Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 128/2024/HS-ST

Ngày: 16 - 8 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Văn Thanh Bình

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phạm Hữu Thắng
  2. Ông Dư Văn Thanh

Thư ký phiên tòa: bà Phan Thị Bích Ngọc - Thư ký viên Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Minh Vương – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 8 năm 2024, tại phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 109/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 104/2024/QĐXXST-HS, ngày 10 tháng 7 năm 2024, đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Thanh H, sinh năm 1989, tại Sóc Trăng; nơi thường trú: ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: chăn nuôi; dân tộc: Kinh; trình độ học vấn: 11/12; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh P và bà Trần Kim T; có vợ (đã ly hôn năm 2021) và 01 người con; tiền sự: không; tiền án: không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12 tháng 11 năm 2023 và chuyển sang tạm giam cho đến nay. (có mặt)

2. Nguyễn Hải Đ, sinh ngày 30 tháng 3 năm 1986, tại Sóc Trăng; nơi thường trú: ấp V, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: chăn nuôi; dân tộc: Kinh; trình độ học vấn: 12/12; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Quốc V1 (chết) và bà Nguyễn Thị Anh Đ1 (chết); có vợ, 01 người con; tiền sự: không; tiền án: không; về nhân thân: vào ngày 19/6/2018, bị Toà án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” chấp hành xong vào ngày 27/4/2019, đã xoá án tích. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12 tháng 11 năm 2023 và chuyển sang tạm giam cho đến nay. (có mặt)

3. Phạm Ngọc S, sinh ngày 06 tháng 8 năm 1996, tại Sóc Trăng; nơi thường trú: ấp V, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: không (tại phiên tòa bị cáo khai làm rẫy); dân tộc: Kinh; trình độ học vấn: 3/12; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Thanh T1 và bà Nguyễn Thị M; có vợ, 01 người con; tiền sự: 01, vào ngày 17/5/2016, bị Công an huyện C, tỉnh Sóc Trăng, xử phạt số tiền 750.000 đồng về hành vi đánh nhau với người khác, chưa nộp phạt; tiền án: 01, vào ngày 28/3/2024, bị Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xử phạt 01 năm 07 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” đang chấp hành. Bị cáo đang chấp hành án trong vụ án khác. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 18 giờ 00 phút, ngày 11 tháng 11 năm 2023, bị cáo H đang ở chòi nuôi tôm tại ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng, thì bị cáo Đ đến chơi. Đến khoảng 21 giờ 00 phút cùng ngày, bị cáo Phạm Ngọc S là bạn của bị cáo Đ và bị cáo H cũng đến chòi của bị cáo H chơi. Trong quá trình ngồi chơi, bị cáo S chơi game nổ hủ trên điện thoại trúng được số tiền là 1.700.000 đồng, sau khi có được tiền thì bị cáo S rủ bị cáo Đ và bị cáo H sử dụng ma túy và bị cáo S ra tiền mua ma túy, thì bị cáo Đ và bị cáo H đồng ý.

