TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM KỲ TỈNH QUẢNG NAM Bản án số: 128/2024/HS-ST Ngày 12-9-2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM KỲ - TỈNH QUẢNG NAM
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Thiện
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Đông
Ông Nguyễn Văn Thông
Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Quý - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Kỳ tham gia phiên tòa:
ông Huỳnh Chí Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam tiến hành mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 125/2024/TLHS-ST ngày 22 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 135/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn D; giới tính: nam; tên gọi khác: không có; Sinh ngày: 19/6/1999, tại: huyện C, tỉnh Trà Vinh; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 02/12; Nơi ĐKHKTT: ấp L, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh; Con ông: không rõ và bà: Nguyễn Thị T (sinh năm 1975, HKTT: ấp L, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh); Gia đình bị cáo có 04 người con, bị cáo là con thứ ba. Bị cáo chưa có vợ, con;
Tiền án, tiền sự: không có;
Nhân thân: ngày 25/12/2021, bị Công an phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản. Đã nộp phạt ngày 18/01/2022.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 01/7/2024, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T, tỉnh Quảng Nam. Có mặt
- Bị hại:
+ Bà Nguyễn Lương Thễ V, sinh năm: 1981, địa chỉ: khối phố F, phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt
- Người có quyền lợi,nghĩa vụ liên quan:
+ Bà Nguyễn Thị T, sinh năm: 1975, địa chỉ: Ấp L, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Chỗ ở: 1 N, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt
+ Bà Nguyễn Thị Yến L, sinh năm: 2001; Nơi thường trú: Ấp C, xã L, huyện L, tỉnh Hậu Giang. Chỗ ở hiện tại: Khu phố A, phường A, thị xã T, tỉnh Bình Dương. Có mặt.
+ Ông Nguyễn Ngọc T1, sinh năm: 2003, địa chỉ: D Lô L, Cư Xá T, phường B, quận B, thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt
+ Bà Nguyễn Thị Thanh T2, sinh năm: 1983; Nơi thường trú: số G N, phường C, Quân G, thành phố Hồ Chí Minh. Nơi ở hiện tại: A đường B, phường B, quận T, thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt
+ Bà Đoàn Thị L1, sinh năm: 1976, địa chỉ: 5 Đường C, khu phố G, phường H, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt
+ Ông Trần Mạnh N, sinh năm: 1985, địa chỉ: B H, phường H, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt
+ Ông Bùi Ngọc C, sinh năm: 1987, địa chỉ: số E đường D, khối phố F, phường H, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 3 năm 2024, do cần tiền tiêu xài nên Nguyễn Văn D nảy sinh ý định lừa đảo người khác để chiếm đoạt tài sản. D sử dụng điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A50 màu xanh, đăng nhập tài khoản Facebook có tên “Văn Dũng” của mình và đăng bài mua bán sầu riêng trên mạng để người khác tin là thật. Khi có người liên hệ mua sầu riêng thì D sẽ chiếm đoạt số tiền người mua chuyển đến mà không đưa sầu riêng như thỏa thuận.
Ngày 07/3/2024, bà Nguyễn Lương Thễ V (sinh năm 1981, trú tại Khối phố F, phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam) sử dụng tài khoản Facebook có tên “Bảo Trinh” vào trang mạng xã hội Facebook xem tin tức. Bà V nhìn thấy tài khoản Facebook “Văn Dũng” đăng bài bán trái sầu riêng nên nhắn tin M với Facebook “Văn Dũng” hỏi mua. Khi bà V nhắn tin, mặc dù bản thân không có mua bán sầu riêng nhưng để bà V tin tưởng nên D gửi hình ảnh trái sầu riêng cho bà V xem nhằm để tạo lòng tin. Sau khi xem xong, bà V hỏi D: “Giá tiền 01kg sầu riêng (loại Musaking) bán với giá bao nhiêu?”, D trả lời: “01 kg sầu riêng (loại Musaking) bán với giá 210.000 đồng”, bà V đồng ý đặt mua 51kg sầu riêng loại Musaking. Thời điểm này, D yêu cầu bà V chuyển tiền thanh toán trước thì mới gửi hàng (mục đích để chiếm đoạt), bà V tin tưởng D có mua bán sầu riêng nên đồng ý. D gửi số tài khoản 060262035703 đứng tên Nguyễn Thị T, mở tại ngân hàng S - PGD L, thành phố T (tài khoản này của bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1975, trú Ấp L, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh, mẹ ruột của D) để bà V chuyển tiền.
Sáng ngày 08/3/2024, bà V sử dụng số tài khoản 0456789777777 tên Nguyễn Lương Thễ V, mở tại ngân hàng Q (MB) chuyển khoản số tiền 10.700.000 đồng đến số tài khoản 060262035703 (D giảm cho bà V 10.000 đồng). Chuyển tiền xong, bà V chụp hình thông tin chuyển khoản thành công gửi cho D. Khi nhận đủ tiền, D nói dối với bà V: “Sáng hôm sau em sẽ gửi đủ sầu riêng cho”. Ngay lúc đó, D điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Future FI, màu trắng - đen, BKS: 59S3 - 820.24 chở Nguyễn Thị Yến L (sinh năm 2001, HKTT: Ấp C, xã L, huyện L, tỉnh Hậu Giang, người yêu của D) đến trụ ATM S gần chợ T3, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh rút số tiền 10.700.000 đồng.
Đến sáng ngày 09/3/2024, bà V tiếp tục sử dụng tài khoản Facebook “Bảo Trinh” nhắn tin qua Messenger với tài khoản facebook “Văn Dũng” để hỏi Nguyễn Văn D mua thêm 30kg sầu riêng (loại 2 M), rồi gửi đi chung với 51kg mua ngày 08/3/2024. Để tạo sự tin tưởng cho bà V, D tiếp tục gửi hình ảnh trái sầu riêng đựng trong giỏ màu xanh cho bà V xem. Sau khi xem xong, bà V hỏi D: “Giá tiền 01kg là bao nhiêu?”, D trả lời: “01kg bán với giá 160.000 đồng”, bà V đồng ý mua 30kg. D tiếp tục yêu cầu bà V chuyển số tiền 4.820.000 đồng vì D cân nhiều hơn 30kg. Bà V đồng ý và tiếp tục sử dụng số tài khoản 0456789777777 của mình chuyển số tiền 4.820.000 đồng đến số tài khoản 060262035703 đứng tên Nguyễn Thị T. Khi nhận được tiền, D nhắn tin cho bà V: “Tí em ra chuyển sầu”. Khi nhắn tin xong, D chặn tài khoản Facebook “Bảo Trinh”, không liên lạc và không chuyển sầu riêng như thỏa thuận. D điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Future FI, màu trắng - đen, BKS: 59S3 - 820.24 đến ATM S thuộc quận B, Thành phố Hồ Chí Minh để rút số tiền 4.800.000 đồng. Toàn bộ số tiền 15.520.000 đồng chiếm đoạt của bà V, D sử dụng để trả nợ và tiêu xài cá nhân hết.
Ngoài ra, với thủ đoạn tương tự, vào ngày 16/3/2024, Nguyễn Văn D còn thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt số tiền 4.740.000 đồng của bà Vũ Thị Như H (sinh ngày: 27/5/1998; số CCCD: [...], cấp ngày 14/5/2024; HKTT: Thôn A, xã L, huyện P, tỉnh Bình Phước).
* Tang vật, tài liệu tạm giữ:
- - 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Future FI, màu trắng đen, số máy JC90E0420083, số khung RLHJC7656PY110182, biển kiểm soát: 59S3 - 820.24, tên chủ xe Nguyễn Ngọc T1 (địa chỉ D Lô L, C/x T, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh) do bà Nguyễn Thị Thanh T2 (sinh năm 1983, HKTT: Số G N, Phường C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh) là quản lý tiệm C1 (Số B đường H, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh) giao nộp (ngày 17/6/2024, Nguyễn Văn D cầm cố xe mô tô nêu trên cho bà T2 với số tiền 17.000.000 đồng);
- - 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy, số 50 000537, biển kiểm soát: 59S3 - 820.24 do Công an quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp vào ngày 22/9/2023;
- - 01 (một) điện thoại Samsung Galaxy A50, không gắn sim, kiểu máy SM-A505F/DS, số seri: R58M66AAAAL, Imei (khe 1): 356646104453527; Imei (khe 2): 356647104453525;
- - 01 (một) áo khoác dài tay màu xám xanh, bên ngực trái và phía sau áo có dòng chữ adidas màu đen;
- - 01 (một) quần thun lững màu xám đen, phía trước ống quần bên trái có thêu dòng chữ “KATIE TYLER LUXURY REAL ESTATE” màu trắng;
- - 01 (một) đôi dép xỏ ngón nam, màu xám, trên quai dép có dòng chữ adidas màu trắng, nền đỏ;
- - Số tiền 16.000.000 đồng do bà Nguyễn Lương Thễ V giao nộp: đây là số tiền bà Nguyễn Thị T (mẹ của Nguyễn Văn D) bồi thường cho bà V.
Cáo trạng số 125/CT-VKSTK-HS ngày 21/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Kỳ truy tố bị cáo Nguyễn Văn D về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 BLHS.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố Nguyễn Văn D về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 BLHS.
Áp dụng: khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D từ 09 đến 12 tháng tù.
Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để xử lý vật chứng vụ án theo quy định của pháp luật.
Tại lời nói sau cùng, bị cáo nhận thức được hành vi của các bị cáo là vi phạm pháp luật, các bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Tại phiên toà, vắng mặt bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Tuy nhiên họ đã có lời khai trong hồ sơ vụ án. Việc vắng mặt những người này không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[1.2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Kỳ và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đều đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Trong quá trình điều tra và truy tố, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Kỳ truy tố.
[2.2] Đối chiếu lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo có tại hồ sơ vụ án, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác đã được Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố T thu thập có trong hồ sơ vụ án là phù hợp nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Vào các ngày 08 và 09/3/2024, Nguyễn Văn D đã đưa ra thông tin gian dối với hình thức mua bán sầu riêng trên mạng xã hội Facebook và yêu cầu chuyển tiền trước sẽ chuyển hàng sau, qua đó D đã chiếm đoạt của bà Nguyễn Lương Thễ V với tổng số tiền 15.520.000 đồng.
Hành vi trên của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Kỳ truy tố và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên toà là có căn cứ, đúng pháp luật.
[2.3] Xét tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra thì thấy:
Bị cáo có đủ năng lực nhận thức được hành vi dùng thủ đoạn gian dối đã đưa ra thông tin gian dối với hình thức mua bán sầu riêng trên mạng xã hội Facebook chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì động cơ vụ lợi, ý thức coi thường những quy định của pháp luật nên đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại trật tự công cộng, trật tự quản lý hành chính, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân và là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác, làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt nghiêm minh, tương xứng với hành vi của các bị cáo gây ra để cải tạo, giáo dục riêng đồng thời phòng ngừa chung cho xã hội.
[2.4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nghiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
- - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: vào ngày 08/3/2024, bị cáo Nguyễn Văn D thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt của bà Nguyễn Lương Thễ V số tiền 10.700.000 đồng, ngày 09/3/2024, bị cáo D chiếm đoạt của bà V số tiền 4.820.000 đồng. Do đó, bị cáo D bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015.
- - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Văn D đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; gia đình bị cáo đã bồi thường số tiền 16.000.000 đồng cho bị hại. Do đó, bị cáo D được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
- - Về nhân thân: ngày 25/12/2021, bị Công an phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản. Đã nộp phạt ngày 18/01/2022.
Những tình tiết này được Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định hình phạt.
[2.5]. Về loại hình phạt áp dụng: bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, tuy nhiên bị cáo “Phạm tội 02 lần trở lên” nên Hội đồng xét xử áp dụng loại hình phạt tù có thời hạn mới đảm bảo tính răn đe giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm.
[2.6] Về áp dụng Điều 54 của Bộ luật hình sự: Xét tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo khi quyết định hình phạt.
[2.7] Về trách nhiệm dân sự:
- - Bị hại Nguyễn Lương Thễ V đã nhận lại số tiền 16.000.000 đồng (số tiền bà V yêu cầu người nhà của D bồi thường lại số tiền mà D đã chiếm đoạt của bà V) và không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- - Bà Nguyễn Thị Thanh T2 đã nhận số tiền 17.000.000 đồng từ bà Nguyễn Thị T (mẹ của D): đây là số tiền D cầm cố xe tại tiệm cầm đồ Đại H1 do bà T2 làm quản lý. Bà T2 không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.8] Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Future FI, màu trắng đen, số máy JC90E0420083, số khung RLHJC7656PY110182, biển kiểm soát: 59S3 - 820.24, tên chủ xe Nguyễn Ngọc T1 (địa chỉ D Lô C T, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh) và 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy, số 50 000537, biển kiểm soát: 59S3 - 820.24 do Công an quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp vào ngày 22/9/2023: xe mô tô này được Nguyễn Văn D mua vào tháng 9/2023 và nhờ Nguyễn Ngọc T1 đứng tên chủ sở hữu. D sử dụng xe này để đi rút tiền chiếm đoạt của bà V. Do đó, cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước đối với xe này.
- Đối với 01 (một) điện thoại Samsung Galaxy A50, không gắn sim, kiểu máy SM-A505F/DS, số seri: R58M66AAAAL, Imei (khe 1): 356646104453527; Imei (khe 2): 356647104453525: bị cáo D sử dụng điện thoại này đăng nhập tài khoản Facebook và đăng bài mua bán sầu riêng để thực hiện thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tiền của bà V. Do đó cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
- Đối với: 01 (một) áo khoác dài tay màu xám xanh, bên ngực trái và phía sau áo có dòng chữ adidas màu đen; 01 (một) quần thun lững màu xám đen, phía trước ống quần bên trái có thêu dòng chữ “KATIE TYLER LUXURY REAL ESTATE” màu trắng và 01 (một) đôi dép xỏ ngón nam, màu xám, trên quai dép có dòng chữ adidas màu trắng, nền đỏ: đây là trang phục Nguyễn Văn D mặc trong lúc rút số tiền chiếm đoạt được của bà Nguyễn Lương Thễ V. Xét thấy những đồ vật này không còn giá trị sử dụng, do đó cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với số tiền 16.000.000 đồng: Cơ quan CSĐT Công an thành phố T đã ra trả lại cho bà Nguyễn Lương Thễ V theo Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu số 1509/QĐ-CSĐT-ĐCSHS ngày 24/7/2024 là phù hợp.
[3] Những vấn đề liên quan trong vụ án:
- Đối với hành vi Nguyễn Văn D lừa đảo chiếm đoạt số tiền 4.740.000 đồng của bà Vũ Thị Như H (sinh năm 1998, trú tại Thôn A, xã L, huyện P, tỉnh Bình Phước): Cơ quan CSĐT Công an thành phố T đã chuyển thông tin tội phạm đến Cơ quan CSĐT Công an huyện P, tỉnh Bình Phước để xử lý theo thẩm quyền là phù hợp.
- Đối với bà Nguyễn Thị T (sinh năm 1975, HKTT: ấp L, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh - mẹ ruột của Nguyễn Văn D) là người đứng tên chủ tài khoản số [...] mở tại ngân hàng S: D biết được mật khẩu của tài khoản này nên tự ý sử dụng, bà T không biết việc D sử dụng tài khoản này để lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác. Do đó, Cơ quan CSĐT Công an thành phố T không đề cập xử lý đối với bà T là phù hợp.
- Đối với Nguyễn Thị Yến L (sinh năm 2001, HKTT: Ấp C, xã L, huyện L, tỉnh Hậu Giang): L không biết việc D sử dụng điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A50 đăng nhập tài khoản Facebook “Văn Dũng” đăng thông tin mua bán sầu riêng trên mạng xã hội để lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác, khi D chở L đi rút tiền thì L không biết số tiền trên do D phạm tội mà có. Do đó, Cơ quan CSĐT Công an thành phố T không đề cập xử lý đối với Nguyễn Thị Yến L là phù hợp.
- Đối với Nguyễn Ngọc T1 (sinh năm 2003, trú tại Số D Lô L, Xư Xá T, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh - là em con cậu ruột của Nguyễn Văn D) là người đứng tên chủ sở hữu xe mô tô nhãn hiệu Honda Future FI, màu trắng đen, số máy JC90E0420083, số khung RLHJC7656PY110182, biển kiểm soát: 59S3 - 820.24: qua điều tra, xác định xe mô tô trên là do Nguyễn Văn D mua và quản lý sử dụng. Do T1 có hộ khẩu tại Thành phố Hồ Chí Minh nên D nhờ T1 đứng tên giúp để làm biển số xe. T1 không liên quan đến hành vi phạm tội của D nên Cơ quan CSĐT Công an thành phố T không đề cập xử lý đối với T1 là phù hợp.
- Đối với bà Nguyễn Thị Thanh T2 (sinh năm 1983, HKTT: Số G N, Phường C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh) là quản lý tiệm C1 (Số B đường H, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh): khi nhận cầm cố xe mô tô nhãn hiệu Honda Future FI, màu trắng đen, số máy JC90E0420083, số khung RLHJC7656PY110182, biển kiểm soát: 59S3 - 820.24 của Nguyễn Văn D mang đến cầm cố tại tiệm C1, mặc dù D không đứng tên trên giấy chứng nhận đăng ký xe nhưng bà T2 biết được D là chủ sở hữu. Vì trước đó Nguyễn Ngọc T1 là người đứng tên trên giấy chứng nhận đăng ký xe có trực tiếp đến tiệm cầm đồ Đại H1 để ký giấy cầm xe và nói cho bà T2 biết D là chủ sở hữu của xe mô tô trên. Do đó, Cơ quan CSĐT Công an thành phố T không đề cập xử lý đối với bà T2 về hành vi cầm cố tài sản không chính chủ là phù hợp.
[4] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 174; các điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D 09 (Chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 01/7/2024.
2. Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, tuyên:
- + Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) áo khoác dài tay màu xám xanh, bên ngực trái và phía sau áo có dòng chữ adidas màu đen; 01 (một) quần thun lững màu xám đen, phía trước ống quần bên trái có thêu dòng chữ “KATIE TYLER LUXURY REAL ESTATE” màu trắng và 01 (một) đôi dép xỏ ngón nam, màu xám, trên quai dép có dòng chữ adidas màu trắng, nền đỏ.
- + Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Future FI, màu trắng đen, số máy JC90E0420083, số khung RLHJC7656PY110182, biển kiểm soát: 59S3 - 820.24; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy, số 50 000537, biển kiểm soát: 59S3 - 820.24 do Công an quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp vào ngày 22/9/2023 và 01 (một) điện thoại Samsung Galaxy A50, không gắn sim, kiểu máy SM-A505F/DS, số seri: R58M66AAAAL, Imei (khe 1): 356646104453527; Imei (khe B): 356647104453525.
(Vật chứng được tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tam Kỳ theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản lập ngày 22/8/2024).
3. Căn cứ Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Buộc bị cáo Nguyễn Văn D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 12/9/2024). Người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 9 luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được quy định theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Quốc Thiện |
Bản án số 128/2024/HS-ST ngày 12/09/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 128/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Văn D - Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
