TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 128/2024/HS-ST Ngày 13-6-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Sang.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lương Thanh Nhàn
Bà Trần Thị Ngọc Hạnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hương Giang- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: ông Đỗ Thiện Đại - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 6 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 117/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 120/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị B, sinh năm 1959 tại tỉnh Cà Mau; nơi thường trú: ấp Ông Q, xã T, huyện N, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B1 (đã chết) và bà Đồng Thị M; bị cáo có chồng là ông Phan Minh K và 05 người con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo tại ngoại, có mặt.
- Bị hại: Ông Trần Vũ P, sinh năm 1991 (đã chết)
Người đại diện hợp pháp của bị hại:
- Ông Trần Văn K1 (cha ruột bị hại), sinh năm 1953, không rõ nơi cư trú;
- Bà Nguyễn Thị V (mẹ ruột của bị hại), sinh năm 1963; nơi thường trú: ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Vĩnh Long; nơi tạm trú: ấp B, xã P, thành phố B, tỉnh Bình Dương, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Bà Trần Thị B2, sinh năm 1989; nơi thường trú: ấp H, xã T, huyện H, tỉnh Kiên Giang; nơi tạm trú: ấp B, xã P, thành phố B, tỉnh Bình Dương, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt
- Ông Nguyễn Hồng N, sinh năm 1984, nơi thường trú: tổ D, khu phố K, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tối ngày 09/7/2023, Nguyễn Thị B đi bộ từ phòng trọ của mình thuê ở tại ấp B, xã P, T (nay là thành phố ) B, tỉnh Bình Dương ra đường PA018 để mang thuốc cho chồng của B đang làm bảo vệ ở Công ty TNHH H (địa chỉ: ấp B, xã P). Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, Nguyễn Thị B đang đi bộ ngược chiều trên đường PA018, bên lề trái hướng từ đường HL609 đến đường DT744, thuộc khu vực ấp B, xã P thì Nguyễn Thị B đột ngột băng qua lề phải đường. Khi B đi ra đến giữa đường PA018 thì va chạm với xe mô tô, nhãn hiệu SYM ELEGANT, biển số 61E-285.35 do Trần Vũ P (sinh năm 1991, nơi thường trú: ấp T, xã P, huyện P, tỉnh Cà Mau) điều khiển, đang lưu thông trên đường PA018 theo hướng từ đường ĐT744 chạy đến, tai nạn xảy ra làm Trần Vũ P, Nguyễn Thị B và xe mô tô biển số 61E-285.35 cùng ngã xuống đường. Nguyễn Thị B bị xây xát nhẹ, còn Trần Vũ P được người dân đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh B. Đến khoảng 8 giờ 30 phút ngày 10/07/2023, Trần Vũ P tử vong.
Vật chứng thu giữ: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu SYM ELEGANT biển số: 61E1-285.35.
Theo Biên bản khám nghiệm hiện trường:
- Hiện trường nơi xảy ra tai nạn giao thông là đoạn đường thẳng, khô, được trải nhựa bằng phẳng, tầm nhìn lái xe không bị che khuất. Chiều rộng đường PA018 là 6,4m, không có vạch kẻ đường, không có biển báo phân làn, không có biển báo tốc độ, không có vạch kẻ đường dành cho người đi bộ.
- Lấy trụ cổng hàng rào bên phải Công ty TNHH H làm điểm mốc, lấy mép đường bên phải theo hướng từ đường DH609 đến đường DT744 làm chuẩn.
- Xe mô tô nhãn hiệu SYM ELEGANT biển số: 61E1-285.35 ngã qua trái, đầu xe hướng về đường DH609. Vết cày xe mô tô biển số: 61E1-285.35 có hướng từ đường DH609 đến đường DT744, đầu vết cày cách mép đường là 3,3m, điểm cuối vết cày trùng với gác chân trước bên trái của xe mô tô.
Theo Biên bản khám nghiệm phương tiện: Dấu vết để lại trên xe mô tô, biển số: 61E1-285.35 bị bể bung đầu đèn chiếu sáng, đèn xi nhan phía trước bên phải; mòn đầu tay cầm trái, cong gác chân trước bên trái về sau, gãy rời gác chân sau bên trái.
Theo Bản kết luận giám định số: 557KLGĐTT ngày 13/7/2023, phòng K2 Công an tỉnh B kết luận: Nguyên nhân chết của Trần Vũ P là do đa chấn thương, chấn thương sọ não, nứt xương hộp sọ, dập não.
Theo Kết luận số: 27 ngày 18/03/2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng thị xã (nay là thành phố B) kết luận: xe mô tô biển số 61E1-285.35 bị thiệt hại trị giá 1.200.000 đồng.)
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Thị B đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của B phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án. Bán khai khi đi đưa thuốc cho chồng, B đã đi bộ ngược chiều và băng qua đường đột ngột, không chú ý quan sát dẫn đến gây tai nạn giao thông.
Về xử lý vật chứng: xe mô tô nhãn hiệu SYM ELEGANT biển số: 61E1-285.35 do ông Nguyễn Hồng N (sinh năm 1984, nơi thường trú: khu phố K, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương) đứng tên đăng ký. Năm 2020, ông N bán xe cho Trần Vũ P nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Ngày 13/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra C1 (nay là thành phố) Bến C đã giao trả: xe mô tô biển số 61E1-285.35 cho bà Trần Thị B2 (sinh năm 1989, nơi thường trú: ấp H, xã T, huyện H, tỉnh Kiên Giang) là người đại diện hợp pháp của nạn nhân Trần Vũ P.
Về trách nhiệm dân sự: Ngày 12/02/2024, Nguyễn Thị B đã tự nguyện khắc phục hậu quả cho Trần Thị B2 số tiền 3.000.000 đồng. bà Trần Thị B2 đại diện gia đình nhận tiền và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho Nguyễn Thị B.
Cáo trạng số 131/CT-VKSBC ngày 13/5/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Thị B về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng; đánh giá tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị B mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm đến 03 năm. Về trách nhiệm dân sự đương sự không tiếp tục yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.
- Bị cáo Nguyễn Thị B tranh luận: bị cáo không biết luật, tuổi cao nên bị cáo không nhìn thấy xe bị hại, bị cáo mới băng qua đường, bị cáo biết lỗi.
Trong lời nói sau cùng, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được án treo, bị cáo đã lớn tuổi, có bệnh, gia đình khó khăn, chỉ xin được hưởng án treo để về quê làm thuê kiếm sống.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra và tại phiên tòa. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Đối với ông Trần Văn K1 (theo lời khai của bà Nguyễn Thị V thì ông K1 là cha ruột của bị hại Trần Vũ P), quá trình điều tra xác định không rõ ông K1 cư trú tại đâu, giữa bà V và ông K1 không đăng ký kết hôn, không đăng ký nơi cư trú, bà V và ông K1 đã không sống chung, không liên lạc với nhau từ năm 1994, hiện tại gia đình không có bất kỳ giấy tờ nào thể hiện lý lịch nhân thân, nơi cư trú của ông K1, cũng không rõ ông K1 còn sống hay đã mất, do vậy không thể tiến hành làm việc, cấp tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định. Đối với đại diện hợp pháp bị hại bà Nguyễn Thị V, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Trần Thị B2, ông Nguyễn Hồng N có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự tiến hành xét xử vụ án theo quy định.
[2] Về nội dung: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị B khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, các biên bản hỏi cung bị can, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện, bản kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 20 giờ ngày 09/7/2023, tại đoạn đường PA018, thuộc ấp B, xã P, T (nay là thành phố ) B, tỉnh Bình Dương, bị cáo Nguyễn Thị B đi bộ ngược chiều trên đường PA018, bên lề trái theo hướng từ đường HL609 đến đường DT744, thuộc khu vực ấp B, xã P. Bị cáo không chú ý quan sát, không thấy bị hại Trần Vũ P đang điều khiển xe mô tô biển số 61E1-285.35 lưu thông trên đường PA018 theo hướng ngược lại, bị cáo đột ngột chuyển hướng băng qua lề phải dẫn đến va chạm với bị hại Trần Vũ P, tai nạn xảy ra làm Trần Vũ P bị thương nặng và sau đó chết tại bệnh viện, xe mô tô của Trần Vũ P bị hư hỏng, thiệt hại 1.200.000 đồng.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị B tham gia giao thông nhưng không đi đúng làn đường quy định, đi ngược chiều, không quan sát các xe đang đi tới, qua đường không bảo đảm an toàn là vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ tại khoản 1 Điều 9, Điều 32 của Luật Giao thông đường bộ, hậu quả làm chết 01 người. Bị cáo đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, do đó, hành vi của bị cáo đã hội đủ các yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo với tội danh, điều khoản như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây thiệt hại cho tính mạng của bị hại. Với tình hình tai nạn giao thông phức tạp như hiện nay, là do ý thức không chấp hành Luật Giao thông đường bộ của người tham gia giao thông mà phần lớn là lỗi của người tham gia giao thông vi phạm Luật Giao thông đường bộ, dẫn đến gây tai nạn cho người khác. Do vậy, cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất, mức độ thực hiện tội phạm nhằm có tác dụng giáo dục, trừng trị đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Thị B không phạm phải.
[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại. Đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, do vậy, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
[6] Đối chiếu với các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất, mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo có nhân thân tốt, ngoài lần phạm tội này bị cáo chấp hành tốt chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng; có khả năng tự cải tạo nên không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Bị cáo đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự, Văn bản hợp nhất Nghị quyết hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo số: 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của Tòa án nhân dân tối cao. Do vậy, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, tạo điều kiện cho bị cáo được tự cải tạo, sửa chữa bản thân, làm người có ích cho gia đình, xã hội; đồng thời thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội biết ăn năn hối cải, đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong xử lý người phạm tội.
Hình phạt Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với các bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo tự nguyện bồi thường số tiền 3.000.000 (ba triệu) đồng cho đại diện hợp pháp bị hại, đại diện hợp pháp bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và không còn yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[8] Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 298, 299, 326, 327, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị B phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, các điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự; Văn bản hợp nhất Nghị quyết hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo số: 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của Tòa án nhân dân tối cao.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị B 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm, thời gian thử thách tính từ ngày Tòa tuyên án.
Giao bị cáo Nguyễn Thị B về Ủy ban nhân dân xã T, huyện N, tỉnh Cà Mau trực tiếp giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo Nguyễn Thị B thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Án phí sơ thẩm: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Nguyễn Thị B phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đại diện hợp pháp bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Sang |
Bản án số 128/2024/HS-ST ngày 13/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 128/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
