy L, H2, B1, C và H1 đến, M thông báo với cả nhóm về việc thay đổi địa điểm đổi xe. Tại đây, B1 đưa cho Q2 01 con dao mèo; M điều khiển xe mô tô của T chở H2 cầm dao mèo ngồi sau; Việt A điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Gravita BKS 15G1-052.45 chở Q2; L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade BKS 15S1-008.34 chở B1; C điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, BKS: 15B2 – 79921 chở H1 cầm dao mèo và điếu cày ngồi sau; P điều khiển xe mô tô (chưa xác định được BKS) một mình rồi tất cả đi đến khu vực chân cầu A. Đến khoảng 00 giờ 10 phút ngày 01/5/2023, nhóm của M đi đến khu vực cầu A (phía quận L) thì tất cả dừng lại. Sau đó M chở H2, Việt A chở Q2 đi lên trên cầu, các xe còn lại đợi ở dưới chân cầu A. Cùng thời điểm này anh Duy Q2 điều khiển xe mô tô BKS 15P1-027.75 chở anh T và H đi đến khu vực chân cầu A thấy nhóm của M nên bỏ chạy. Nhóm của M đuổi theo thì anh Duy Q2 điều khiển xe bỏ chạy vào khu chung cư PG (thôn T, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng). Nhóm của M đuổi theo đến ngã ba khu chung cư PG thì chia làm 02 tốp, M điều khiển xe chở H2, Việt A điều khiển xe chở Q2 rẽ lối khác để chặn đầu, những người còn lại trong nhóm tiếp tục đuổi theo xe nhóm anh T. Anh Duy Q2 điều khiển xe tiếp tục bỏ chạy đến một ngã ba khác trong khu chung cư thì bị xe mô tô do M và Việt A điều khiển chặn phía trước, nên xe do anh Duy Q2 điều khiển đâm vào xe mô tô do M điều khiển làm cả hai xe bị đổ, người trên hai xe ngã ra đường. Anh T, Duy Q2 và H để lại xe mô tô và chạy bộ, trong đó anh H chạy một hướng, anh Duy Q2 và T chạy một hướng. Khi bị ngã ra đường thì H2 bị thương ở chân nên P điều khiển xe mô tô (không xác định được BKS) chở H2 về quán T2. B1 điều khiển xe mô tô của M chở M ra đến đường N thì L gọi điện cho B1 nói quay lại đưa chìa khóa xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade BKS 15S1-008.34. Thấy anh T, Duy Q2 và H bỏ chạy bộ, L cầm dao mèo, C giằng dao mèo trên tay H1, H1 cầm điếu cày rồi cùng Việt A và Q2 đuổi theo thì bắt được anh T và anh Duy Q2, còn anh H bỏ chạy thoát. C dùng sống lưng dao mèo chém, L, Việt A, Q2 và H1 cũng xông vào dùng chân tay đánh anh T và Duy Q2. Sau đó, anh T bỏ chạy thoát, còn anh D Q2 bị Việt A và Q2 giữ lại đưa lên xe chở xung quanh khu PG A để tìm anh T và anh H nhưng không thấy nên đã đi về khu vực vừa xảy ra va chạm. Tại đây, C dùng sống lưng dao mèo chém 1-2 nhát vào chân anh Duy Q2; L lấy dao mèo từ Q2 lao vào hỏi anh Duy Q2 “Giấy tờ xe của bạn tao đâu” rồi dùng sống dao chém

3

02 nhát vào vai trái anh Duy Q2; B1, Q2, Việt A, H1 cũng lao vào dùng chân, tay đánh anh Duy Q2. C nói với cả nhóm “lấy cả hai xe này về khi nào nó trả giấy tờ thì mình trả xe chúng nó”. Sau đó, L điều khiển xe mô tô của B1, H1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Wave Anpha BKS 15P1-027.75 chở M, B1 điều khiển xe mô tô Honda Airblade BKS 15B3-511.05 về nhà B1, cả nhóm giải tán.

Sau khi sự việc xảy ra, anh Nguyễn Mạnh T đã đến Cơ quan Công an trình báo sự việc.

Ngày 19/5/2023 và ngày 12/10/2023 bị cáo L và H1 ra đầu thú.

Quá trình điều tra, Đỗ Hoàng B1 đã giao nộp: 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave Anpha, màu sơn đen, BKS 15 P1-027.75; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, màu đỏ BKS 15S1-008.34; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Ariblade, màu trắng, đen, BKS 15B3-511.05; 01 dao dài 47cm, cán dao bằng gỗ, phần lưỡi dao bằng kim loại hình cánh cung dài 33.3cm; 01 dao dài 44,5cm, cán dao bằng gỗ dài 14cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 31cm, mũi dao nhọn; Trần Đức M giao nộp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro.

Tại Bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 69/KL-HĐĐG ngày 15/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện A kết luận: Trị giá xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Wave Anpha BKS 15P1-027.75 đã qua sử dụng là 14.700.000 đồng.

Tại Cơ quan điều tra, Trần Đức M, Nguyễn Bỉnh L, Phạm Việt A, Trần Duy H1, Vũ Hoàng H2, Đỗ Hoàng B1, Trần Anh Q1 và Hoàng Mạnh C khai nhận hành vi của mình như đã nêu trên.

Anh Nguyễn Mạnh T, Lương Việt H và Nguyễn Duy Q khai như nội dung đã nêu ở trên. Đối với các thương tích của anh T và Duy Q chỉ bị xây sát phần mềm ngoài da, hiện đã hồi phục nên anh T và Duy Q từ chối giám định thương tích. Gia đình Nguyễn Bỉnh L đã bồi thường cho anh D Quân số tiền 10.000.000 đồng chi phí điều trị thương tích. Anh Duy Q2 không có yêu cầu gì khác và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho L. Anh Nguyễn Mạnh Tkhai điều trị thương tích hết 13.468.000 đồng, gia đình bị cáo C và bị cáo H1 đã bồi thường số tiền này cho anh T.

Tại bản Cáo trạng số 89/CT-VKS ngày 26/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện An Dương đã truy tố các bị cáo: Trần Đức M, Nguyễn Bỉnh L, Phạm Việt A, Trần Duy H1, Vũ Hoàng H2, Đỗ Hoàng B1, Trần Anh Q1 và Hoàng Mạnh C về tội Cướp tài sản, theo điểm d, e khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 119/2024/HS-ST ngày 10 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng đã quyết định:

Căn cứ điểm d, e khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17, 38, 54, 58 Bộ luật Hình sự đối với cả 08 bị cáo; áp dụng thêm Điều 91 và Điều 101 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo M, L, Việt A, H1, H2, B1 và Q1.

4

Xử phạt bị cáo Phạm Việt A 04 (Bốn) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam là ngày 14/9/2023.

Ngoài ra, bản án còn tuyên xử mức hình phạt đối với các bị cáo khác. Đồng thời giải quyết về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Phạm Việt A kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Các bị cáo khác không kháng cáo.

* Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo kháng cáo có mặt tại phiên tòa: Giữ nguyên nội dung đã kháng cáo; không kháng cáo về tội danh, về khung hình phạt, kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo khai nhận hành vi phù hợp với nội dung Cáo trạng và bản án sơ thẩm và nói lời sau cùng, các bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, vô cùng ăn năn hối cải nên xin được hưởng sự khoan hồng.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét vai trò của bị cáo so với các bị cáo khác, bị cáo Việt A không sử dụng hung khí, chỉ dùng tay chân đánh bị hại nên đề nghị giảm mức hình phạt cho bị cáo.

* Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng phát biểu ý kiến:

Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo về tội “Cướp tài sản” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tại giai đoạn phúc thẩm, bị cáo Phạm Việt A không cung cấp thêm tài liệu mới chứng minh cho nội dung kháng cáo. Từ các phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Việt A.

Đề nghị tuyên xử về án phí theo quy định. Các nội dung khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên không đề nghị xem xét và có hiệu lực theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

  1. [1] Đơn kháng cáo của bị cáo Phạm Việt A làm trong thời hạn luật định là hợp lệ, được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
  2. [2] Bị cáo Phạm k phạm tội là người chưa đủ 18 tuổi nhưng bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị cáo từ chối người bào chữa. Xét, mặc dù đã được giải thích về chính sách đối với người dưới 18 tuổi phạm tội song đây là sự tự nguyện của bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận, bị cáo được quyền tự trình bày và bào chữa cho mình theo quy định của pháp luật.