Sau đó, S kêu bị cáo H liên hệ hỏi giá 12 số ma túy đá bao nhiêu tiền, H mới liên hệ với người tên M1 (chưa rõ họ tên và địa chỉ) hỏi giá thì M1 nói giá 12 số ma túy đá là 1.200.000 đồng. Sau khi liên hệ xong, bị cáo H nói giá tiền lại cho bị cáo S, lúc này bị cáo S mới chuyển số tiên 1.500.000 đồng, từ tài khoản game về tài khoản ngân hàng S2 của bị cáo S qua số tài khoản 070124708883 rồi sau đó bị cáo S chuyển số tiền 1.200.000 đồng qua app trên điện thoại vào tài khoản của bị cáo Đ qua ngân hàng M2 số tài khoản 0902998062, bị cáo Đ thấy bị cáo S còn tiền nên kêu bị cáo S chuyển thêm cho bị cáo Đ 100.000 đồng để đổ xăng xe đi mua ma túy và tiền qua phà, thì bị cáo S đồng ý và sau đó bị cáo S chuyển tiếp cho bị cáo Đ số tiền 100.000 đồng vào tài khoản của bị cáo Đ. Sau khi chuyển tiền cho bị cáo Đ xong, thì bị cáo S đi về nhà còn bị cáo H đi vào trong nhà lấy xe mô tô biển số 95G1-113.85, rồi điều khiển xe chở bị cáo Đ đi qua thành phố S để mua ma túy. Khi đi đến cầu R thuộc xã A, huyện C thì bị cáo H ghé vào tiệm tạp hóa của ông Đỗ Điền N đổ xăng và sau đó bị cáo Đ chuyển đổi số tiền 1.100.000 đồng từ tài khoản ngân hàng của bị cáo Đ cho ông N, để ông N đưa tiền mặt cho bị cáo Đ. Sau khi nhận tiền xong, bị cáo H tiếp tục chở bị cáo Đ đi qua thành phố S, khi đi đến bến phà, bị cáo H liên hệ với người nam thanh niên tên M1 để hỏi địa điểm mua ma túy và được M1 hẹn bán ma túy ở đường T, Phường E, thành phố S, nên sau khi qua phà, bị cáo H điều khiển xe chở bị cáo Đ đi qua đường P, Phường H, thành phố S, sau đó tiếp tục đi qua đường T, Phường E, thành phố S. Khi đi đến khu vực đầu hẻm (không rõ số) trên đường T, phường E, thành phố S thì bị cáo H dừng xe lại, kêu bị cáo Đ đưa cho bị cáo H số tiền 1.200.000 đồng để mua ma túy và kêu bị cáo Đ xuống xe ngồi đợi bị cáo H, còn bị cáo H điều khiển xe chạy vào bên trong hẻm một đoạn, thấy có 02 người nam đang đậu xe, bị cáo H gặp và hỏi mua 1.200.000 đồng ma túy đá. Sau khi bị cáo H đưa tiền xong, 02 người nam thanh niên đi một lúc rồi đem lại đưa cho bị cáo H 01 gói ma túy, sau khi có ma túy bị cáo H cầm gói ma tuý trên tay trái rồi điều khiển xe ra đầu hẻm rước bị cáo Đ, sau đó bị cáo H điều khiển xe chở bị cáo Đ đi về hướng đường P để về nhà. Đi được một đoạn, bị cáo H đưa gói ma túy cho bị cáo Đ cầm, rồi tiếp tục điều khiển xe đi về hướng huyện L, tỉnh Sóc Trăng. Khi đi đến khu vực trước nhà số F, đường P, khóm G, phường H, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng, khoảng 00 giờ 40 phút, ngày 12 tháng 11 năm 2023 thì bị Tổ công tác 123 Công an tỉnh S bắt, thu giữ gói ma túy bị cáo H và bị cáo Đ vừa mới mua. Trong quá trình kiểm tra, bị cáo Đ bỏ 01 gói nylon trong được hàn kín bên trong có chất tinh thể rắn màu trắng từ trên tay trái xuống mặt đường, nghi là ma túy, nên đã thu giữ và niêm phong ký hiệu "MT", đồng thời lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với bị cáo H và bị cáo Đ.

Tại Bản kết luận giám định số 192/KLMT-KTHS ngày 20/11/2023 của Phòng K Công an tỉnh S, kết luận: mẫu tinh thể rắn màu trắng được niêm phong, gửi giám định là ma túy, có khối lượng là 1,1326 gam, loại Methamphetamine.

Về vật chứng, Cơ quan cảnh sát điều tra tạm giữ: gói MT niêm phong vụ số 192/2023, ngày 22 tháng 11 năm 2023 của Phòng K, Công an tỉnh S có chữ ký ghi họ tên Giám định viên Phạm Thanh Trương S1, trợ lý giám định Nguyễn Văn Đ2, Công an thành phố S; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, màu trắng, đỏ, đen, biển số 95G1-11385; 01 (một) đoạn ống thủy tinh có một đầu hình tròn; 01 (một) cái nắp nhựa màu cam được khoét hai lỗ, một lỗ gắn đoạn ống nhựa màu trắng; 01 (một) hột quẹt gas màu xanh và 01 (một) điện thoại di động màu đen có chữ OPPO, camera điện thoại bị vỡ, bên trong có sim số 03429004419, đã được niêm phong ký hiệu "ĐTH" của bị cáo Nguyễn Thanh H. Tạm giữ của bị cáo Nguyễn Hải Đ: 01 (một) điện thoại di động màu đen có chữ OPPO, bên trong có sim số 0902998062, đã được niêm phong ký hiệu "ĐTĐ". Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã làm rõ và trao trả một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, màu trắng, đỏ, đen, biển số 95G1-11385, cho chủ sở hữu là ông Nguyễn Văn B.

Cáo trạng số 114/CT-VKS-TPST ngày 24 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng truy tố các bị cáo Nguyễn Hải Đ, Nguyễn Thanh H và Phạm Ngọc S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo; đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Hải Đ; xử phạt: bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thanh H; xử phạt: bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 2 Điều 51; Điều 38, khoản 1 Điều 56, Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phạm Ngọc S; xử phạt: bị cáo từ 03 năm đến 04 năm tù.

Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu huỷ: gói MT niêm phong vụ số 192/2023, ngày 22 tháng 11 năm 2023 của Phòng K, Công an tỉnh S có chữ ký ghi họ tên Giám định viên Phạm Thanh Trương S1, Trợ lý giám định Nguyễn Văn Đ2, Công an thành phố S Nguyễn Minh Đ3; 01 (một) đoạn ống thủy tinh có một đầu hình tròn; 01 (một) cái nắp nhựa màu cam được khoét hai lỗ, một lỗ gắn đoạn ống nhựa màu trắng; 01 (một) hột quẹt gas màu xanh.

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động màu đen có chữ OPPO, camera điện thoại bị vỡ, bên trong có sim số 03429004419, đã được niêm phong ký hiệu "ĐTH" của bị cáo Nguyễn Thanh H.

Trả lại bị cáo Nguyễn Hải Đ: 01 (một) điện thoại di động màu đen có chữ OPPO, bên trong có sim số 0902998062, đã được niêm phong ký hiệu "ĐTĐ".

Tại phiên tòa, các bị cáo H, Đ đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng đã truy tố, các bị cáo H, Đ có thái độ thành khẩn khai báo, biết ăn năn, hối cải; không có tranh luận với đại diện Viện kiểm sát và nói lời sau cùng đều xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt. Đối với bị cáo S1 không thừa nhận hành vi phạm tội, cụ thể: vào ngày 11/11/2023 bị cáo chuyển tiền cho bị cáo Đ mục đích để trả nợ cho bị cáo Đ, không phải chuyển tiền để cho bị cáo Đ đi mua ma túy; bị cáo không có tranh luận với Kiểm sát viên và nói lời sau xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Công an thành phố S, Điều tra viên, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân thành Sóc Trăng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung:

[2] Nhận thấy, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Thanh H và Nguyễn Hải Đ đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời thừa nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản khám nghiệm hiện trường và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác mà Cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Nên có đủ cơ sở xác định các bị cáo Nguyễn Hải Đ và Nguyễn Thanh H: vào khoảng 01 giờ 00 phút, ngày 12/11/2023 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S bắt quả tang, bị cáo Đ, H đang cất giữ trái phép 1,1326 gam ma tuý, loại Methamphetamine tại khu vực trước nhà số F, đường P, Khóm C, Phường H, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng nhằm mục đích để sử dụng. Hành vi nêu trên của các bị cáo đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

[3] Đối với bị cáo Phạm Ngọc S, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay bị cáo đều không thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Tuy nhiên, căn cứ vào lời khai của các bị cáo Đ, H và các tài liệu mà Cơ quan điều tra thu thập được cụ thể: sao kê tài khoản ngân hàng của bị cáo S có chuyển cho bị cáo Đ số tiền 1.300.000 đồng, trong đó số tiền 1.200.000 đồng để mua ma tuý. Bị cáo S cho rằng, bị cáo chuyển tiền cho bị cáo Đ là để trả nợ nhưng các lời khai của bị cáo Đ từ khi điều tra đến tại phiên tòa bị cáo Đ đều khẳng định, bị cáo S không có nợ tiền bị cáo Đ, số tiền 1.200.000 đồng mà bị cáo S chuyển cho bị cáo Đ vào ngày 11/11/2023 là tiền mua ma túy. Bên cạnh đó, bị cáo H cũng đều trình bày như bị cáo Đ. Giữa các bị cáo là bạn bè với nhau và cũng không có xảy ra mâu thuẫn; lời trình bày của các bị cáo H, Đ là phù hợp với các chứng cứ mà Cơ quan điều tra thu thập được. Cho nên, căn cứ vào các lời khai của bị cáo H, Đ và các tài liệu chứng cứ mà Cơ quan điều tra thu thập được có đủ căn cứ xác định hành vi của bị cáo Phạm Ngọc S đủ các yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự với vai trò đồng phạm với bị cáo H, Đ.

[4] Trong vụ án này có 03 bị cáo tham gia nhưng giữa các bị cáo không có cấu kết chặt chẽ nên không thuộc đồng phạm có tổ chức mà thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn.

[5] Hành vi trên của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội và đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách quản lý độc quyền về chất ma túy của Nhà nước và còn làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự ở địa phương. Hiện nay, tệ nạn ma túy đang là gánh nặng cho gia đình và xã hội. Cho nên, cần phải xử nghiêm đối với các bị cáo để cải tạo, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm.

[6] Tuy nhiên, trước khi quyết định hình phạt cũng cần phải xem xét đến nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:

[6.1] Đối với bị cáo Nguyễn Hải Đ: vào ngày 19/6/2018 bị Toà án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” đến lần phạm tội này đã xoá án tích; không có về tình tiết tăng nặng; về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo; ăn năn, hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tiền án, tiền sự, có ông N1 là Liệt sĩ đây là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6.2] Đối với bị cáo Nguyễn Thanh H: không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo; ăn năn, hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tiền án, tiền sự, có cha ruột là ông Nguyễn Thanh P được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất vào ngày 06 tháng 02 năm 2002, vì đã có niên hạn 25 năm công tác và thành tích phục vụ trong lực lượng Công an nhân dân, góp phần giữ gìn an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội và được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương bảo vệ tổ quốc hạng ba vào ngày 22 tháng 11 năm 2013, vì đã có thành tích xuất sắc trong công tác huấn luyện, phục vụ chiến đấu, xây dựng lực lượng Công an nhân dân, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, góp phần vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc đây là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6.3] Đối với bị cáo Phạm Ngọc S: vào ngày 28/3/2024, bị Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xử phạt 01 năm 07 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” đang chấp hành; về tình tiết tăng nặng: không có; về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tiền sự, bị cáo được Uỷ ban Hội liên hiệp thanh niên phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh tặng giấy khen vì có thành tích tốt trong phong trào xung kích bảo vệ Tổ quốc giữ gìn trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn, bị cáo có trình độ học vấn thấp; có ông N2 là ông Nguyễn Văn Đ4 được Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C tặng giấy khen vì có thành tích xuất sắc trong phong trào nông dân thi đua sản xuất kinh doanh giỏi, giai đoạn 2016 – 2019; có ông chú Phạm Thanh V2 là người có công với cách mạng và có bà cô là bà mẹ Việt Nam anh hùng đây là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Nhận thấy, áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo thấp hơn mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhưng cao hơn mức hình phạt khởi điểm của khung hình phạt là tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm đối với hành vi của bị cáo đã gây ra.

[7] Từ những phân tích trên, thấy rằng Cáo trạng số 114/CT-VKS-TPST ngày 24 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng truy tố các bị cáo Nguyễn Hải Đ, Nguyễn Thanh H và Phạm Ngọc S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và không oan sai đối với các bị cáo.

[8] Về xử lý vật chứng:

[8.1] Đối với vật chứng: gói MT niêm phong vụ số 192/2023, ngày 22 tháng 11 năm 2023 của Phòng K, Công an tỉnh S có chữ ký ghi họ tên Giám định viên Phạm Thanh Trương S1, Trợ lý giám định Nguyễn Văn Đ2, Công an thành phố S; 01 (một) đoạn ống thủy tinh có một đầu hình tròn; 01 (một) cái nắp nhựa màu cam được khoét hai lỗ, một lỗ gắn đoạn ống nhựa màu trắng; 01 (một) hột quẹt gas màu xanh, đây là hàng cấm lưu hành, vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu và tiêu hủy.

[8.2] Đối với vật chứng: 01 (một) điện thoại di động màu đen có chữ OPPO, camera điện thoại bị vỡ, bên trong có sim số 03429004419, đã được niêm phong ký hiệu "ĐTH" của bị cáo Nguyễn Thanh H dùng để liên lạc với người tên M1 để mua ma tuý là phương tiện dùng trong phạm tội, còn giá trị nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

[8.3] Đối với vật chứng: 01 (một) điện thoại di động màu đen có chữ OPPO, bên trong có sim số 0902998062, đã được niêm phong ký hiệu "ĐTĐ" không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại bị cáo Nguyễn Hải Đ.

[9] Về án phí hình sự sơ thẩm: buộc mỗi bị cáo phải chịu là 200.000 đồng.

[10] Xét lời đề nghị của Kiểm sát viên về tội danh, áp dụng pháp luật, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức hình phạt, xử lý vật chứng phù hợp với quy định của pháp luật nên có cơ sở chấp nhận. Tuy nhiên, về mức hình phạt đối với bị cáo S1 chưa đủ cơ sở chấp nhận như phân tích ở phần trên.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 17, Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Hải Đ, Nguyễn Thanh H.

Căn cứ vào Điều 17, Điều 38, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58 điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phạm Ngọc S.

Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: các bị cáo Nguyễn Thanh H, Nguyễn Hải Đ và Phạm Ngọc S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

  1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh H: 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn thi hành án phạt tù tính từ ngày 12 tháng 11 năm 2023.
  2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hải Đ: 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn thi hành án phạt tù tính từ ngày 12 tháng 11 năm 2023.
  3. Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc S: 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Tổng hợp hình phạt với bản án số 27/2024/HS-PT, ngày 28/3/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xử phạt bị cáo 01 năm 07 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” buộc bị cáo Phạm Ngọc S chấp hành chung hình phạt của hai bản án là 04 (bốn) năm 01 (một) tháng tù. Thời hạn thi hành án phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
  4. Về xử lý vật chứng:
    1. Tịch thu tiêu huỷ: gói MT niêm phong vụ số 192/2023, ngày 22 tháng 11 năm 2023 của Phòng K, Công an tỉnh S có chữ ký ghi họ tên Giám định viên Phạm Thanh Trương S1, Trợ lý giám định Nguyễn Văn Đ2, Công an thành phố S; 01 (một) đoạn ống thủy tinh có một đầu hình tròn; 01 (một) cái nắp nhựa màu cam được khoét hai lỗ, một lỗ gắn đoạn ống nhựa màu trắng; 01 (một) hột quẹt gas màu xanh.
    2. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động màu đen có chữ OPPO, camera điện thoại bị vỡ, bên trong có sim số 03429004419, đã được niêm phong ký hiệu "ĐTH" của bị cáo Nguyễn Thanh H.
    3. Trả lại cho bị cáo Nguyễn Hải Đ 01 (một) điện thoại di động màu đen có chữ OPPO, bên trong có sim số 0902998062, đã được niêm phong ký hiệu "ĐTĐ" không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại bị cáo Nguyễn Hải Đ.
  5. Về án phí hình sự sơ thẩm: buộc mỗi bị cáo phải chịu là 200.000 đồng.
  6. Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014;

Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Nơi nhận:

  • - Các bị cáo;
  • - TAND tỉnh Sóc Trăng;
  • - VKSND tỉnh Sóc Trăng;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng;
  • - Công an thành phố Sóc Trăng;
  • - CQĐT - Công an TPST;
  • - CQTHAHS - Công an TPST;
  • - VKSND thành phố Sóc Trăng;
  • - Chi cục THADS - TPST;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký)

Nguyễn Văn Thanh Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 128/2024/HS-ST ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG về tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 128/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thanh H - Phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger