TOÀ ÁN NHÂN DÂN Q. THANH KHÊ-TP ĐÀ NẴNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 128/2024/HS- ST Ngày: 19-09-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Thanh Thuỷ
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Trung Nam
- Ông Phạm Thuận
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Phan Khánh Vi- Thư ký Toà án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên toà: Bà Lê Thanh Hải- Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 09 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng, Toà án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 119/2024/TLST- HS ngày 28 tháng 08 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 119/2024/QĐXXST- HS ngày 06 tháng 09 năm 2024 đối với bị cáo:
Lê Văn T (Tên gọi khác: không) - Sinh ngày 27 tháng 11 năm 1989 tại Đà Nẵng; nơi ĐKNKTT: tổ C, phường C, quận T, thành phố Đà Nẵng; chỗ ở hiện nay: tổ F, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn M (c) và bà Lê Thị Lệ A (s); có vợ là Võ Thị Nhật L và 04 con, con lớn nhất sinh năm 2015, con nhỏ nhất sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân:
- - Ngày 20/04/2009, bị TAND quận Thanh Khê xử phạt 04 năm 06 tháng tù về các tội “Cưỡng đoạt tài sản”, “Trộm cắp tài sản” và “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tại Bản án số 45/2009/HSST.
- - Ngày 26/06/2012, bị TAND quận Thanh Khê xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 80/2012/HSST.
- - Ngày 15/05/2024, TAND quận Hải Châu áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời gian 12 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 03/07/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận T, TP .. (có mặt)
- Bị hại: Anh Ngô Anh P, sinh năm 1994; Địa chỉ: Thôn V, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng). (có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Lê T1, sinh năm 1972; Địa chỉ: F L, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. (có mặt)
- Chị Võ Thị Nhật L; Địa chỉ: tổ F, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào đầu năm 2023, do bị thất lạc giấy đăng ký xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade, màu cam đen xám, mang biển kiểm soát 43D1-650.14 nên vào ngày 29/5/2023, Lê Văn T đến Công an quận T để báo mất và đề nghị cấp lại giấy đăng ký xe mô tô nêu trên. Khoảng 02 tuần sau, trong lúc dọn dẹp nhà T tìm lại được giấy đăng ký xe mô tô bị thất lạc nên nảy sinh ý định dùng giấy đăng ký xe ban đầu để bán xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade, màu cam đen xám, mang biển kiểm soát 43D1-650.14 sau đó giả vờ thỏa thuận thuê lại nhằm chiếm đoạt chiếc xe mô tô trên và sử dụng giấy đăng ký xe được cấp lại để đi cầm cố lấy tiền tiêu xài cá nhân.
Vào ngày 30/6/2023, Lê Văn T đến Công an quận T để nhận giấy đăng ký xe mô tô được cấp lại. Ngày 08/7/2023, T gặp anh Ngô Anh P tại trước tiệm cầm đồ ở địa chỉ D T, phường X, quận T, thành phố Đà Nẵng để hỏi bán xe mô tô của mình. Qua thỏa thuận, T đồng ý bán xe mô tô trên cho anh P với giá 17.000.000 đồng (Mười bảy triệu đồng). Sau khi viết giấy tờ mua bán xe, T giao giấy đăng ký xe ban đầu cho anh P và giả vờ hỏi thuê lại xe mô tô vừa bán để làm phương tiện đi lại. Anh P tin tưởng đồng ý và cho thuê lại xe mô tô trên trong thời hạn 01 tháng (từ ngày 08/7/2023 đến ngày 08/8/2023), có hợp đồng thuê xe. Số tiền bán xe có được, Lê Văn T sử dụng để chi tiêu cá nhân và mua ma túy sử dụng.
Đến ngày 10/8/2024, do đã tiêu xài hết số tiền bán xe mô tô có được, Lê Văn T đem xe mô tô trên đến tiệm cầm đồ Kim Á do anh Lê T1 làm chủ và sử dụng giấy đăng ký xe mô tô được Cơ quan Công an cấp lại cầm cố được số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng). Số tiền có được, T sử dụng để chi tiêu cá nhân và mua ma túy sử dụng.
* Vật chứng tạm giữ:
- 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade, màu cam đen xám, mang biển kiểm soát 43D1-650.14, số khung RLHJF6304FZ006406, số máy: JF63E1006433;
- 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô BKS: 43D1-650.14, số: 43 014037, do Công an quận T cấp ngày 17/02/2023;
- 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô BKS: 43D1-650.14, số: 43 022332, do Công an quận T cấp lại lần 1, ngày cấp 29/06/2023, tên chủ phương tiện Lê Văn T;
- 01 (một) bản phôtô CCCD số: [...] mang tên Lê Văn T là giấy tờ Lê Văn T sử dụng khi đi cầm cố xe mô tô xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade, màu cam đen xám, BKS: 43D1-650.14.
Tại bản kết luận định giá tài sản ngày 20/05/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS quận T xác định giá trị chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade, màu cam đen xám, BKS: 43D1-650.14 bị chiếm đoạt là 15.800.000đ (Mười lăm triệu tám trăm ngàn đồng).
* Về trách nhiệm dân sự: Anh Ngô Anh P đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì thêm.
- Ông Lê T1 là chủ cơ sở cầm đồ K tại địa chỉ số F L, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng yêu cầu Lê Văn T bồi thường số tiền 20.000.000 đồng.
* Về xử lý vật chứng:
Ngày 25/6/2024, Cơ quan CSĐT – Công an quận T đã trả lại cho anh Ngô Anh P 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade, màu cam đen xám, BKS: 43D1-650.14, số khung RLHJF6304FZ006406, số máy: JF63E1006433 và 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô BKS: 43D1-650.14, số: 43 014037, do Công an quận T cấp ngày 17/02/2023.
Quá trình điều tra, Lê Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Tại bản cáo trạng số 110/CT-VKS ngày 27 tháng 08 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã truy tố: Lê Văn T về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn T phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".
Căn cứ khoản 1 Điều 174, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; Xử phạt Lê Văn T từ 18 tháng đến 24 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị HĐXX buộc bị cáo bồi thường số tiền 20.000.000 đồng theo yêu cầu của ông Lê T1 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tiếp tục lưu giữ tại hồ sơ vụ án:
- + 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô BKS: 43D1-650.14, số: 43 022332, do Công an quận T cấp lại lần 1, ngày cấp 29/06/2023, tên chủ phương tiện Lê Văn T;
- + 01 (một) bản phôtô CCCD số: [...] mang tên Lê Văn T là giấy tờ Lê Văn T sử dụng khi đi cầm cố xe mô tô xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade, màu cam đen xám, BKS: 43D1-650.14.
Tại phiên tòa, bị cáo Lê Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng truy tố và không có ý kiến tranh luận gì với phần luận tội của Kiểm sát viên. Bị cáo xin Hội đồng xét xử cứu xét giảm nhẹ hình phạt.
Người bị hại anh anh Ngô Anh P đề nghị Hội đồng xét xử xử lý bị cáo theo quy định pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê T1 đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo bồi thường số tiền 20.000.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo Lê Văn T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cở sở kết luận: Lợi dụng việc được cấp lại giấy đăng ký xe mô tô mặc dù đã tìm lại được giấy đăng ký xe mô tô bị thất lạc. Vào ngày 08/7/2023, tại trước địa chỉ D T, phường X, quận T, thành phố Đà Nẵng, sau khi đã bán xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade, màu cam đen xám, BKS: 43D1-650.14 thuộc sở hữu của mình cho anh Ngô Anh P với giá 17.000.000 đồng và giao giấy đăng ký xe ban đầu cho anh P, Lê Văn T đã có hành vi dùng thủ đoạn gian dối giả vờ thỏa thuận thuê lại xe mô tô đã bán làm phương tiện đi lại. Do tin tưởng, anh P đồng ý giao xe cho bị cáo thuê trong thời hạn 01 tháng (từ ngày 08/7/2023 đến ngày 08/8/2023). Đến ngày 10/8/2024, Lê Văn T đem xe mô tô trên đến tiệm cầm đồ Kim Á do anh Lê T1 làm chủ và sử dụng giấy đăng ký xe mô tô được Cơ quan Công an cấp lại cầm cố được số tiền 20.000.000 đồng chi tiêu cá nhân và mua ma túy sử dụng.
Tại bản kết luận định giá tài sản ngày 20/05/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS quận T xác định giá trị chiếc xe mô tô bị cáo chiếm đoạt của anh P là 15.800.000đ (Mười lăm triệu tám trăm ngàn đồng).
Hành vi dùng thủ đoạn gian dối giả vờ thỏa thuận thuê xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade BKS: 43D1-650.14 trị giá 15.800.000 đồng của anh Ngô Anh P làm phương tiện đi lại sau đó mang đi cầm cố lấy tiền tiêu xài của bị cáo đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật hình sự như bản cáo trạng số 110/CT-VKS ngày 27 tháng 08 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét hành vi phạm tội của bị cáo Lê Văn T là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trị an xã hội tại địa phương Nhân thân của bị cáo xấu, ngày 20/04/2009, bị TAND quận Thanh Khê xử phạt 04 năm 06 tháng tù về các tội “Cưỡng đoạt tài sản”, “Trộm cắp tài sản” và “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tại Bản án số 45/2009/HSST và ngày 26/06/2012, bị TAND quận Thanh Khê xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 80/2012/HSST; ngày 15/05/2024, bị TAND quận Hải Châu áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời gian 12 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” nên đối với bị cáo cần phải xử lý nghiêm khắc.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai báo thành khẩn, hoàn cảnh gia đình khó khăn có 04 con nhỏ, trong đó có 01 con sinh năm 2021 và 01 con sinh năm 2023. Hội đồng xét xử sẽ áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để cân nhắc giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt theo quy định.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê đề nghị là phù hợp với nhân thân, tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra. Do vậy, cần thiết cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê T1 đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo bồi thường số tiền 20.000.000 đồng tiền cầm cố xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade, màu cam đen xám, BKS: 43D1-650.14
Xét yêu cầu bồi thường của ông Lê T1 là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật, bị cáo T đồng ý bồi thường toàn bộ số tiền theo yêu cầu của ông T1 nên Hội đồng xét xử chấp nhận buộc bị cáo phải bồi thường cho ông Lê T1 số tiền 20.000.000 đồng.
[7] Về xử lý vật chứng: Đối với: 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô BKS: 43D1-650.14, số: 43 022332, do Công an quận T cấp lại lần 1, ngày cấp 29/06/2023, tên chủ phương tiện Lê Văn T; 01 (một) bản phôtô CCCD số: [...] mang tên Lê Văn T là giấy tờ Lê Văn T sử dụng khi đi cầm cố xe mô tô xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade, màu cam đen xám, BKS: 43D1-650.14 thì cần tiếp tục lưu giữ tại hồ sơ vụ án.
[8] Về những vấn đề khác có liên quan đến vụ án:
Đối với ông Lê T1 là chủ cơ sở cầm đồ K tại địa chỉ số F L, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng khi nhận cầm cố không biết xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade, mang biển kiểm soát 43D1-650.14 là tài sản do Lê Văn T phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T không truy cứu trách nhiệm hình sự là có cơ sở.
Đối với hành vi mua ma túy của Lê Văn T, chưa xác định được đối tượng bán ma túy cho T, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T tiếp tục làm rõ, xử lý sau.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm và án phí Dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
- - Căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt: bị cáo Lê Văn T 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/07/2024.
* Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tiếp tục lưu giữ tại hồ sơ vụ án:
- - 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô BKS: 43D1-650.14, số: 43 022332, do Công an quận T cấp lại lần 1, ngày cấp 29/06/2023, tên chủ phương tiện Lê Văn T;
- - 01 (một) bản phôtô CCCD số: [...] mang tên Lê Văn T.
* Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 586, Điều 589 của Bộ luật dân sự.
Buộc bị cáo Lê Văn T bồi thường cho ông Lê T1 số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án nếu người có nghĩa vụ thi hành chậm thực hiện nghĩa vụ bồi thường thì phải chịu lãi suất trên số tiền chậm trả theo quy định tại khoản 2 điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chậm thi hành án.
2. Về án phí: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
Bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm và 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
3. Quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Riêng vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 02 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thanh Thuỷ |
Bản án số 128/2024/HS- ST ngày 19/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 128/2024/HS- ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố Lê Văn T phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản"