- Về nội dung:

5

  1. [3] Bị cáo không kháng cáo về tội danh và điều luật áp dụng nên Bản án sơ thẩm tuyên xử bị cáo phạm tội: “Cướp tài sản” theo điểm d, e khoản 2 Điều 168 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
  2. [4] Xét yêu cầu kháng cáo của bị cáo: Bản án sơ thẩm đã đánh giá nhân thân, vai trò, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo theo quy định của pháp luật.
  3. [5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo trong vụ án và bị cáo Phạm Việt A đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
  4. [6] Về vai trò, Tòa án cấp sơ thẩm đã nhận định: Các bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng với lỗi cố ý trực tiếp và có đồng phạm. Trong đó, bị cáo Việt A là người trực tiếp điều khiển xe máy và cùng Q1 đuổi theo, chặn đầu thì bắt được anh T và anh Duy Q2. Việt A cùng với Q2 và H1 xông vào dùng chân tay đánh anh T và Duy Q2. Sau đó, anh T bỏ chạy thoát, còn anh D Q2 bị Việt A và Q2 giữ lại đưa lên xe chở xung quanh khu PG A để tìm anh T và anh H nhưng không thấy nên đã đi về khu vực vừa xảy ra va chạm. Tại đây, cả bọn tiếp tục đe dọa và hành hung bị hại, trong đó Việt A cũng lao vào dùng chân, tay đánh anh Duy Q2 cùng với các bị cáo khác dùng sống lưng dao mèo chém vào chân và vai trái của anh Duy Q2. Do đó bị cáo Việt A có vai trò thực hành tích cực, phạm tội đến cùng. Tòa án cấp sơ thẩm đánh giá vai trò của bị cáo Việt A ngang với các bị cáo C, L, H1, Q2 là những người trực tiếp dùng hung khí và vũ lực tấn công bị hại để chiếm đoạt tài sản là có căn cứ.
  5. [7] Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm đánh giá về nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo trong đó có Việt A đều chưa có tiền án, tiền sự, thành khẩn khai báo. Sau khi phạm tội, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường theo yêu cầu của bị hại, bị hại và gia đình có đơn xin giảm nhẹ đối với các bị cáo gia đình bị cáo Việt A đang thờ cúng liệt sỹ nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
  6. [8] Về độ tuổi phạm tội: Tòa án cấp sơ thẩm đánh giá độ tuổi của từng bị cáo khi phạm tội đều là người chưa đủ 18 tuổi, trong đó bị cáo Q2 và B1 chưa đủ 16 tuổi; bị cáo Việt A trên 16 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi nên Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các Điều 91 và Điều 101 Bộ luật Hình sự khi lượng hình đối với các bị cáo M, L, Việt A, H1, H2, B1 và Q2 và xử phạt các bị cáo mức án như đã nêu trên, trong đó mức hình phạt đối với Việt A cao hơn so với bị cáo H1 và Q2, ngang bằng với L và thấp hơn so với các bị cáo khác là có căn cứ.
  7. [9] Tại cấp phúc thẩm, bị cáo Phạm Việt A không cung cấp được thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự hoặc tài liệu chứng cứ mới. Tòa án cấp sơ thẩm xem xét mức hình phạt đối với các bị cáo là tương xứng với vai trò, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và phù hợp với tính chất, mức độ hành vi pham tội của các bị cáo. Do đó, yêu cầu kháng cáo của bị cáo Phạm Việt A về việc xin giảm nhẹ hình phạt là không có cơ sở chấp nhân nên cần giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm đối với bị cáo là có căn cứ.

6

  1. [10] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo Phạm Việt A không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm, tuy nhiên do bị cáo là người chưa đủ 18 tuổi nên do người đại diện hợp pháp của bị cáo nộp thay;
  2. [11] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Việt A; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 119/2024/HS-ST ngày 10 tháng 7 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng đối với bị cáo Phạm Việt A.

- Căn cứ điểm d, e khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17, 38, 54, 58 Bộ luật Hình sự; áp dụng thêm Điều 91 và Điều 101 Bộ luật Hình:

Xử phạt bị cáo Phạm Việt A 04 (Bốn) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam là ngày 14 tháng 9 năm 2023.

2. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án:

Bị cáo Phạm Việt A phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm. Bị cáo Phạm Việt A là người chưa đủ 18 tuổi nên do người đại diện hợp pháp của bị cáo nộp thay án phí.

4. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP.HP;
  • - VKSND huyện An Dương;
  • - PV27 Công an TP.HP;
  • - Cơ quan CSĐT huyện An Dương;
  • - Cơ quan THAHS huyện An Dương;
  • - TAND huyện An Dương;
  • - Sở Tư pháp TP;
  • - Bị cáo; Trại Tạm giảm
  • - Lưu: HS, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Vân Thúy

7

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 128/2024/HS-PT ngày 12/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự phúc thẩm về tội cướp tài sản

  • Số bản án: 128/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm về tội Cướp tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 12/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Việt A cướp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger