Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

Bản án số: 128/2024/DS-PT

Ngày 18 - 6 - 2024

V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

——————————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: ông Nguyễn Hà Giang;

Các Thẩm phán: bà Phạm Thị Chuyền và bà Triệu Thị Luyện;

Thư ký phiên toà: bà Nguyễn Thị Hà Giang - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: bà Hà Thị Hải - Kiểm sát viên.

Trong ngày 18/6/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 68/2024/TLPT-DS ngày 19/4/2024, về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” do Bản án dân sự sơ thẩm số 06/2024/DS-ST ngày 01/03/2024 của Toà án nhân dân huyện Lạng Giang bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 123/2024/QĐ-PT ngày 08/5/2024, Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 219/TB-TA ngày 20/5/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 172/2024/QĐ-PT ngày 10/6/2024 giữa:

Nguyên đơn: bà Hà Thị L, sinh năm 1961 (có mặt);

Địa chỉ: thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà L: ông Giáp Tuấn T, luật sư công ty L4, đoàn luật sư tỉnh B (có mặt).

Địa chỉ: số B, Đ, phường N, thành phố B.

Bị đơn: ông Nguyễn Văn G, sinh năm 1945 (vắng mặt) và bà Đoàn Thị L1, sinh năm 1953 (có mặt).

Cùng địa chỉ: thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Nguyễn Văn V, sinh năm 1985 (có mặt).
  2. Chị Nguyễn Thị S, sinh năm 1990 (vắng mặt).
  3. Cùng địa chỉ: thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

  4. UBND huyện L, tỉnh Bắc Giang do ông Ngô Ngọc Đ – Phó trưởng phòng tài nguyên và môi trường huyện L đại diện theo uỷ quyền (vắng mặt).
  5. UBND xã T, huyện L do Phạm Văn Đ1, Chủ tịch đại diện theo pháp luật (vắng mặt).

Người kháng cáo: bị đơn – bà Đoàn Thị L1; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – anh Nguyễn Văn V.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Bản án dân sự sơ thẩm số 06/2024/DS-ST ngày 01/03/2024 của Toà án nhân dân huyện Lạng Giang, nội dung vụ án như sau:

Nguyên đơn - bà Hà Thị L trình bày: năm 1963, bà L được vợ chồng cụ Nguyễn Thị L2 (tức Nguyễn Thị N) và Hà Xuân M nhận làm con nuôi theo quy định pháp luật. Cụ L2, cụ M không có con chung, con nuôi nào khác. Năm 1987, cụ M chết, mẹ con bà L vẫn sinh sống trên thửa đất diện tích 1.886,1m² tại thôn T, xã T, huyện L. Khoảng năm 1997, ông Nguyễn Văn G (em của cụ L2) và con trai Nguyễn Văn V xảy ra mâu thuẫn không thể ở chung, anh V đã sang ở nhờ nhà, đất của cụ L2. Sau đó, anh V đã xây dựng 01 nhà cấp 4 nhỏ, tường cay, lợp broximang, diện tích gần 30m² và 01 nhà tắm để sử dụng. Ngày 15/01/2009, UBND huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) số AP 109093, số H 02232 mang tên hộ bà Nguyễn Thị N đối với thửa đất số 14, tờ bản đồ số 63, diện tích 1.886,1 m² (250 m² đất ở, diện tích 1.636,1m² đất trồng cây lâu năm). Tại thời điểm cấp giấy chứng nhận, hộ cụ N có duy nhất 01 khẩu là cụ N, không có thành viên nào khác.

Năm 2012, cụ N đi viện điều trị bệnh, khi về nhà thì không thấy GCNQSDĐ thửa đất số 14 cũng như những giấy tờ khác. Ngày 18/11/2013, cụ làm đơn trình báo về việc mất GCNQSDĐ gửi UBND xã và Công an xã T. Ngày 26/02/2014, cụ N đột ngột qua đời. Đến năm 2021 bà L làm đơn đến UBND xã T đề nghị cấp lại GCNQSDĐ cho cụ N là mẹ nuôi của bà L do bị mất. Quá trình UBND xã làm việc với ông G và bà L, ông G đã thừa nhận GCNQSDĐ của cụ N là do ông giữ. Bà L khởi kiện đề nghị Tòa án buộc ông G trả GCNQSDĐ của cụ N cho bà. Quá trình giải quyết, ông G thừa nhận giữ GCNQSDĐ của cụ N và sau đó đã giao lại cho con trai là anh V giữ. Nay bà L yêu cầu Tòa án buộc ông G và anh V có trách nhiệm liên đới trả lại cho bà L GCNQSDĐ của cụ Nguyễn Thị N.

Đối với biên bản họp gia đình ngày 06/8/2011 có chữ ký của cụ Nguyễn Thị N: có nội dung ghi cụ Nguyễn Thị L2 (tức Nguyễn Thị N) “cho cháu Nguyễn Văn VNguyễn Thị S số thửa 14, tờ bản đồ 63, diện tích 1.886,1m²”, trên văn bản này có chữ ký của cụ N, không có chữ ký của anh V và chị S, văn bản này đến khi hoà giải bà L mới biết.

Nay bà L yêu cầu Tòa án tuyên vô hiệu biên bản họp gia đình ghi ngày 06/8/2011 có chữ ký của bà N và có xác nhận của trưởng thôn là ông Lưu Ngọc T1 do biên bản này vi phạm về hình thức, đã bị huỷ bỏ (gạch chéo) và chưa được thực hiện việc giao nhận thửa đất số 14.

Đối với giấy giao kèo ngày 09/02/2016, có nội dung giấy giao kèo như sau: “gia đình bà Hà Thị L và ông Phạm Văn P...có thoả thuận nhượng cho bà Đoàn Thị L1 một nửa đất ở do bà Nguyễn Thị L2 thừa kế. Mảnh đất nhượng cho bà L1 phía Đông giáp bãi mía bà L, phía Bắc giáp đất bà T2, phía Tây giáp nhà ông T3, phía Nam giáp bãi ông T4 và đường đi 12,5m kéo xuống cổng (đường làng) 26,5m với giá thoả thuận là 50.000.000đ. Trong năm 2018 bà L và gia đình bà sẽ làm sổ đỏ cho bà L1 hoàn chỉnh và sẽ trả sổ đỏ cho bà LI”. Việc giấy giao kèo chuyển nhượng đất của cụ N giữa bà L và bà L1 là đúng.

L yêu cầu Tòa án tuyên bố giấy giao kèo chuyển nhượng đất ngày 09/02/2018 có tổng diện tích khoảng 300m² đất vô hiệu. Theo kết quả đo đạc ngày 26/10/2023 xác định diện tích đất bà L chuyển nhượng cho bà L1 theo giấy giao kèo ghi ngày 09/02/2018 thực tế là 993,3m², trong đó có 125m² đất ở, còn lại là đất trồng cây lâu năm, nay bà L xác nhận diện tích đất chuyển nhượng là đúng. Bà L yêu cầu Tòa án tuyên bố giấy giao kèo ngày 09/02/2018, diện tích đất chuyển nhượng là 993,3m² gồm đất ở và đất vườn là vô hiệu và giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu. Lý do bà L yêu cầu giấy giao kèo này vô hiệu vì diện tích đất của cụ N chưa làm các thủ tục theo quy định của pháp luật sang tên cho bà được thừa kế. Về các tài sản của anh V và bà L1 phát triển được trên đất của cụ N, nếu Tòa án tuyên hợp đồng vô hiệu, toàn bộ tài sản của anh V, bà L1 phát triển được trên đất, bà đồng ý trả anh V, bà L1 bằng tiền theo giá của hội đồng định giá. Ngoài ra bà L đề nghị Tòa án không đưa chồng bà là ông P và các con của bà là Phạm Văn L3, Phạm Thị H, Phạm Thị H1, Phạm Văn Q vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án vì chồng bà và các con bà không có liên quan đến diện tích đất của cụ N và giấy giao kèo ngày 09/02/2018 giữa bà L và bà L1.

Bị đơn - ông Nguyễn Văn G trình bày: GCNQSDĐ do UBND huyện L cấp cho cụ Nguyễn Thị N đối với thửa đất số 14, tờ bản đồ số 63, diện tích 1.886,1 m² (250 m² đất ở, diện tích 1.636,1m² đất trồng cây lâu năm) ngày 15/01/2009 tại thôn T, xã T, huyện L do anh Nguyễn Văn V đang giữ. Khi cụ N còn sống (khoảng năm 2011) cụ N đưa cho anh V để làm thủ tục sang tên đất cho anh V. Sau đó anh V có đưa cho ông giữ, nay ông đã giao lại cho anh V, hiện trực tiếp anh V giữ, việc trả hay không đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật, các yêu cầu khác của bà L, ông không nhất trí.

Bị đơn - bà Đoàn Thị L1 trình bày: ngày 09/02/2018 giữa bà và bà L có lập giấy giao kèo có nội dung: “gia đình bà Hà Thị L và ông Phạm Văn P...có thoả thuận nhượng cho bà Đoàn Thị L1 một nửa đất ở do bà Nguyễn Thị L2 thừa kế. Mảnh đất nhượng cho bà L1 phía Đông giáp bãi mía bà L, phía Bắc giáp đất bà T2, phía Tây giáp nhà ông T3, phía Nam giáp bãi ông T4 và đường đi 12,5m kéo xuống cổng (đường làng) 26,5m với giá thoả thuận là 50.000.000đ. Trong năm 2018 bà L và gia đình bà sẽ làm sổ đỏ cho bà L1 hoàn chỉnh và sẽ trả sổ đỏ cho bà LI” hoàn toàn hợp pháp vì:

- Trong khoảng thời gian từ năm 2011 đến năm 2017 vợ chồng bà có mâu thuẫn vì thế bà đã xuống ở cùng con trai là anh V tại Hà Nội một thời gian nên bà không biết việc bà N đã cho vợ chồng con trai bà là anh V, chị S thửa đất số 14.

- Giấy giao kèo ngày 09/02/2018, nội dung là bà L chuyển nhượng cho bà ½ diện tích đất ở, đất vườn tại thửa đất số 14 đã được UBND huyện cấp GCNQSDĐ cho bà Nguyễn Thị N là mẹ nuôi của chị L được quyền sử dụng tổng diện tích 1.886,1m² ở thôn T, xã T, trị giá giao dịch phần đất chuyển nhượng là 50.000.000đ, bà đã trả tiền cho bà L xong. Giấy giao kèo này được lập trong sự minh bạch và nhất trí của 2 bên có sự chứng kiến của Trưởng thôn có ký xác nhận, người làm chứng là anh Nguyễn Văn C. Các bên có chỉ rõ các mốc danh giới như số liệu trong giấy giao kèo đã viết.

- Bà chưa bao giờ trao đổi với bà L là xin ở nhờ mà chỉ trao đổi mua một nửa mảnh đất như nội dung trong giấy giao kèo đã viết.

- Số tiền 50 triệu đồng là tiền chuyển nhượng và chi phí liên quan sang tên, giá trị của đất lúc đó không đến 50 triệu đồng nhưng bà L biết rõ mâu thuẫn vợ chồng bà nên đã ép giá.

- Sau khi nhận chuyển nhượng đất của bà L, bà đã ở liên tục có cải tạo nhà, xây thêm 1 số công trình và phát triển thêm 1 số cây trên đất nên việc giao dịch theo giấy giao kèo ghi ngày 09/02/2018 giữa bà với bà L đã thành công.

Theo giấy giao kèo bán đất ghi ngày 09/2/2018 (đất đứng tên quyền sử dụng của bà N) giữa bà với bà L là con nuôi bà N là sự thật và tự nguyện thỏa thuận giữa 2 bên. Khi bán đất, bà L không nói đất là của bà N nhưng bà biết đất bà mua là đất của bà N được UBND huyện L cấp GCNQSDĐ cho bà N chứ không phải cho bà L. Lý do giấy giao kèo bán đất ghi ngày 09/2/2018 bà không làm thủ tục chứng thực của UBND xã hoặc công chứng theo quy định của pháp luật vì bà L nói: “Bà không phải xin xác nhận gì rồi con sẽ làm thủ tục sang tên tách đất cho bà”. Phần đất theo giấy giao kèo bà L chuyển nhượng cho bà theo kết qủa thẩm định có diện tích 993,3m², trong đó có 125m² đất ở, còn lại là đất trồng cây lâu năm và các tài sản của bà và con bà là anh V phát triển được trên diện tích đất này.

Trước khi có giấy giao kèo bán đất thì con bà là anh V và bà đã xây dựng một số công trình trên đất gồm sân, giếng nước, nhà vệ sinh, nhà ở và trồng một số cây cối. Khi xây dựng công trình này bà N vẫn còn sống, bà N cho mẹ con bà xây dựng để ở. Đến khi có giấy giao kèo bà lại xây dựng ngôi nhà đang ở và phát triển 1 số tài sản khác theo biên bản thẩm định ngày 26/10/2023 là đúng. Tài sản mẹ con bà xây dựng, hiện anh V là con bà để bà sử dụng và định đoạt. Việc giao kèo và chuyển nhượng đất giữa bà và bà L không liên quan gì đến chồng bà là ông G và các con của bà.

Nay bà L yêu cầu Tòa án tuyên bố giấy giao kèo ngày 09/02/2018 vô hiệu và giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu, bà hoàn toàn không nhất trí bởi vì bà L đã tự nguyên bán đất cho bà và 2 bên đã thanh toán tiền xong, bà đã ở ổn định trên đất từ năm 2018 đến nay.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan - anh Nguyễn Văn V trình bày: toàn bộ diện tích đất 1886,1m² gồm đất ở, đất vườn và đứng tên GCNQSDĐ của bà N tại Thôn T, xã T, huyện L là đất của anh vì ngày 06/8/2011 cụ N đã ký vào biên bản họp gia đình cho anh toàn bộ diện tích trên và đã được đoàn đo đạc của huyện, xã T về đo đạc cho anh nên anh không chấp nhận yêu cầu của bà L và xác định đó là đất của anh.

Anh không biết sự việc bà L1 (mẹ anh) và bà L lập giao kèo bán đất ngày 09/02/2018, bà L có bán cho mẹ anh theo diện tích đo đạc ngày 26/10/2023 là 993,3m² nằm trong tổng diện tích 1886,1m². Do thời điểm đó anh đang đi làm ở Hải Phòng. Nay xảy ra tranh chấp do 2 bên tự giải quyết, anh không có ý kiến gì về việc một phần diện tích đất bà L bán cho bà L1 theo giấy giao kèo ngày 09/2/2018. Bà L đề nghị Tòa án tuyên bố giấy giao kèo ngày 09/2/2018 giữa mẹ anh và bà L vô hiệu và giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu, anh đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Biên bản họp gia đình ngày 06/8/2011 ghi nay gia đình chúng tôi họp và thống nhất nội dung sau: “Cho cháu Nguyễn Văn VNguyễn Thị S số thửa 14, tờ bản đồ 63, diện tích 1,886,1m² (một nghìn tám trăm tám mươi sáu phẩy một mét vuông) ” có 2 đường nét gạch chéo vào phần này là do nội dung có sai sót là thiếu chữ “tặng” trong phần nội dung của phần 1 này nên bà N bảo anh gạch thì anh gạch. Anh cho rằng còn một bản thứ 2 nữa như biên bản họp gia đình ngày 06/8/2011 mà anh đã xuất trình cho Tòa án đã được chỉnh sửa không bị gạch xóa anh đã gửi cho đoàn đo đạc của huyện, của tỉnh vào ngày 06/8/2011. Không có biên bản giao nhận cho đoàn đo đạc, hiện anh không cung cấp được cho Tòa án biên bản họp gia đình này. Nay bà L yêu cầu Tòa án tuyên vô hiệu biên bản họp gia đình ngày 06/8/2011, anh không nhất trí.

Đối với GCNQSDĐ của bà N, ngày 06/8/2011 khi bà N viết giấy cho vợ chồng anh thửa đất số 14 có diện tích 1.886,1m² bà N đã đưa cho anh và sau đó anh đã đưa lại cho bố anh là ông G giữ từ đó. Sau đó bố anh đã đưa lại cho anh, GCNQSDĐ ngày 06/12/2023 anh đã giao nộp lại cho Tòa án. Bà L yêu cầu bố anh và anh trả lại GCNQSDĐ của bà N, anh không nhất trí, anh đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Về số tài sản trên đất của bà N, anh và mẹ anh xây dựng trước năm 2018, hiện mẹ anh đang quản lý sử dụng, anh nhất trí tài sản này là của mẹ anh, do mẹ anh quản lý và quyết định, anh không có ý kiến, yêu cầu gì.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan - chị Nguyễn Thị S trình bày: Chị là vợ anh V, toàn bộ nội dung, nguyện vọng, yêu cầu trong bản tự khai của anh V đã gửi cho Tòa án và trong biên bản lấy lời khai của Tòa án cũng là nguyện vọng, yêu cầu của chị, chị không có gì bổ sung thêm.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan - UBND huyện L do ông Ngô Ngọc Đ đại diện theo ủy quyền trình bày:

Về nguồn gốc, diễn biến của thửa đất: theo hồ sơ địa chính xã T đo đạc năm 2000 đang lưu trữ thể hiện thửa đất số 14, tờ bản đồ 63, diện tích 1.886,1m² do hộ bà N, trú tại thôn T, xã T đang quản lý, sử dụng. Ngày 15/01/2009, UBND huyện L cấp GCNQSDĐ đối với thửa đất số 14, tờ 63, diện tích 1.886,1m² (trong đó có 250m² đất ở, 1.636,1m² đất vườn) cho hộ bà Nguyễn Thị N. Việc cấp GCNQSDĐ cho hộ bà N đảm bảo theo quy định của Luật đất đai và các văn bản hướng dẫn thi hành. Sau khi được cấp GCNQSDĐ, hộ bà N sử dụng đất ổn định, ranh giới mốc giới rõ ràng, không có tranh chấp với các hộ giáp ranh liền kề.

Năm 2011, UBND huyện có ký hợp đồng với đơn vị tư vấn đo đạc là Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường tỉnh B để tiến hành đo đạc lại tổng diện tích đất của toàn xã T, trong đó có tiến hành đo đạc thửa đất của hộ bà N (thửa đất sau đo đạc của hộ bà N là thửa đất số 463, tờ bản đồ 63, diện tích 1.882,9m² chủ sử dụng đất theo bản đồ đo đạc là ông Nguyễn Văn V). Do vậy, việc ông V trình bầy có đoàn công tác đo đạc đất về phối hợp cùng UBND xã T để đo đất của các hộ trong thôn, trong đó có hộ bà Nthôn T để cấp đổi lại GCNQSDĐ là đúng. Đến nay, thửa đất của hộ bà Nguyễn Thị N hiện chưa được cấp đổi theo bản đồ địa chính chính quy đo đạc năm 2011.

Về yêu cầu khởi kiện của bà Hà Thị L: từ khi được cấp GCNQSDĐ ngày 15/01/2009 đến nay, UBND huyện L không nhận được hồ sơ biến động đất đai nào liên quan đến thửa đất số 14, tờ bản đồ 63, diện tích 1.886,1m² đã cấp cho hộ bà N trên. Sau khi bà N chết, ngày 09/02/2018, bà L có viết giấy giao kèo với nội dung là bà L có bán cho bà L1 khoảng 300m² đất nằm trong tổng diện tích thửa đất được cấp GCNQSDĐ nêu trên. Nay bà L làm đơn khởi kiện đề nghị Toà án tuyên giấy giao kèo ngày 09/02/2018 là vô hiệu và giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu, đề nghị Tòa án giải quyết vụ việc theo quy định pháp luật để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho các đương sự.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan - UBND xã T do ông Phạm Văn Đ1- Chủ tịch trình bày: theo hồ sơ địa chính xã T đo đạc năm 2000 thể hiện thửa đất số 14, tờ bản đồ 63, diện tích 1.886,1m² do hộ bà Nguyễn Thị N, trú tại thôn T, xã T, sử dụng. Ngày 15/01/2009, UBND huyện L đã cấp GCNQSDĐ đối với thửa đất số 14, tờ 63, diện tích 1.886,1m² (trong đó có 250m² đất ở, 1.636,1m² đất vườn) cho hộ bà Nguyễn Thị N. Việc cấp GCNQSDĐ cho hộ bà N đảm bảo theo quy định của Luật đất đai và các văn bản hướng dẫn thi hành. Sau khi được cấp GCNQSDĐ hộ bà N sử dụng đất ổn định, ranh giới mốc giới rõ ràng, không có tranh chấp với các hộ giáp ranh liền kề. Đến nay, thửa đất của hộ bà N hiện chưa được cấp đổi theo bản đồ địa chính chính quy được đo đạc năm 2011.

Từ khi được cấp GCNQSDĐ ngày 15/01/2009 đến nay, UBND xã T không nhận được hồ sơ biến động đất đai nào liên quan đến thửa đất số 14, tờ bản đồ 63, diện tích 1.886,1m² đã cấp cho hộ bà N trên. Sau khi bà N chết, ngày 09/02/2018, bà L có viết giấy giao kèo với nội dung là bà L có chuyển nhượng cho bà L1 khoảng trên 300m² đất nằm trong tổng diện tích thửa đất được cấp GCNQSDĐ nêu trên. Nay bà L khởi kiện đề nghị tuyên giấy giao kèo ngày 09/02/2018 vô hiệu và giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu, đề nghị Tòa án giải quyết vụ việc theo quy định pháp luật.

Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã thu thập tài liệu, chứng cứ là: Tiến hành lấy lời khai của các đương sự, xác minh để làm rõ các tình tiết của vụ án, tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc, định giá tài sản và mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ theo quy định của pháp luật.

Với nội dung trên, Bản án dân sự sơ thẩm số 06/2023/DS-ST ngày 01/03/2024 của Toà án nhân dân huyện Lạng Giang đã: căn cứ Điều 467 Bộ luật dân sự năm 2005; khoản 1 Điều 129 Luật đất đai năm 2003; Điều 117, Điều 119, Điều 123, Điều 129, Điều 131 Điều 502, Điều 503 của Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 1, khoản 3 Điều 167 Luật đất đai năm 2013. Xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hà Thị L.

Tuyên bố biên bản họp gia đình ghi ngày 06/8/2011 (có cụ Nguyễn Thị N ký tại biên bản) vô hiệu.

Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, cụ thể là giấy giao kèo lập 09/02/2018 giữa bà Hà Thị L và bà Đoàn Thị L1, đối với diện tích đất 993,3m² thuộc thửa đất số 14, tờ bản đồ số 63, diện tích 1.886,1 m² (250m² đất ở, diện tích 1.636,1m² đất trồng cây lâu năm), địa chỉ ở thôn T, xã T huyện L, tỉnh Bắc Giang là vô hiệu.

Đoàn Thị L1 phải trả lại cho bà Hà Thị L diện tích đất 993,3m² thuộc thửa đất số 14, tờ bản đồ số 63, diện tích 1.886,1m² (250 m² đất ở, diện tích 1.636,1m² đất trồng cây lâu năm), địa chỉ ở thôn T, xã T huyện L, tỉnh Bắc Giang. Diện tích đất 993,3m² thuộc thửa đất số 14 gồm các điểm ABCDMHK (có sơ đồ kèm theo bản án).

Hà Thị L phải thanh toán cho bà Đoàn Thị L1 số tiền 248.995.000 đồng là số tiền thiệt hại do hợp đồng vô hiệu, số tiền 52.269.300 đồng là giá trị tài sản của bà L1 phát sinh trên đất. Bà L được sở hữu toàn bộ tài sản gồm: 01 bếp có diện tích 14,43 m², 1 mái propximăng trên bếp, nhà ở; nhà cấp 4 xây năm 2000 có diện tích 21,28 m²; sân gạch; nhà ở cấp 4 xây năm 1999 có diện tích 26,8 m²; mái tôn; nhà chăn nuôi; nhà vệ sinh; mái proximăng nhà vệ sinh; giếng khoan; 01 cây vải; 01 cây chanh; 04 cây đu đủ; 02 cây nhãn; 05 khóm chuổi; 17 cây bạch đàn; 02 cây cau bé; 02 cây hồng xiêm; 01 cây táo; 04 cây bưởi; 02 cây xoài; 01 cây na; 01 cây nhãn bé; 02 cây ổi bé; 01 cây chanh bé; 02 cây mít; 02 cây mít bé của bà L1 phát sinh trên diện tích đất 993,3m² thuộc thửa đất số 14.

Buộc ông Nguyễn Văn G, anh Nguyễn Văn V có trách nhiệm liên đới trả lại cho bà Hà Thị L 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AP 109093, số vào sổ H 02232, do UBND huyện L cấp cho hộ bà Nguyễn Thị L2 (tức Nguyễn Thị N) đối với thửa đất số 14, tờ bản đồ số 63, diện tích 1.886,1 m² (250m² đất ở, diện tích 1.636,1m² đất trồng cây lâu năm) tại thôn T, xã T, huyện L. Xác nhận anh V đã nộp giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất số 14 này cho Toà án, Toà án huyện L sẽ chuyển theo bản án đến chi cục thi hành án huyện Lạng Giang, chi cục thi hành án huyện Lạng Giang sẽ thực hiện việc giao trả cho bà L theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, nghĩa vụ chậm thi hành án, quyền kháng cáo cho các đương sự và hướng dẫn thi hành án.

Ngày 13/3/2024 bà Đoàn Thị L1 kháng cáo, đề nghị tòa án phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, cụ thể giấy giao kèo lập ngày 09/02/2018 giữa bà Hà Thị L và bà Đoàn Thị L1 có hiệu lực pháp luật.

Ngày 13/3/2024 anh Nguyễn Văn V kháng cáo, đề nghị tòa án phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng tuyên bố biên bản họp gia đình ngày 06/8/2011 (có cụ Nguyễn Thị N ký tại biên bản) có hiệu lực.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; anh V xin tự nguyện rút toàn bộ kháng cáo; các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

L1 không tranh luận gì;

Luật sư T bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà L phát biểu ý kiến tranh luận giấy giao kèo ngày 09/02/2018 giữa bà L và bà L1 là vô hiệu vì chỉ là giấy viết tay, không được chứng thực, không rõ nội dung và khi thực hiện giao kèo này cho đến nay thì bà L không có quyền sử dụng đất đối với diện tích đất này. Bản án sơ thẩm xét xử là đảm bảo quy định và đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên. Đề nghị HĐXX giữ nguyên bản án sơ thẩm.

L không bổ sung gì.

Anh V không tranh luận gì.

Tham gia phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến khi mở phiên tòa và tại phiên tòa, Thẩm phán, HĐXX, Thư ký đã thực hiện đúng, đủ quy định của BLTTDS, các đương sự đã thực hiện đúng các quyền nghĩa vụ theo quy định của BLTTDS. Sau khi xem xét yêu cầu kháng cáo của bà L1, anh V và phân tích nội dung, các tình tiết của vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 308 BLTTDS không chấp nhận kháng cáo của bà L1, anh V, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Bà L1 được miễn án phí dân sự phúc thẩm, anh V phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:

[1]. Về tố tụng: tại phiên tòa phúc thẩm việc vắng mặt lần thứ hai không có lý do của một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo mặc dù đã dược triệu tập hợp lệ. HĐXX căn cứ khoản 3 Điều 296 BLTTDS tiếp tục tiến hành xét xử vụ án.

[2]. Xét kháng cáo của bà L1, anh V, HĐXX thấy:

[2.1]. Cụ Nguyễn Thị L2 (tức Nguyễn Thị N) là chủ sử dụng thửa đất số 14, tờ bản đồ số 63, diện tích 1.886,1 m² (250 m² đất ở, diện tích 1.636,1m² đất trồng cây lâu năm), tại thôn T, xã T, huyện L đã được UBND huyện L cấp GCNQSDĐ ngày 15/01/2009.

Xét Biên bản họp gia đình ngày 06/8/2011 có nội dung cụ N cho vợ chồng anh Nguyễn Văn V, chị Nguyễn Thị S thửa đất số 14, sau khi lập họp gia đình, cụ N chưa bàn giao đất cho anh V, chị S trên thực tế; việc tặng cho chưa được công chứng, chứng thực, chưa được đăng ký tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại Điều 467 Bộ luật dân sự năm 2005 và khoản 1 Điều 129 Luật đất đai năm 2003. Mặt khác, thông tin người nhận tại biên bản này bị gạch bỏ, anh V, chị S không ký vào phần bên nhận tặng cho để xác nhận, bản thân anh V thừa nhận tự tay anh gạch xóa phần này vì cụ N hủy bỏ để lập biên bản tặng cho khác nhưng anh V không cung cấp được văn bản tặng cho khác thay thế để chứng minh cho lời trình bày của mình; ông Lưu Ngọc T1- Nguyên là trưởng thôn T4, xã T xác định chữ ký trong biên bản này không phải của ông. Vì vậy, có căn cứ xác định biên bản họp gia đình ngày 06/8/2011 không có giá trị pháp lý. Tòa án sơ thẩm tuyên biên bản họp gia đình ghi ngày 06/8/2011 vô hiệu là có căn cứ. Tại phiên tòa anh V xin rút toàn bộ kháng cáo, xét thấy việc rút kháng cáo của anh V tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện cần được chấp nhận. HĐXX căn cứ điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 298, khoản 5 Điều 308 và khoản 1 Điều 312 của BLTTDS để đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của anh V.

[2.2]. Đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Hà Thị L và bà Đoàn Thị L1 (giấy giao kèo ngày 09/02/2018) đối với diện tích đất 993,3m² thuộc thửa đất số 14, tờ bản đồ số 63, diện tích 1.886,1m² tại thôn T, xã T, huyện L thấy: bà L và bà L1 đều thừa nhận tại thời điểm hai bên lập giấy giao kèo này, thửa đất số 14 vẫn thuộc quyền sử dụng, đứng tên giấy chứng nhận của cụ L2 (tức cụ N); bà L đã nhận đủ số tiền 50.000.000đ của bà L1, bà L1 sinh sống trên đất từ trước ngày 09/02/2018 là ngày hai bên thực hiện ký giấy giao kèo trên, tài sản trên đất là của anh V xây dựng từ trước. Đây là những tình tiết không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 của BLTTDS như nhận định của Tòa án sơ thẩm.

Xét hiệu lực của giấy giao kèo ngày 09/02/2018, thấy: việc lập giấy giao kèo trên không được công chứng, chứng thực; các bên không thoả thuận rõ diện tích đất, vị trí, hình thể, tứ cận thửa đất chuyển nhượng và không thực hiện bàn giao đất trên thực tế; trước và tại thời điểm chuyển nhượng đất cũng như hiện nay, thửa đất 14 trên vẫn mang tên cụ N, chưa làm thủ tục thừa kế cho bà L hay cho bất cứ ai khác được quyền sử dụng. Như vậy, bà L chưa phải là chủ sử dụng hợp pháp của thửa đất, chưa có quyền thực hiện quyền của người sử dụng đất trong đó có quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đối với diện tích đất này. Do đó, giấy giao kèo ngày 09/02/2018 là vô hiệu do vi phạm các điều kiện có hiệu lực tại Điều 117, Điều 119, Điều 123, Điều 129, Điều 502, Điều 503 của Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 1, khoản 3 Điều 167 Luật đất đai năm 2013 như nhận định của Tòa án cấp sơ thẩm. Như vậy kháng cáo của bà L1 đề nghị cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng tuyên bố giấy giao kèo lập ngày 09/02/2018 giữa bà Hà Thị L và bà Đoàn Thị L1 có hiệu lực pháp luật là không có căn cứ chấp nhận.

[2.3]. Đối với yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu của bà L: Tòa án cấp sơ thẩm xác định thiệt hại căn cứ vào kết quả định giá tài sản xác định giá trị đất là 1.500.000 đồng/m² đất ở, 300.000 đồng/m² đất vườn làm căn cứ giải quyết và xác định các bên có lỗi như nhau trong việc dẫn đến hợp đồng bị vô hiệu nên mỗi người chịu 198.995.000 đồng là có căn cứ. Từ đó buộc bà L phải thanh toán trả cho bà L1 50.000.000 đồng (đã nhận của bà L1 tiền chuyển nhượng đất) + 198.995.000 đồng = 248.995.000 đồng là đúng pháp luật, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự.

[2.4]. Xét trên diện tích đất 993,3m² có tài sản gồm: 01 bếp có diện tích 14,43 m², trị giá 2.712.800 đồng; mái prôximăng trên bếp, nhà ở = 317.100 đồng; nhà cấp 4 xây năm 2000 có diện tích 21,28 m², trị giá 15.162.000 đồng; sân gạch = 2.550.200 đồng; nhà ở cấp 4 xây năm 1999 có diện tích 26,8 m², trị giá 15.276.000 đồng; mái tôn = 597.000 đồng; nhà chăn nuôi = 4.101.100 đồng; nhà vệ sinh = 1.458.000 đồng; mái proximăng nhà vệ sinh = 85.100 đồng; giếng khoan = 1.530.000 đồng; 01 cây vải = 3.305.000 đồng; 01 cây chanh = 229.000 đồng; 04 cây đu đủ = 428.000 đồng; 02 cây nhãn = 910.000 đồng; 05 khóm chuối = 265.000 đồng; 17 cây bạch đàn = 425.000 đồng; 02 cây cau bé = 70.000 đồng; 02 cây hồng xiêm = 190.000 đồng; 01 cây táo = 65.000 đồng; 04 cây bưởi = 1.520.000 đồng; 02 cây xoài = 170.000 đồng; 01 cây na = 186.000 đồng; 01 cây nhãn bé = 50.000 đồng; 02 cây ổi bé = 80.000 đồng; 01 cây chanh bé = 37.000 đồng; 02 cây mít = 430.000 đồng; 02 cây mít bé = 120.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là: 52.269.300 đồng. Anh V trình bày những tài sản này là của bà L1 do bà L1 quyết định, anh V không có ý kiến, yêu cầu gì. Tòa án sơ thẩm giao cho bà L được quyền sử dụng, sở hữu và buộc bà L phải thanh toán bằng tiền theo giá trị những tài sản này cho bà L1 là phù hợp.

[3]. Về án phí dân sự phúc thẩm: căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 và khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: bà L1 là người cao tuổi nên được miễn toàn bộ tiền án phí dân sự phúc thẩm, anh V phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm.

[4]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 298, khoản 1, khoản 5 Điều 308, khoản 1 Điều 312 và Điều 313 của Bộ Luật tố tụng dân sự. Xử:
  2. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của anh Nguyễn Văn V.

    Không chấp nhận kháng cáo của bà Đoàn Thị L1. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 06/2023/DS-ST ngày 01/03/2024 của Toà án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.

  3. Về án phí: bà Đoàn Thị L1 được miễn toàn bộ tiền án phí dân sự phúc thẩm; anh Nguyễn Văn V phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số ngày /03/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạng Giang.
  4. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

- VKSND tỉnh Bắc Giang;

- TAND, Chi cục THADS sơ thẩm;

- Cổng thông tin điện tử Tòa án;

- Các đương sự;

- Lưu: HS, VPHCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Hà Giang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 128/2024/DS-PT ngày 18/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 128/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 18/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger