|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số:128/2024/HSST
Ngày 13/5/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Mai Thị H
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tiến C;
Ông Vương Đình Q, Giáo viên
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thùy T - Thư ký Toà án
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thùy D - Kiểm sát viên.
Ngày 13/5/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 89/2024/TLST-HS ngày 15/4/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 100/QĐXXST-HS ngày 25/4/2024 đối với các bị cáo:
1. Lê Thị Đ, sinh năm 1957; HKTT: SỐ C M4 ngõ G B, phường B, quận H, TP Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 6/10; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nữ; Con ông: Lê Văn T – đã chết và bà Nghiêm Thị N – đã chết; Gia đình có 04 chị em, bị cáo là con út; Bị cáo có chồng và 01 con đều đã chết; Tiền sự: Không;
Tiền án: Ngày 26/11/1993, TAND quận Hai Bà Trưng xử phạt 12 tháng tù giam về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Chưa xóa án tích). Tái phạm.
Bị cáo bị bắt khẩn cấp, tạm giữ từ ngày 30/12/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Số 1- Công an thành phố H. Số giam: 6286C2/M2. Có mặt tại phiên tòa.
2. Nguyễn Ngọc Quang M, sinh ngày 14/10/2008 (Chưa thành niên phạm tội 15 tuổi 02 tháng 15 ngày); HKTT: TDP P, phường T, quận N, Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con ông: Nguyễn Ngọc S - SN: 1968 và bà Nguyễn Thị H - SN: 1978; Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ hai; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 30/12/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Số 1- Công an thành phố H. Số giam: 6288/K57. Có mặt tại phiên tòa.
3. Phạm Đức D, sinh năm 2005; HKTT: SỐ F, TDP số CM, phường T, quận N, Hà Nội; Nghề nghiệp: Sinh viên trường Đại học C1; Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con ông: Phạm Ngọc T1 - SN: 1974 và bà Nguyễn Thị Bích T2 - SN: 1978; Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ ba; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không.
Trợ giúp viên pháp lý
Bị cáo bị bắt khẩn cấp, tạm giữ từ ngày 30/12/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Số 1- Công an thành phố H. Số giam: 6287/22A. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 11 giờ 50 phút ngày 29/12/2023, Công an phường Đ trên đường đi làm nhiệm vụ phát hiện tại khu vực lô đất CX2 khu đô thị V, M, N, Hà Nội Nguyễn Ngọc Quang M đang ngồi trên xe máy Janus gắn BKS: 29H1-901.46 trao đổi với 01 nam thanh niên đứng trên đường với biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Khi tổ công tác tiếp cận, người thanh niên đứng trên đường bỏ chạy thoát, khi bỏ chạy bị rơi 01 điện thoại di động Mastel màu xanh, số tiền 200.000 đồng. Kiểm tra và phát hiện trên tay phải của M đang cầm 01 túi nilon bên trong chứa thảo mộc khô màu vàng nâu, cùng với đó M lấy từ trong túi áo bên trái ra 03 túi nilon đều chứa thảo mộc khô màu vàng nâu ra giao nộp. M khai nhận thảo mộc khô trong 04 túi nilon đều là ma túy Tobaco của M mang đi để bán trong đó túi cầm ở tay trái là để bán cho người thanh niên đã bỏ chạy, 03 túi còn lại M để bán khi có khách hỏi mua. Tổ công tác niêm phong tang vật, lập biên bản và dẫn giải đối tượng về trụ sở để đấu tranh làm rõ.
Vật chứng thu giữ:
- 04 túi nilon chứa thảo mộc khô màu vàng nâu nghi là ma túy Tobaco;
- 01 điện thoại di động Iphone 11 màu trắng lắp 01 sim;
- 01 điện thoại di động Mastel màu xanh không lắp sim;
- 01 xe máy Yamaha Janus màu xanh gắn BKS: 29H1-901.46;
- Số tiền 200.000 đồng.
Quá trình điều tra xác định:
Nguyễn Ngọc Quang M và Phạm Đức D là bạn bè quen biết xã hội với nhau từ lâu và thường xuyên sử dụng ma túy Tobaco cùng nhau. Để có tiền tiêu xài cá nhân và mua ma túy sử dụng, cả hai nảy sinh ý định mua ma túy Tobaco về bán lại cho khách mua kiếm lời và thỏa thuận thống nhất với nhau như sau: M lập 01 tài khoản facebook tên “Là Tôi Tổ” để đăng tin bán ma túy trên các page về T và sau đó cùng D góp tiền đi mua ma túy (mỗi người góp một nửa). Khi có khách liên hệ hỏi mua, M sẽ thỏa thuận số lượng, giá tiền, địa điểm giao dịch sau đó cùng D đi bán ma túy hoặc một mình sử dụng xe máy Janus BKS: 29H1-901.46 của D đi bán ma túy; số tiền hưởng lợi từ việc bán ma túy sẽ chia đều cho cả hai. Sáng ngày 29/12/2023, D và M thỏa thuận mỗi người góp 200.000 đồng để mua 400.000 đồng ma túy T3 về bán cho khách mua. Sau đó cả hai điều khiển xe máy Janus BKS: 29H1-901.46 đi đến nhà của Lê Thị Đ tại số nhà C M, ngõ G phố B, B, H, Hà Nội để mua ma túy, D đứng trước cửa và hỏi mua 04 túi ma túy Tobaco với giá 400.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, D đưa 04 túi ma túy cho M cầm và cả hai đi về nhà của M để nghỉ ngơi. Đến khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày, có một tài khoản Messenger tên “Dũng A” nhắn tin cho M hỏi mua 01 túi ma túy Tobaco, M báo giá 200.000 đồng thì người mua đồng ý và hẹn giao tại khu vực lô đất CX2 khu đô thị V, N, Hà Nội, M nói cho D biết việc có khách đặt mua ma túy, do thời điểm này D đang nằm nghỉ nên không cùng M đi bán ma túy ma để cho M sử dụng xe máy Janus BKS: 29H1- 901.46
mang theo ma túy đi bán. Khoảng 11 giờ 25 phút, M điều khiển xe máy đến điểm hẹn để giao ma túy cho khách, khi đến khu vực lô đất CX2 khu đô thị V liên lạc gặp khách mua rồi lấy ra 01 túi TOBACO định đưa cho người này thì bị cơ quan công an phát hiện và bắt giữ còn khách mua ma túy thì bỏ chạy thoát.
Mở rộng điều tra, M và D khai nhận ngoài lần bán ma túy ngày 29/12/2023 trước đó đã hai lần bán ma túy cho Bùi Minh T4 (sinh ngày: 01/10/1985 – HKTT: ngách C ngõ A P, phường M, quận C, Hà Nội), cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: ngày 22/12/2023 T4 sử dụng tài khoản Facebook "Bui Minh T5" vào trang “Tobaco hỏa tốc Hà Nội” thì thấy có bài đăng bán T3 của M nên để lại số điện thoại. Sau đó, M gọi điện thoại cho T4 và kết bạn zalo với nhau để giao dịch, mua bán ma túy. T4 hỏi mua 100.000 đồng ma túy và hẹn ship đến khu vực ngách C ngõ A đường P, phường M, quận C, Hà Nội. M đồng ý và thông báo tiền công ship là 50.000 đồng rồi điều khiển xe máy chở D đến gặp Lê Thị Đ mua 50.000 đồng ma túy T3. Khoảng 23 giờ 10 phút cùng ngày, M mang gói ma túy đến điểm hẹn giao cho T4 thì T4 chuyển khoản 150.000 đồng tiền mua ma túy từ tài khoản ngân hàng V, số tài khoản 0363791668 của T4 đến tài khoản ngân hàng M1, số tài khoản 0968051244 của M.
Vụ thứ hai: tương tự cách thức giao dịch như trên, khoảng 23h10' ngày 26/12/2023, M đã bán cho T4 01 gói ma túy Tobaco với giá tiền 150.000 đồng (100.000 đồng tiền ma túy và 50.000 đồng tiền công ship) tại khu vực ngách C ngõ A đường P, phường M, quận C, Hà Nội.
Tại Bản kết luận giám định số 189 ngày 05/01/2024 của Phòng K- Công an thành phố H xác định:
- Thảo mộc khô màu nâu vàng bên trong 01 túi nilon có ma túy loại MDMB – 4en – PINACA và ma túy loại ADB - BUTINACA khối lượng: 5,186 gam.
- Thảo mộc khô màu nâu vàng bên trong 03 túi nilon có ma túy loại MDMB – 4en – PINACA và ma túy loại ADB – BUTINACA, tổng khối lượng: 11,779 gam.
Tổng khối lượng ma túy là 16,965 gam ma túy loại MDMB – 4en – PINACA và ma túy loại ADB - BUTINACA.
Ngày 30/12/2023, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lê Thị Đ tại địa chỉ số nhà CM, ngõ G B, phường B, quận H, Hà Nội, thu giữ:
- 355 túi nilon (kích thước 4x7 cm) đều chứa thảo mộc khô màu vàng nâu nghi là ma túy Tobaco;
- 01 túi nilon (kích thước 5x10 cm) chứa thảo mộc khô màu vàng nâu nghi là ma túy Tobaco;
- 01 túi nilon (kích thước 7x15 cm) chứa thảo mộc khô màu vàng nâu nghi là ma túy Tobaco;
- 01 túi nilon màu đen chứa thảo mộc khô màu vàng nâu nghi là ma túy Tobaco;
- 25 điếu thuốc vỏ giấy màu trắng, đầu lọc ghi chữ Fresh Bomb đều chứa thảo mộc khô màu vàng nâu nghi là ma túy Tobaco.
Tại Kết luận giám định số 234 ngày 06/01/2024 của phòng KTHS - Công an thành phố H xác định:
- Thảo mộc khô màu vàng nâu bên trong 355 túi nilon (kích thước 4x7 cm) đều có ma túy loại MDMB – 04en – PINACA, tổng khối lượng: 1296,41 gam.
- Thảo mộc khô màu vàng nâu bên trong túi nilon kích thước 5x10 cm và túi nilong (kích thước 7x15cm) đều có ma túy loại: MDMB - 04en - PINACA, tổng khối lượng: 122, 97 gam.
- Thảo mộc khô màu vàng nâu bên trong 25 điếu thuốc vỏ giấy màu trắng, đầu lọc ghi chữ Fresh Bomb đều có ma túy loại MDMB - 04en - PINACA, tổng khối lượng: 28, 77 gam.
- Thảo mộc khô màu vàng nâu bên trong túi nilon màu đen có ma túy loại MDMB - 04en – PINACA, tổng khối lượng: 1461, 70 gam.
Tổng khối lượng ma túy là 2909, 85 gam ma túy loại MDMB – 04en – PINACA.
Quá trình điều tra xác định: Từ năm 2018 con gái Lê Thị Đ là Nguyễn Thị Bích L (SN: 1980) đã mua Tobaco về bán tại nhà số nhà C M ngõ G B, phường B, quận H, Hà Nội. Đến tháng 4/2019 L chết, từ đó Đ tiếp tục nhập ma túy T3 về bán cho khách để kiếm tiền, người bán ma túy cho Đ thì Đ không biết là ai vì Đ bán tiếp từ con gái, cứ khoảng 4-5 ngày có người sẽ đến nhà giao khoảng 50 túi nilong ma túy Tobaco cho Đ (giá gói nhỏ Đ mua là 45.000/túi – Đông bán cho khách 50.000đồng/túi; gói to mua 95.000đồng/túi – bán 100.000đồng/túi) và thanh toán bằng tiền mặt, số ma túy chưa bán hết Đông gom lại cất giữ tại nhà để bán dần, khách mua sẽ trực tiếp đến nhà Đ để giao dịch mua bán ma túy. Khoảng 9h sáng ngày 29/12/2023, Đ đang ở nhà thì có D và M đến trước cửa nhà hỏi mua 04 túi ma túy với giá 400.000 đồng; Đ lấy 04 túi ma túy T3 đưa cho D và nhận lại 400.000 đồng tiền mặt.
Ngoài ra ngày 22/12/2023 và ngày 26/12/2023, Lê Thị Đ còn bán trái phép cho Phạm Đức D và Nguyễn Ngọc Quang M mỗi ngày 50.000 đồng tiền ma túy loại MDMB - 4en - PINACA tại số nhà CM, ngõ GB, phường B, quận H, Hà Nội.
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Janus gắn BKS: 29H1-901.46, SK: RLCSEC820HY057737, SM: E3Y8E057739 xác định: Xe có nguồn gốc hợp pháp, tra cứu tại Công an quận N xác định chủ sở hữu là chị Nguyễn Thu H1 (Sinh năm 1984, HKTT: Tổ G phường T, quận H, TP Hà Nội). Chị H1 khai mua chiếc xe máy trên từ năm 2017 với giá tiền là 30.000.000 đồng. Do không còn nhu cầu sử dụng nên sau đó chị H1 bán lại cho một người không quen biết với giá tiền là 20.000.000 đồng. Phạm Đức D khai mượn chiếc xe máy trên của mẹ đẻ là chị Nguyễn Thị Bích T2 (Sinh năm: 1978, HKTT: phường T, quận N, TP Hà Nội) để đi lại, phục vụ sinh hoạt cá nhân, khi mượn D không nói với chị T2 về việc đã sử dụng xe để đi mua bán ma túy. Chị T2 khai mua chiếc xe máy trên tại một cửa hàng bán xe máy vào năm 2017 tuy nhiên không xuất trình được giấy đăng ký xe do đã làm mất. Cơ quan điều tra đã tiến hành trưng cầu giám định tại V1- Bộ C2 xác định số khung, số máy của xe là nguyên thủy và tra cứu tại phòng PC02- Công an T xác định chiếc xe máy trên không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng.
Về khách mua ma túy của M ngày 29/12/2023: Cơ quan Công an đã tiến hành rà soát hiện trường, rà soát nhân chứng và camera quanh khu vực lô đất CX2 khu đô thị V, phường M nhưng không xác định được nên Cơ quan điều tra chưa có căn cứ xác minh làm rõ.
Đối với Bùi Minh T4: T4 mua ma túy để sử dụng cho bản thân và đã sử dụng hết số ma túy đã mua, xét nghiệm nước tiểu cho kết quả âm tính với ma túy nên không đủ căn cứ để xử lý.
Về nguồn gốc số ma túy thu giữ của Lê Thị Đ: Đ khai mua của một nam thanh niên không quen biết tại nhà của Đ với giá tiền là 9.000.000 đồng. Trước đây người này thường bán ma túy cho con gái của Đ; sau khi con gái chết thì Đ mua để bán kiếm lời. Do Đ không rõ nhân thân lai lịch của người này nên không có căn cứ xác minh làm rõ.
Về dân sự: chị Nguyễn Thị Bích T2 có yêu cầu xin được nhận lại xe máy Yamaha Janus gắn BKS: 29H1-901.46.
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Ngọc Quang M, Phạm Đức D, Lê Thị Đ đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên; lời khai của các bị can phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người liên quan và các tài liệu khác trong hồ sơ vụ án.
Tại bản cáo trạng số 88/CT-VKS ngày 09/4/2023 Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội đã truy tố Lê Thị Đ, Nguyễn Ngọc Quang M và Phạm Đức D về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố và xin được giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo theo nội dung bản cáo trạng, sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:
- Điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm h Khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự; đề nghị xử phạt bị cáo Lê Thị Đ từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù;
- Điểm b khoản 2 Điều 251; Điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54; Điều 90; Điều 91; Điều 101; Bộ luật hình sự; đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Quang M từ 04 năm 03 tháng đến 04 năm 06 tháng tù;
- Điểm b khoản 2 Điều 251; Điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54 Bộ luật hình sự; đề nghị xử phạt bị cáo Phạm Đức D từ 05 năm 06 tháng đến 05 năm 09 tháng tù.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật hình sự; Điều 89, 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy:
- 02 (hai) phong bì niêm phong còn nguyên vẹn tại các mép dán có chữ ký niêm phong của Nguyễn Ngọc Quang M và giám định viên;
- 05 (năm) hộp giấy niêm phong còn nguyên vẹn tại các mép dán có chữ ký niêm phong của Lê Thị Đ và giám định viên
Tịch thu xung công quỹ nhà nước:
- 01 (một) điện thoại di động Iphone 11 màu trắng lắp thẻ sim;
- (Điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra được chất lượng bên trong).
- 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Mastel màu xanh không lắp sim;
- (Điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra được chất lượng bên trong).
Trả lại bị cáo D:
- 01 (một) điện thoại kiểu dáng Iphone 12 Promax màu xanh lắp 01 sim vỡ mặt sau; (Điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra được chất lượng bên trong).
Trả lại bà Nguyễn Thị Bích T2:
- 01 (một) xe máy nhãn hiệu Yamaha Janus gắn BKS: 29H1 – 901.46; SK RLCSEC820HY057737, SM: E3Y8E057739.
vì không liên quan đến vụ án.
Theo Biên bản giao nhận vật chứng số 179 ngày 17/4/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận N và Chi cục thi hành án quận Nam Từ Liêm.
Ghi nhận việc gia đình các bị cáo D, bị cáo M nộp tiền thu lợi bất chính cho các bị cáo mỗi người 100.000 đồng, gia đình bị cáo Đ nộp tiền thu lợi bất chính 500.000 đồng.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an quận N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự. Tại quá trình điều tra, các bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đã khai nhận:
Khoảng 11 giờ 50 phút ngày 29/12/2023, tại khu vực lô đất CX2 khu đô thị V, N, Hà Nội, Phạm Đức D, Nguyễn Ngọc Quang M đã có hành vi mua 16,965 gam thảo mộc khô có chứa ma túy loại MDMB - 4en – PINACA và ma túy loại ADB – BUTINACA của Lê Thị Đ tại số nhà CM, ngõ G B, phường B, quận H, Hà Nội sau đó bán trái phép ma túy 5,186 gam thảo mộc khô có chứa ma túy loại MDMB – 4en - PINACA và ma túy loại ADB – BUTINACA cho 01 nam thanh niên (chưa rõ nhân thân) và tàng trữ 11,779 gam thảo mộc khô có chứa ma túy loại MDMB – 4en – PINACA và ma túy loại ADB – BUTINACA mục đích để bán thì bị tổ công tác công an phường Đ bắt quả tang cùng vật chứng.
Quá trình điều tra xác định, Nguyễn Ngọc Quang M và Phạm Đức D còn thực hiện 02 lần bán ma túy cụ thể:
Khoảng 23h10 ngày 22/12/2023 và khoảng 23h10 ngày 26/12/2023, Nguyễn Ngọc Quang M và Phạm Đức D có hành vi mua trái phép 50.000 đồng ma túy loại MDMB - 4en - PINACA và ma túy loại ADB – BUTINACA của Lê Thị Đ số nhà 3A M4, ngõ G B, phường B, quận H, Hà Nội sau đó bán lại cho Bùi Minh T4 với giá 150.000 đồng tại ngách C ngõ A đường P, phường M, quận C, Hà Nội được hưởng lợi 100.000 đồng. Tổng cộng D và M được hưởng lợi 200.000 đồng.
Ngoài ra Lê Thị Đ tàng trữ 2.909,85 gam ma túy loại MDMB – 04en – PINACA tại số nhà CM, ngõ GB, phường B, quận H, Hà Nội với mục đích để bán. Tổng số lượng ma túy Đ phải chịu trách nhiệm là 2.926,815 gam thảo mộc khô có chứa ma túy loại MDMB – 04en - PINACA và ma túy loại ADB – BUTINACA.
[3] Hành vi của các bị cáo Lê Thị Đ, Nguyễn Ngọc Quang M, Phạm Đức D đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự. Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm truy tố các bị cáo là có căn cứ và đúng quy định pháp luật.
[4] Hành vi phạm tội của các bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền kiểm soát các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an, di hại cho thế hệ tương lai, là một trong những nguyên nhân gây bệnh AIDS và là mầm mống của các loại tội phạm khác. Nhà nước ta đã nghiêm cấm mọi hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy, nhưng vì muốn bán kiếm lời nên bị cáo cố tình thực hiện hành vi đến cùng. Các bị cáo nhận thức rõ việc mua bán và vận chuyển chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng các bị cáo vẫn thực hiện với tính chất nguy hiểm cao. Vì vậy, cần xét xử nghiêm minh cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, nhằm đảm bảo tính giáo dục đối với bị cáo và làm bài học ngăn ngừa chung.
Vụ án mang tính chất đồng phạm giản đơn. Xét nhân thân của từng bị cáo nhận thấy:
Bị cáo Lê Thị Đ là người trực tiếp bán 16,965 thảo mộc có ma túy loại MDMB - 4en-PINACA và ADB-BUTINACA cho M và D vào ngày 29/12/2023. Ngoài ra bị cáo Đ còn 02 lần bán ma túy cho M và D vào các ngày 22, 26/12/2023 và để kiếm lời. Bị cáo phạm tội lần này là Tái phạm.
Bị cáo Phạm Đức D và M cùng nhau thỏa thuận, bàn bạc cùng nhau góp tiền mua ma túy để bán kiếm lời chia nhau. D và M cùng trực tiếp mua ma túy của bị cáo Đ. Hai bị cáo cùng bán 16,965 thảo mộc có ma túy loại MDMB- 4en-PINACA và ADB-BUTINACA vào ngày 29/12/2023. Và 02 lần ngày 22, 26/12/2023 bán ma túy cho T4 với vai trò đồng phạm.
Tuy nhiên khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét:
Tại phiên tòa, các bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, bị cáo M và D nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; gia đình bị cáo D có ông N1 là Phạm Ngọc T6 được tặng Huân chương kháng chiến hạng Ba, ông N2 là Nguyễn Duy C là Thanh niên xung phong được cấp Giấy chứng nhận, bà Ngoại Vũ Thị S1 được Ban chấp hành Hội thanh niên xung phong tặng Giấy khen vì đã có thành tích trong phong trào thi đua năm 2020, BC D đang là Sinh viên trường Đại học C1 trong quá trình học tập có Giấy khen cấp Quận về môn Điền kinh, bố đẻ là ông Phạm Ngọc T1 được khen thưởng trong phòng chống dịch Covis.
Bị cáo M có bố đẻ ông Nguyễn Ngọc S được tặng Ban liên lạc cựu chiến binh toàn quốc mặt trận V - Hà Giang – Q tặng Kỷ niệm chương đã tham gia chiến đấu phục vụ chiến đấu bảo vệ biên giới V - Hà Giang ngày 23/12/2017 số 098/KNC. Bị cáo M phạm tội khi 15 tuổi 02 tháng 15 ngày nên áp dụng các quy định về người phạm tội dưới 16 tuổi.
Các bị cáo đã hưởng lợi bất chính, cụ thể: Bị cáo Đ hưởng lợi 500.000 đông, bị cáo D hưởng lợi 100.000 đông, bị cáo M hưởng lợi 100.000 đồng. Buộc các bị cáo phải sung Ngân sách Nhà nước số tiền hưởng lợi bất chính này.
Ghi nhận gia đình bị cáo D tự nguyện nộp tiền thu lợi bất chính 100.000 đồng vào Chi cục Thi hành án quận N, Hà Nội theo Biên lai thu tiền số 009673 ngày 13/5/2024. Ghi nhận gia đình bị cáo M tự nguyện nộp tiền thu lợi bất chính 100.000 đồng vào Chi cục Thi hành án quận N, Hà Nội theo Biên lai thu tiền số 009675 ngày 13/5/2024; Ghi nhận gia đình bị cáo Đ tự nguyện nộp tiền thu lợi bất chính 500.000 đồng vào Chi cục Thi hành án quận N, Hà Nội theo Biên lai thu tiền số 009676 ngày 13/5/2024. Toàn bộ số tiền gia đình các bị cáo đã tự nguyện nộp thay cho các bị cáo vào Chi cục Thi hành án quận N được sung vào Ngân sách Nhà nước.
Nên áp dụng điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có điều kiện thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[6] Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật hình sự; Điều 89, 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy:
- 02 (hai) phong bì niêm phong còn nguyên vẹn tại các mép dán có chữ ký niêm phong của Nguyễn Ngọc Quang M và giám định viên;
- 05 (năm) hộp giấy niêm phong còn nguyên vẹn tại các mép dán có chữ ký niêm phong của Lê Thị Đ và giám định viên
Tịch thu xung công quỹ nhà nước:
- 01 (một) điện thoại di động Iphone 11 màu trắng lắp thẻ sim;
- (Điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra được chất lượng bên trong).
- 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Mastel màu xanh không lắp sim;
- (Điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra được chất lượng bên trong).
Trả lại bị cáo D:
- 01 (một) điện thoại kiểu dáng Iphone 12 Promax màu xanh lắp 01 sim vỡ mặt sau; (Điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra được chất lượng bên trong).
Trả lại bà Nguyễn Thị Bích T2:
- 01 (một) xe máy nhãn hiệu Yamaha Janus gắn BKS: 29H1 – 901.46; SK RLCSEC820HY057737, SM: E3Y8E057739.
vì không liên quan đến vụ án.
Theo Biên bản giao nhận vật chứng số 179 ngày 17/4/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận N và Chi cục thi hành án quận Nam Từ Liêm.
[7] Các Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Các Bị cáo Lê Thị Đ, Nguyễn Ngọc Quang M, Phạm Đức D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng Đ1 b Khoản 2 Điều 251; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Lê Thị Đ 08 (Tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 30/12/2023.
Áp dụng Đ1 b Khoản 2 Điều 251; Điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 90, 91, khoản 2 Điều 101, Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Quang M 04 (bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 30/12/2023.
Áp dụng Đ1 b Khoản 2 Điều 251; Điểm s, v khoản 1, 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Phạm Đức D 05 (năm) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 30/12/2023.
Về dân sự: Các bị cáo đã hưởng lợi bất chính, cụ thể: Bị cáo Đ hưởng lợi 500.000 đồng, bị cáo D hưởng lợi 100.000 đồng, bị cáo M hưởng lợi 100.000 đồng. Buộc các bị cáo phải sung Ngân sách Nhà nước số tiền hưởng lợi bất chính này.
Ghi nhận gia đình bị cáo D tự nguyện nộp tiền thu lợi bất chính 100.000 đồng vào Chi cục Thi hành án quận N, Hà Nội theo Biên lai thu tiền số 009673 ngày 13/5/2024. Ghi nhận gia đình bị cáo M tự nguyện nộp tiền thu lợi bất chính 100.000 đồng vào Chi cục Thi hành án quận N, Hà Nội theo Biên lai thu tiền số 009675 ngày 13/5/2024; Ghi nhận gia đình bị cáo Đ tự nguyện nộp tiền thu lợi bất chính 500.000 đồng vào Chi cục Thi hành án quận N, Hà Nội theo Biên lai thu tiền số 009676 ngày 13/5/2024. Toàn bộ số tiền gia đình các bị cáo đã tự nguyện nộp thay cho các bị cáo vào Chi cục Thi hành án quận Nam Từ Liêm ngày 13/5/2024 được sung vào Ngân sách Nhà nước.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật hình sự; Điều 89, 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy:
- 02 (hai) phong bì niêm phong còn nguyên vẹn tại các mép dán có chữ ký niêm phong của Nguyễn Ngọc Quang M và giám định viên;
- 05 (năm) hộp giấy niêm phong còn nguyên vẹn tại các mép dán có chữ ký niêm phong của Lê Thị Đ và giám định viên
Tịch thu xung công quỹ nhà nước:
- 01 (một) điện thoại di động Iphone 11 màu trắng lắp thẻ sim;
- (Điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra được chất lượng bên trong).
- 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Mastel màu xanh không lắp sim;
- (Điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra được chất lượng bên trong).
Trả lại bị cáo D:
- 01 (một) điện thoại kiểu dáng Iphone 12 Promax màu xanh lắp 01 sim vỡ mặt sau; (Điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra được chất lượng bên trong).
Trả lại bà Nguyễn Thị Bích T2:
- 01 (một) xe máy nhãn hiệu Yamaha Janus gắn BKS: 29H1 – 901.46; SK RLCSEC820HY057737, SM: E3Y8E057739.
vì không liên quan đến vụ án.
Theo Biên bản giao nhận vật chứng số 179 ngày 17/4/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận N và Chi cục thi hành án quận Nam Từ Liêm.
Về án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333, điều 337 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án.
|
Nơi nhận: |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM |
|
- Lưu HS, VP. |
Mai Thị H |
Bản án số 128/2024/HSST ngày 13/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 128/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Thị Đông và ĐP phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy
