|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do- Hạnh phúc ---------- |
|
Bản án số: 128/2024/DS-ST Ngày: 14-5-2024 V/v tranh chấp dân sự hợp đồng vay tài sản |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lý Thị Rỡ
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đặng Anh Đoan
- Ông Dương Văn Lũy
Thư ký phiên tòa: Nguyễn Trung Hiếu là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa: Ông Lê Thanh Phong – Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 248/2023/TLST-DS ngày 06 tháng 10 năm 2023 về tranh chấp dân sự hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 122/2024/TLST-DS ngày 01 tháng 4 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 114/2024/QĐST-DS ngày 24 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Ung Thị Tú T, sinh năm 1983; Nơi cư trú: Số H, ấp T, xã T, huyện P, tỉnh An Giang (có mặt)
Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim T1, sinh năm 1981; Nơi cư trú: Số nhà D, tổ A, khóm T, thị trấn P, huyện P, tỉnh An Giang (có mặt)
Bị đơn: Anh Nguyễn Chí C, sinh năm 1994; Nơi cư trú: tổ F, khóm T, thị trấn P, huyện P, tỉnh An Giang (vắng mặt)
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Ông Bùi Thanh T2, sinh năm 1971 (vắng mặt)
- Ông Nguyễn Tùng P, sinh năm 1962 (có mặt)
Nơi cư trú: Số H, ấp T, xã T, huyện P, tỉnh An Giang
3/ Bà Đoàn Kim N, sinh năm 1965 (vắng mặt)
Cùng nơi cư trú: Số F, H, đường C, khóm T, thị trấn P, huyện P, tỉnh An Giang
4/ Ông Nguyễn Chí H, sinh năm 1982 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Số B, tổ F, khóm T, thị trấn P, huyện P, tỉnh An Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 09/8/2023 và lời khai trong quá trình giải quyết, cũng như tại phiên tòa nguyên đơn trình bày:
Do chổ quen biết lâu năm nên ông C đến nhà bà T vay tiền để làm ăn nhiều lần như sau:
- + Ngày 06/6/2022 (âl) vay là 45.000.000 đồng với lãi là 4%/ tháng, C đã trả lãi cho bà T là 1.600.000 đồng (có ký nhận sổ)
- + Ngày 22/6/2022 (âl) vay 45.000.000 đồng với lãi là 4%/ tháng, C đã trả lãi cho bà T là 1.600.000 đồng (có ký nhận sổ)
- + Ngày 17/9/2022 (âl) vay 4.500.000 đồng không có đóng lãi (có ký nhận sổ)
- + Ngày 19/12/2022 (âl) vay 144.500.000 đồng có làm biên nhận
Hai bên có thoả thuận miệng lãi suất 4%/tháng. Sau khi vay C có đóng lãi, đến ngày 26/02/2023 âm lịch thì ngưng trả lãi đến nay.
Để vay tiền, C thế chấp tài sản cho bà T 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do bà Nguyễn Thị C1 sinh năm 1949 đứng tên và đã chuyển nhượng cho Nguyễn Chí C đứng tên số GCN: CH04416 ngày 06/02/2014 theo hồ sơ số 003187.CN.001 ngày 08/8/2022 và 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BX 930417 số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH01180 ngày 18/3/2015 do Ủy ban nhân dân huyện P cấp cho ông Nguyễn Tùng P và bà Đoàn Kim N. Bà T và ông C có thoả thuận miệng khi ông C trả đủ số tiền vay thì bà T sẽ trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông C.
Việc thế chấp không có làm thủ tục giao dịch đảm bảo tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định pháp luật, việc thế chấp nhằm mục đích tạo niềm tin. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do bà T đang giữ hiện nay không cầm cố, thế chấp, chuyển nhượng cho ai.
Theo đơn khởi kiện bà T yêu cầu ông C trả lại số tiền vay là 239.000.000 đồng và tiền lãi theo mức lãi suất của Ngân hàng N1 quy định từ ngày 26/02/2023 âl cho đến khi xét xử vụ án.
Quá trình giải quyết vụ án bà T rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với các lần vay ngày 06/6/2022 âm lịch; ngày 22/6/2022 âm lịch và ngày 17/9/2022 âm lịch. Bà T chỉ yêu cầu ông C trả lại số tiền vay ngày 19/12/2022 âm lịch 144.500.000 đồng và tiền lãi theo mức lãi suất của Ngân hàng N1 quy định từ ngày 26/02/2023 âl cho đến khi xét xử vụ án.
Việc ông C cho rằng trong số tiền ông C vay có 30.000.000 đồng là ông Nguyễn Chí H vay của vợ chồng bà T sau đó đưa cho ông C, sự việc này bà T không biết. Ông H có vay của vợ chồng bà T 30.000.000 đồng nhưng ông H không nói là vay dùm cho ông C. Bà T xác định bà yêu cầu ông C trả lại số tiền 144.500.000 đồng và tiền lãi theo theo mức lãi suất của Ngân hàng N1 quy định tính từ ngày 26/02/2023 âl lịch, trong đó không có số tiền 30.000.000 đồng mà ông H vay của vợ chồng bà. Việc ông H đưa cho ông C 30.000.000 đồng là việc riêng của họ, không liên quan đến chúng bà T, bà cũng không yêu cầu Toà án giải quyết việc ông H trả 30.000.000 đồng trong vụ án này.
Tại phiên tòa bà T đồng ý giảm lãi, chỉ yêu cầu ông C trả lãi 15.000.000 đồng. Bà T đồng ý trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông P và bà N, còn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Nguyễn Chí C khi nào ông C trả đủ tiền thì bà T mới trả lại giấy cho ông C.
Bị đơn ông Nguyễn Chí C trình bày:
Ông C thừa nhận có vay của ông T2 và bà T số tiền 144.500.000 đồng như biên nhận thế chấp tài sản ngày 19/12/2022âl, trong đó khoản nợ của ông là 94.500.000 đồng thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 23, tờ bản đồ số 24, số Giấy chứng nhận số CH04416, do ông C đứng tên. Còn lại 50.000.000 đồng ông vay để đưa lại cho ông Nguyễn Tùng P và bà Đoàn Kim N, ông có giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T2 và bà T do ông Tùng P và bà N đứng tên để thế chấp.
Việc thế chấp để làm tin chứ không đăng ký giao dịch đảm bảo tại cơ quan chuyên môn theo quy định của Nhà nước.
Ông C đồng ý trả tiền vốn 94.500.000 đồng và lãi từ 26/02/2023 âm lịch (17/03/2023 dương lịch) đến khi xét xử vụ án, yêu cầu ông T2 và bà T trả lại bản gốc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông đứng tên.
Còn lại 50.000.000 đồng và tiền lãi của 50.000.000 đồng là trách nhiệm của ông Tùng P và bà N. Nên ông C không đồng ý trả khoản tiền này cho ông T2 và bà T.
Trước đây ông C có nhờ ông Nguyễn Chí H vay tiền của ông T2 30.000.000 đồng, số tiền này là nợ riêng của ông với ông H, không nằm trong số tiền 144.500.000 đồng mà bà T và ông T2 yêu cầu.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Ông Bùi Thanh T2 trình bày: Ông thống nhất với trình bày của vợ là bà Ung Thị Tú T. Trong quá trình cho ông C vay tiền, có khi ông T2 trực tiếp đưa tiền cho ông C, có khi do bà T đưa cho ông C trước mặt ông. Số tiền ông đưa cho ông C vay là tiền chung của vợ chồng. Ông T2 yêu cầu ông C trả lại 144.500.000 đồng này cho vợ chồng ông và lãi từ ngày lãi từ 26/02/2023 âm lịch (17/03/2023 dương lịch) đến khi xét xử xong vụ án. Đồng thời ông trả lại cho C giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do C đứng tên và trả lại ông P và bà N giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông P và bà N đứng tên.
Ông Nguyễn Tùng P trình bày: Khoảng năm 2022, không nhớ rõ ngày tháng nào, ông P có vay tiền của ông Nguyễn Chí C 50.000.000 đồng để trị bệnh cho vợ. Ông đưa ông C giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do vợ chồng ông đứng tên để làm tin. Còn số tiền ông C đưa ông vay ở đâu mà có thì ông không biết, ông không có vay tiền của bà T và ông T2, nên xin được nhận lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông và bà N đứng tên.
Ông Nguyễn Chí H trình bày: Ông H là anh bà con của Nguyễn Chí C. Khoản tháng 01/2022 ông có vay tiền của ông Bùi Thanh T2 30.000.000 đồng lãi suất 5%/tháng và cho ông C mượn lại. Thời gian đầu ông C có đưa tiền cho ông đóng lãi, sau đó (không nhớ rõ ngày tháng năm) ông C không đưa tiền tôi để ông tiếp tục đóng lãi, ông phải tự lấy tiền của mình đóng lãi cho ông T2 với số tiền 11.500.000 đồng. Khi vay tiền của ông T2, ông không có nói cho ông T2 biết vay để đưa lại cho C. Ông H xác nhận 30.000.000 đồng này là ông H vay của ông T2. Việc ông cho C mượn là chuyện của ông và C, không liên quan đến yêu cầu khởi kiện của bà T trong vụ án này.
Bà Đoàn Kim N đã được tòa án triệu tập nhiều lần những vắng mặt, không có đơn xin vắng, không có ý kiến bằng văn bản đối với yêu cầu của ông C.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân phát biểu ý kiến:
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng
- Nguyên đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định tại Điều 70, 71, 72, 73 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn và bà Đoàn Kim N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do, cho thấy không chấp hành đúng quy định Điều 70 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đề xuất quan điểm giải quyết vụ án
Căn cứ các Điều 463, 466 Bộ luật dân sự năm 2015. Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với số tiền vat 94.500.000 đồng
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- - Buộc ông Nguyễn Chí C trả số tiền vốn 144.500.000 đồng và lãi 15.000.000 đồng cho bà Ung Thị Tú T.
- - Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên ông P và N. Buộc nguyên đơn trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Chí C.
- Bị đơn phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Theo nội dung đơn khởi kiện nộp ngày 09/8/2023 và quá trình giải quyết vụ án, các nguyên đơn yêu cầu bị đơn có nghĩa vụ trả cho vốn vay và lãi. Đây là quan hệ pháp luật “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Bị đơn có nơi cư trú tại huyện P, tỉnh An Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
[1.2] Bị đơn và bà Đoàn Kim N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không rõ lý do, không có yêu cầu vắng mặt khi xét xử theo quy định pháp luật, do đó Hội đồng xét xử vẫn tiến hành phiên Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên theo quy định tại Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
[1.3] Theo đơn khởi kiện nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả vốn vay 239.000.000 đồng và lãi. Ngày 18/3/2024 nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền 94.500.000 đồng, chỉ yêu cầu bị đơn trả vốn 144.500.000 đồng và lãi. Xét thấy: Nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện là tự nguyện và phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với yêu cầu bị đơn trả số tiền vay 94.500.000 đồng.
[2] Về nội dung tranh chấp:
[2.1] Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả số tiền vốn vay 144.500.000 đồng theo biên nhận nợ ngày 19/12/2022 âm lịch. Bị đơn thừa nhận có vay của nguyên đơn 144.500.000 đồng nhưng chỉ đồng ý trả 94.500.000 đồng, còn lại 50.000.000 đồng là trách nhiệm của ông Nguyễn Tùng P và bà Đoàn Kim N.
Xét thấy: Căn cứ vào những tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra tại phiên tòa, có đủ căn cứ xác định bị đơn Nguyễn Chí C có vay tiền của bà Ung Thị Tú T và Bùi Thanh T2 144.500.000 đồng nhưng chưa trả. Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả vốn 144.500.000 đồng là có căn cứ.
Bị đơn cho rằng sau khi nhận tiền vay từ nguyên đơn, bị đơn cho ông Nguyễn Tùng P và bà Đoàn Kim N vay lại 50.000.000 đồng. Ông P thừa nhận chỉ vay của bị đơn 50.000.000 đồng, không vay tiền bà T không. Bà T cũng xác nhận không cho ông P vay tiền. Bà T có được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông P và bà N là do C đưa để làm tin. Như vậy, giữa ông P, bà N và bà T không phát sinh hợp đồng vay 50.000.000 đồng mà số tiền này là ông P và bà N vay của ông C, một quan hệ vay tài sản khác không liên quan đến yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Do đó, bị đơn cho rằng ông P có trách nhiệm trả cho nguyên đơn 50.000.000 đồng trong số 144.500.000đồng là không có căn cứ.
Bị đơn có quyền yêu cầu ông P và bà N trả số tiền 50.000.000 đồng trong một vụ án khác.
[2.2] Xét thấy: Bị đơn thừa nhận ngưng trả lãi từ ngày 17/3/2023 đến nay nên nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả lãi là có căn cứ. Tại phiên tòa nguyên đơn chỉ yêu cầu bị đơn trả lãi 15.000.000 đồng là có lợi cho bị đơn nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.3] Đối với ý kiến của bị đơn và ông P xin nhận lại các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH04416 ngày 06/02/2014 điều chỉnh biến động ngày 08/8/2022 do ông Nguyễn Chí C đứng tên và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BX 930417 số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH01180 ngày 18/3/2015 do ông Nguyễn Tùng P và bà Đoàn Kim N đứng tên do bị đơn giao cho nguyên đơn để thế chấp khi vay 144.500.000 đồng.
Xét thấy: Bị đơn giao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH04416 ngày 06/02/2014 điều chỉnh biến động ngày 08/8/2022 do ông Nguyễn Chí C đứng tên và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BX 930417 số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH01180 ngày 18/3/2015 do Ủy ban nhân dân huyện P cấp cho ông Nguyễn Tùng P và bà Đoàn Kim N nhằm mục đích thế chấp. Tuy nhiên việc thế chấp này không tuân thủ pháp luật về việc đăng ký thế chấp nên không được pháp luật bảo vệ. Nguyên đơn tự nguyện trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông P và N nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn. Đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Nguyễn Chí C, nguyên đơn phải có trách nhiệm trả lại cho Nguyễn Chí C.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc ông Nguyễn Chí C trả cho bà Ung Thị Tú T nợ gốc 144.500.000 đ (một trăm bốn mươi bốn triệu năm trăm nghìn đồng) và tiền lãi 15.000.000 đồng.
Bà Ung Thị Tú T có trách nhiệm trả lại giấy chứng nhận quyền dụng đất cho ông Nguyễn Chí C; trả lại giấy chứng nhận quyền dụng đất cho ông Nguyễn Tùng P và bà Đoàn Kim N.
[3] Về án phí: Bị đơn Nguyễn Chí C phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật. Nguyên đơn không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 244; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 266 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 463, 465, 466 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Luật phí và lệ phí năm 2015;
Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối về việc yêu cầu bị đơn trả vốn vay 94.500.000 đồng.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Ung Thị Tú T.
- Buộc ông Nguyễn Chí C trả cho bà Ung Thị Tú T số tiền 159.500.000₫ (Một trăm năm mươi chín triệu năm trăm nghìn đồng). Trong đó, vốn vay 144.500.000 đồng, lãi 15.00.000 đồng.
- Bà Ung Thị Tú T có trách nhiệm trả lại cho ông Nguyễn Chí C Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BR 293347, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH04416 do Ủy ban nhân dân huyện P ngày 06/02/2014 điều chỉnh biến động ngày 08/7/2022 do ông Nguyễn Chí C đứng tên, thửa đất số 23, tờ bản đồ số 24, diện tích 98,3m², loại đất ở tại đo thị, tọa lạc tại thị trấn P, huyện P, tỉnh An Giang;
- Về án phí:
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án nộp đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa thanh toán xong số tiền phải thi hành thì còn phải trả tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả.
Ghi nhận sự tự nguyện của bà Ung Thị Tú T trả lại ông ông Nguyễn Tùng P và bà Đoàn Kim N giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BX 930417, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH01180 ngày 18/3/2015 do Ủy ban nhân dân huyện P cấp cho ông Nguyễn Tùng P và bà Đoàn Kim N thửa đất số 76, tờ bản đồ số 40, diện tích 52,4m², loại đất ở tại đô thị, tọa lạc tại thị trấn P, huyện P, tỉnh An Giang;
Ông Nguyễn Chí C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 7.975.000 đồng.
Bà Ung Thị Tú T được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 5.975.000 đồng theo biên lai số 0006550 ngày 05/10/2023 của cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lý Thị Rỡ |
Bản án số 128/2024/DS-ST ngày 14/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 128/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
