Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SƠN LA

TỈNH SƠN LA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 128/2024/HSST

Ngày 15/8/2024.

-

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bồ Thị Thái, ông Hà Văn Tiêm.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Bà Lường Khánh Ly, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Mai Anh, Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 124/2024/HSST ngày 15/7/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 129/2024/HSST-QĐ ngày 05/8/2024 đối với bị cáo:

Đinh Thế Thanh T, sinh ngày 19/9/1985 tại huyện T, tỉnh Hòa Bình; nơi cư trú: Xóm C, xã M, huyện T, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; là Đảng viên Đ đã bị đình chỉ sinh hoạt đảng theo Quyết định số 120- QĐ/UBKTHU ngày 04/4/2024 của Ủy ban kiểm tra Huyện ủy T4; con ông Đinh Long D và bà Bùi Thị L; bị cáo có vợ là Hoàng Thị H (đã ly hôn) và có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01/4/2024 đến nay. Có mặt.

Bị hại: Ông Lèo Văn T1, sinh năm 1985; nơi cư trú: Bản Tra, xã B, huyện T, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Lèo Văn Q, 27 tuổi; trú tại: Bản T, xã B, huyện T, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
  2. Ông Đinh Long D, 61 tuổi; trú tại: Xóm C, xã M, huyện T, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt.

Người làm chứng: Ông Lò Văn Y. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đầu năm 2020, Đinh Thế Thanh T đang là giảng viên Trường Đại học T5, khi Lèo Văn Q tốt nghiệp đại học chuyên ngành giáo dục chính trị tại Trường Đại học T5, Q có nhờ T xin việc làm cho Q. T liên hệ với bạn làm việc tại Sở Nội vụ tỉnh S, biết sẽ có tuyển dụng giáo viên trên địa bàn các huyện. T tìm hiểu trên cổng thông tin điện tử Sở Giáo dục và đào tạo tỉnh S đăng thông báo tuyển dụng viên chức sự nghiệp các đơn vị trực thuộc và ở Trường Trung học phổ thông huyện V, tỉnh Sơn La tuyển dụng 01 giáo viên môn giáo dục công dân. T dùng điện thoại cá nhân tự chụp lại thông báo, gửi qua tin nhắn cho Q. Để tạo lòng tin, mặc dù T không quen biết ai ở Sở Giáo dục và đào tạo tỉnh S nhưng T nói với Q là T có quen các anh chị ở Sở Giáo dục và đào tạo tỉnh S, nếu muốn xin vào làm việc tại Trường Trung học phổ thông huyện V thì T xin giúp, phải chi phí khoảng 200.000.000 đồng – 300.000.000 đồng, nhưng do thầy trò quen biết nên chỉ cần khoảng 200.000.000 đồng, Q phải đưa trước 100.000.000 đồng và nộp 01 hồ sơ đăng ký thi tuyển. Q đồng ý. Do gia đình Q khó khăn không có tiền, bố mẹ không biết chữ nên Q nhờ chú ruột của Q là Lèo Văn T1 cho vay tiền và cùng đến gặp T. Ngày 17/01/2020, ông T1 cùng bác của Q là Lò Văn Y, đi cùng Q đến nơi ở của T ở bản D, xã C, thành phố S. Q đưa cho T hồ sơ, ông T1 đưa cho T số tiền 100.000.000 đồng. T tự viết Giấy biên nhận số tiền 100.000.000 đồng của ông T1, hẹn đến ngày 30/3/2020 sẽ hoàn trả tiền. T ký, ghi rõ họ tên người nhận, ông T1 ký người giao, ông Y ký người làm chứng. T đưa cho ông T1 giấy biên nhận, hẹn đến ngày 30/3/2020 nếu không xin được việc thì T trả lại tiền. T không liên hệ với ai để xin việc cho Q mà sử dụng tiền chi tiêu cá nhân. Đến hết thời gian hẹn, Q không thấy tên trong danh sách được công bố, không có quyết định tuyển dụng nên đã nhiều lần nhắn tin yêu cầu T trả lại tiền cho ông T1. Ông T1, ông Y và Q đã 02 lần đến nơi ở của T đòi tiền. T đã viết các giấy cam đoan ngày 07/7/2020 và ngày 25/8/2020 về việc có vay và cam đoan ngày trả nợ cho ông T1. Sau đó, ông T1 không liên lạc được với số điện thoại của T nên đã liên lạc với bố của T và cùng với ông Y đến gặp bố của T ở tỉnh Hòa Bình. Ông D hứa liên lạc và cùng T trả tiền cho ông T1.

Quá trình triệu tập, làm việc tại cơ quan điều tra, T khai nhận có nhận của ông T1 số tiền 100.000.000 đồng để xin việc cho Q, có được viết các giấy biên nhận, cam đoan trả tiền cho ông T1.

Ngày 01/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S đã tiến hành kiểm tra thông tin điện thoại của Lèo Văn Q, xác định tại mục danh bạ điện thoại có lưu số 0333.913.xxx lưu tên Thầy T2, tại mục tin nhắn có đoạn hội thoại yêu cầu trả tiền và các nội dung thỏa thuận trả tiền; tại nhật ký cuộc gọi có nhiều cuộc gọi đi, đến với số điện thoại trên từ ngày 15/01/2020 đến ngày 26/12/2023; tại mục messenger có các đoạn hội thoại với tài khoản tên Thanh T về nội dung thi tuyển giáo viên, xin việc; tại mục ảnh có 01 video thời lượng 07 phút 42 giây ngày 16/01/2020 quay lại cuộc điện thoại giữa T và ông Y về nội dung xin việc cho Q; tại mục ghi âm có 02 đoạn ghi âm Q ghi lại các cuộc điện thoại với T.

Ngày 06/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trưng cầu giám định đoạn video. Tại Kết luận giám định số 1096/KL-KTHS ngày 18/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh S kết luận: “01 file video gửi giám định không bị cắt ghép, chỉnh sửa nội dung”

Quá trình điều tra xác định số điện thoại do T mua trên mạng về sử dụng liên hệ, trao đổi với Q, đăng ký tài khoản Facebook, zalo tên Thanh T. Sau khi nghỉ việc tại Trường Đại học T5, T không sử dụng sim và các tài khoản đó nữa.

Đối với bạn của T được xác định là Hà Trung T3 là bạn học cùng đại học với T, khi công tác tại Sở Nội vụ, T có hỏi T3 về chỉ tiêu tuyển dụng giáo viên nhưng không bàn bạc, trao đổi nội dung gì liên quan đến Q.

Về trách nhiệm dân sự: Ngày 29/02/2024, tại bản Tra, ông D đã thay T trả cho ông T1 số tiền 100.000.000 đồng, ông T1 không đề nghị gì khác. Ngày 24/5/2024, ông T1 có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho T. Ông D không yêu cầu T phải trả cho ông D số tiền đã bồi thường thay.

Bản cáo trạng số 301/CT-VKSTP ngày 12/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La truy tố Đinh Thế Thanh T về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La giữ nguyên cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử :

  1. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174, điểm b, s, v khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Đinh Thế Thanh T từ 24 tháng đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, thời gian thử thách theo quy định của pháp luật. Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
  2. Xử lý tài sản, vật chứng thu giữ: Không.
  3. Về trách nhiệm dân sự:

    Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự: Ghi nhận ngày 29/02/2024 ông Đinh Long D đã bồi thường cho ông Lèo Văn T1 số tiền 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng). Ông Lèo Văn T1 không có yêu cầu gì khác. Ông Đinh Long D không yêu cầu bị cáo Đinh Thế Thanh T trả lại số tiền bồi thường thay.

  4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt, được hưởng án treo. Tại cơ quan điều tra và tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị hại đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và không yêu cầu đề nghị gì khác; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu, đề nghị gì về trách nhiệm dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về quá trình tiến hành tố tụng:

Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại, những người liên quan không có ý kiến, khiếu nại về hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ, có đơn đề nghị xử vắng mặt, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo quy định tại các Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về hành vi và trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà, bị cáo Đinh Thế Thanh T khai nhận từ khi anh Lèo Văn Q nhờ hỏi xin việc làm giáo viên, T đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền nên đã hỏi thông tin, khi được biết sắp có đợt thi tuyển, T đã thực hiện việc chụp hình ảnh thông báo tuyển dụng, đưa thông tin gian dối để anh Q và gia đình đưa tiền cho T.

Bị cáo nhất trí với cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La. Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với đơn trình báo, biên bản tiếp nhận nguồn tin tội phạm, lời khai của bị hại, những người liên quan, người làm chứng; phù hợp với các biên nhận, cam đoan, kết quả kiểm tra, xác định thông tin điện thoại, kết luận giám định file video do bị hại giao nộp.

Do vậy, có đủ căn cứ khẳng định: Trong thời gian từ ngày 15/01/2020 đến ngày 30/3/2020, Đinh Thế Thanh T đã đưa ra thông tin gian dối với anh Lèo Văn Q, ông Lèo Văn T1 về việc có quen biết người ở Sở Giáo dục và đào tạo tỉnh S để xin cho anh Lèo Văn Q làm giáo viên. Q đã nhận số tiền 100.000.000 đồng và các tài liệu của anh Q nhưng không nộp hồ sơ đăng ký thi tuyển cho Q, cũng không liên hệ với ai thực hiện việc giúp đỡ tuyển dụng, T đã sử dụng số tiền 100.000.000 đồng để chi tiêu cá nhân. Sau khi không thấy được tuyển dụng, ông T1 và anh Q nhiều lần đòi, nhưng T không sử dụng số điện thoại đã liên lạc, không trả lại được số tiền cho bị hại. Xét hành vi của Đinh Thế Thanh T đủ yếu tố cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo xâm phạm sở hữu tài sản của người khác. Cần xử phạt bị cáo nghiêm khắc nhằm trừng trị, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo khai báo nhận tội thành khẩn, ăn năn hối cải; bị cáo đã nhờ bố đẻ là ông Đinh Long D khắc phục hậu quả, giao trả ông Lèo Văn T1 số tiền 100.000.000 đồng; bản thân bị cáo trong quá trình công tác có thành tích xuất sắc, được Ban tặng bằng khen; bị cáo có ông ngoại được nhà nước thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba; bị hại có đơn đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s, v khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo có nơi thường trú cụ thể, rõ ràng, căn cứ nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, xét đề nghị của bị cáo về việc cho bị cáo được hưởng án treo là phù hợp với quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự, cần ấn định thời gian thử thách và giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú giám sát và giáo dục.

[3] Về hình phạt bổ sung - phạt tiền: Xét điều kiện kinh tế của bị cáo hiện thu nhập lao động tự do, không có tài sản, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, 585, 589 Bộ luật Dân sự năm 2015, ghi nhận sự tự nguyện của ông Đinh Long D đã thay bị cáo đã bồi thường cho ông Lèo Văn T1 số tiền 100.000.000 đồng, ông D không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền bồi thường thay, ông Lèo Văn T1 không có yêu cầu khác.

[5] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 174, điểm b, s, v khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự:

    Tuyên bố: Bị cáo Đinh Thế Thanh T phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

    Xử phạt bị cáo Đinh Thế Thanh T 24 (Hai mươi bốn) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 48 (Bốn mươi tám) tháng, tính từ ngày 15/8/2024.

    Giao Đinh Thế Thanh T cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện T, tỉnh Hòa Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại các Điều 68, 92 của Luật Thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

  2. Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, 585, 589 Bộ luật Dân sự năm 2015 :

    Ghi nhận sự tự nguyện của ông Đinh Long D đã thay bị cáo Đinh Thế Thanh T bồi thường cho ông Lèo Văn T1 số tiền 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng). Ông Đinh Long D không yêu cầu bị cáo Đinh Thế Thanh T trả lại số tiền bồi thường thay. Ông Lèo Văn T1 không có yêu cầu khác.

  3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

    Bị cáo Đinh Thế Thanh T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sơn La;
  • - VKSND tỉnh Sơn La;
  • - VKSND thành phố Sơn La;
  • - Công an thành phố Sơn La;
  • - Chi cục THADS thành phố Sơn La;
  • - Trại giam;
  • - THAHS;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có QL,NVLQ;
  • - Lưu: Hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Hồng Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 128/2024/HSST ngày 15/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 128/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đinh Thế Thanh T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger